Xã hội địa phương và mối quan hệ Danka trong cấu trúc cai trị của Mạc Phủ (3)


Tạp chí nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản số 28 tháng 3,4 năm 2001

Xã hội địa phương và mối quan hệ  Danka trong cấu trúc cai trị của Mạc Phủ

Tác giả: TAMAMURO Fumio

Bài báo này ban đầu được công bố trong TAMAMURO 1999, trang 178-223. Đây là bản dịch tiếng Anh cho JJRS thực hiện bởi Holly Sanders và được biên tập lại bởi tác giả.

Nguyễn Quốc Vương dịch sang tiếng Việt.

 

Homyo và Kaimyo.

 

Ở đây tôi sẽ vẽ ra Zenshu ingo dogo kaimyo jiten, thứ chứa thông tin chi tiết về dạng thức ban cho pháp danh  và kaimyo, đặc biệt trong các môn phái Thiền (EGAKU 1989, trang 11-13). Dạng thức dành cho homyo là như dưới đây ( tuổi nằm trong Kazoedoshi hoặc đếm kiểu Nhật)

 

Khi trao tặng một Ingo (Viện hiệu)

XX in (ingo) YY (dogo-đạo hiệu) ZZ (homyo/kaimyo) koji-cư sĩ (daishi đại tỉ)

Khi không trao tặng một Ingo

YY (dogo) ZZ (homyo/kaimyo) koji (daishi)

Ingo (viện hiệu): Một sự kính cẩn được dùng để diễn tả sự kính trọng đối với người có thành tựu thế tục. Những cái tên như ken, an, sha, sai, do, en được coi như ingo. Thứ hạng cao hơn là cái tên inden daikoji (Viện điện đại cư sĩ) nhưng nó được giới hạn chỉ dành cho tướng quân và daimyo trong thời Edo.

Dogo (đạo hiệu): thường sử dụng hai ký tự dưới ingo và trên homyo

Homyo (kaimyo-Pháp danh): có hai ký tự

Igo (vị hiệu) tiếp nhận sự phụ thuộc vào chiều sâu của sự tận tụy và lòng mộ đạo của người chết.

Daizenjomon (Đại thiền định môn)/ Daizenjoni (Đại thiền định ni): được trao cho gia đình người sáng lập và tướng quân (shogun)

Daikoji (Đại cư sĩ)/Shodaishi (Thanh đại tỉ): tương ứng với indengo. Trong vài trường hợp được dùng như ingo.

Koji (cư sĩ)/Daishi (đại tỷ): được trao cho những người đàn ông và phụ nữ  có vị trí xã hội cao và những người dâng nộp các dịch vụ đặc sắc cho môn phái hoặc chùa.

Shinji (tín sĩ)/Shinnyo (tín nữ): được trao cho  những người đàn ông và phụ nữ trên 15 tuổi người đã học tập tôn giáo mà không gia nhập một cách chính thức vào thứ bậc và dành cho những ai có pháp danh khi vẫn còn sống.

Zenjomon (thiền định môn)/Zenjoni (Thiền định ni): Ban đầu được trao cho những người đàn ông và phụ nữ những người chính thức gia nhập trật tự nhưng sau đó được trao cho những ai qua tuổi 30 đặt dưới shinji và shinnyo. Đối với các cá nhân dưới 20 tuổi thì danh hiệu là zenmon và zenni.

Bên cạnh như trên, homyo đặc biệt được dành cho trẻ em tùy thuộc vào tuổi của chúng.

Doji (đồng tử)/Dojo (đồng nữ): được trao cho các bé nam và bé nữ từ 4 đến 14 tuổi.

Gaiji (hài tử/hài nhi)/ Hài nữ: được trao cho các bé nam và bé nữ từ 2 đến 3 tuổi.

Eiji (Anh tử) Eijo (Anh nữ): được trao cho các bé nam và nữ những người đã chết trong năm được sinh ra; các trẻ em dưới một tuổi.

Mizuko (thủy nữ): được trao cho các thai nhi bị sẩy hoặc chết khi sinh

Ở trên là homyo được dùng tới tận ngày nay. Trong khi homyo dành cho trẻ em  là không phân biệt, nhiều loại phân biệt đối xử được tạo ra khi trao homyo cho những người đàn ông và phụ nữ trưởng thành. Trụ trì tiến hành lựa chọn dựa trên nền tảng của các tiêu chuẩn mập mờ như dòng dõi, sự giàu có, vị trí xã hội và sự cúng tặng dành cho chùa hay môn phái. Điều này quả thật là một thủ tục rắc rối.

Tiếp theo, tôi sẽ quan tâm tới tình hình thật sự liên quan đến kaimyo trong thời kỳ Edo. Cùng với sự chuẩn bị cho đăng ký báo tử, thứ hạng của kaimyo cũng thể hiện các khó khăn. Sự tương ứng dưới đây, đối với và  xuất phát từ quan tòa của các ngôi chùa và đền thờ Thần đạo  liên quan đến phái Soto (YOKOZAKI 1938, trang 261).

 

Đáp lại một yêu cầu

Không có tiền lệ chính thức nào dành cho ban tặng danka homyo của bậc koji và daishi trong phái Soto. Thậm chí ở bên trong môn phái, không hề có các nguyên lý tôn giáo dành cho việc phân biệt thứ bậc dựa trên nền tảng của sự quý trọng và sự chế nhạo nhưng danka lớn như daimyo và các lãnh chúa trang viên thường nhận được indenkoji (đàn ông) và iden daishi (phụ nữ). Các nhà bảo trợ sáng lập hay các danka mộ đạo đã có đóng góp đặc biệt nhận được koji và daishi. Những cái tên này không giới hạn đối với những người có địa vị võ sĩ. Đôi khi koji và daishi được tặng cho danka có dòng dõi lâu đời nhưng người ta không thể dễ dàng nhận một trong số này chỉ bằng cách đưa ra yêu cầu. Nếu một danka đệ trình một trong số các lý do trên và đưa ra đề nghị và thực hiện cúng tiến để có được sự giác ngộ đạo Phật thì họ sẽ được ban tên nếu điều đó là không thể tránh. Thậm chí sau đó danh tiếng của dòng dõi danka cũng tăng lên. Sau đó (cái tên mong muốn) có thể được ban tặng. Những ai có địa vị nông dân hay thấp hơn nhận zenjomon và zenjoni; koji và daishi bị cấm nghặt. Bất chấp thứ bậc, tất cả trẻ em được ban hogo (pháp danh) là doji hay dojo.

Tháng 2 năm Horei thứ 9, năm Thỏ (1759).

 

Tư liệu này, thứ là một phần của Jisha saikyo mondo nói lên bản chất rằng không có mệnh lệnh của mạc phủ đối với kaimyo và rằng luật tăng lữ chắc chắn đã không tạo ra sự khác biệt nào dựa trên thứ bậc đối với phái Soto. Tuy nhiên, thông thường thì daimyo mà các nhà bảo trợ được tặng các tên như inden koji và inden daishi. Những nhà bảo trợ lớn (những nhà tài trợ đầy quyền lực) và các tín đồ trung thành không chỉ giới hạn trong tầng lớp võ sĩ nhận các tên như koji và daishi. Thêm nữa, các gia đình có dòng dõi lâu đời đôi khi cũng nhận được các tên này. Rõ ràng là người ta không thể đơn giản đòi hỏi một cái tên và trông đợi yêu cầu này ngay lập tức được chấp nhận nhưng nếu người đó đệ trình lên lý do đối với từng loại được đề cập ở trên và cúng tiến để đảm bảo sự cứu rỗi linh hồn thì yêu cầu sẽ được quan tâm, được đáp ứng thứ mà ngày sinh và chữ không chê vào đâu được. Những ai thuộc về tầng lớp nông dân và thấp hơn được ban tặng các tên như zenjomon và zenjoni; các tên như koji và daishi không được phép. Bất chấp địa vị, trẻ em nhận được các tên như doji và dojo.

Tiếp theo, tôi sẽ quan tâm đến  nội dung của tài liệu này. Trước hết, các tên inden koji và inden daishi có nghĩa được dành cho các nhà bảo trợ đầy quyền lực như daimyo, có thể thấy khi nhìn vào các bia mộ hay các đăng ký báo tử còn lưu lại. Tuy nhiên, những gì tôi muốn đặt vấn đề là sự ban hành quá mức các tên của thứ bậc tiếp theo: koji và daishi. Để nhận được tên thuộc thứ bậc này, đoạn văn đề cập đến 4 điều kiện: 1, người sáng lập gia đình; 2, tín đồ ngay thật ; 3, dòng dõi gia đình lâu đời; 4, cúng tiến tiền để được cứu rỗi linh hồn. Trong số đó, điều kiện thứ 2 và thứ 4 rất khó tìm hiểu. điều kiện thứ hai không xác định những gì bao gồm “sự ngay thật”  hoặc nói một cách khác một “việc làm tốt”. Ví dụ như, nó không nói dứt khoát liệu việc cúng tiến một chiếc chuông, một pho tượng hay đồ thờ cúng hoặc đóng góp để sửa chữa hay xây dựng chùa hay thậm chí cúng tiến đất đai có được tính là một hành động ngay thật hay không. Tương tự như vậy, điều kiện số 4 không xác định số lượng tiền. Người ta có thể cho rằng 2 và 4 quan tâm đến độ lớn của đóng góp đối với ngôi chùa. Hoặc chúng có thể bao gồm sự quan tâm đến dòng dõi của danka. Một vấn đề khác liên quan đến việc quy các tên như zenjomon và zenjoni cho những người thuộc tầng lớp nông dân và những người có địa vị thấp hơn. Từ một góc độ khác, người ta phải hỏi tại sao quan tòa của chùa và đền thờ thần đạo đặt ra yêu cầu  đối với những vấn đề này. Phán đoán từ các bia mộ và đăng ký báo tử thì thấy có một vài những người nông dân-những người nhận được tên thuộc thứ bậc koji và daishi hoặc shinji, shinnyo chứ không phải chỉ có zenjomon và zenjoni. Chúng tôi sẽ không nhìn qua thực tế rằng người ta có thể mua kaimyo của thứ bậc nhất định  phụ thuộc vào việc họ dùng bao nhiêu tiền.

Một lệnh cấm mà mạc phủ ban hành ở mức độ nhỏ sau đó vào năm 1831 quan tâm tới sự ban hành quá mức homyo, ingo và kojigo và dựng một số lượng lớn bia mộ.

 

Gần đây người ta nghe rằng những người nông dân và những người dân thành phố tiến hành những đám tang quy mô lớn không phù hợp với địa vị của họ, rằng họ dựng các bia lớn tại nghĩa địa và rằng họ đã nhận kaimyo thuộc thứ bậc ingo và kojigo. Từ nay về sau, những người nông dân và những người dân thành phố, thậm chí là những người giàu có và đặc biệt cũng sẽ không được làm đám tang tổ chức bởi trên 10 nhà sư. Họ cũng phải cúng tiến tương xứng với quy mô đất đai họ có. Chiều cao và chân đế của bia mộ giới hạn tới 4 shaku và họ không được nhận kaimyo thuộc thứ bậc ingo và kojigo. Các bia mộ hiện có được để nguyên trạng nhưng khi sửa chữa chúng kaimyo như ingo và kojigo phải bị xóa đi. Các bia mộ phải được điều chỉnh bằng cách này.

 

Bảng 1. Homyo (kaimyo) giá cả dành cho phái Ji

Homyo                       Price                               đổi ra koku

Goago                        vàng 7 ryo 2 bu                 4.97

Daiichigo                    vàng 7 ryo 2 bu           4.97

Ingo                           2 bu                          .33

Kakuago                    bạc 3 đồng                   1.42

Kojigo                       bạc 3 đồng                   1.42

Daishigo                   bạc 3 đồng                  1.42

Toichigo                   bạc 2 đồng                   .95

 

Tiếp theo tôi muốn quan tâm tới tình hình thực tế liên quan đến việc định giá kaimyo.

 

 

 

Giá cả của Kaimyo

Có một tài liệu gọi là “Phí dành cho tên của những người thế tục” (zaike no hogo gomen hosharyo) được viết bởi trụ trì Ippo của chùa Shogan-ji thuộc phái Ji (một ngôi chùa thuộc phái Ji chi phái Yugyo ở Kurokoma, tỉnh Kai) năm 1712. Tư liệu này chỉ ra thứ bậc và giá cả đối với các tên Yugyo Shonin ban cho những người thường khi ông làm cuộc hành hương vòng quanh đất nước (xem bảng 1)

Theo bảng này, các tên như Goago (dành cho đàn ông) và Daiichigo (dành cho phụ nữ) là đắt nhất với giá 7 ryo 2 bu hoặc 4 koku, 9 to, 7 sho (745.5kg). Một cách ngẫu nhiên, những cái tên chung đối với tất cả các phái, koji dành cho đàn ông và daishi dành cho phụ nữ giá từ 3 đồng bạc hoặc 1 koku 4 to 2 sho (213 kg). Ingo kaimyo giá 2 bu hoặc .33koku nhưng trên thực tế koji hoặc daishi sẽ được đính kèm vì vậy giá thực tế là 1 koku 7 to 5 sho.

Vào ngày 4 tháng 10 năm 1712, trụ trì chùa Hojozi (làng Miharu, huyện Tamura, tỉnh Fukushima) đi tới Saiko-ji (Nakamura, ngày nay là thành phố Soma) nơi Ippo Shonin đang ở. Ở đó ông đã  ban tặng “koji cho 1 người và daishi cho 2 người với giá 6 ryo 3 bu (TAMAMURO 1977, tập 1). Koji và daishi mỗi thứ giá 2 ryo 2 bu cho mỗi người. Đổi ra giá gạo năm đó, số lượng này đại thể tương đương 1 koku 5 to, đắt hơn một chút so với mức 1 koku 4 to 2 sho được liệt kê trong bảng 1. Thậm chí ở giá đó, các tên rõ ràng có thể bán được.

Thêm nữa, nhìn vào trường hợp của phái Soto ở Kanto, một tư liệu từ 1831 chỉ ra rằng ingo, kengo và ango có giá từ 3 đến 5 ryo (xấp xỉ từ 2 koku 4 to tới 4 koku 4 to); koji và daishi có giá 1 ryo (8 to 8 sho); shinji và shinnyo có giá 2 kanmon (4 to 4 sho); và hai chữ kaimyo được thêm vào zenjomon hay zenjoni có giá 1 kanmon (2 to 2 sho). Không có thứ nào trong đó rẻ. Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng chừng nào homyo được quan tâm, những cái tên goago và daiichigo sẽ rẻ hơn trong phái Soto so với trong phái Ji. Tuy nhiên, những kaimyo dành cho phái Ji có thể sánh với các kaimyo được biết đến như indengo trong các phái khác. Nhìn vào ingo kaimyo được ban tặng bởi cả hai phái, với giá 2 koku 4 to tới 4 koku, phái Soto là tương đối đắt khi so với 1 koku 7 to 5 sho trong phái Ji. Koji và daishi thay đổi từ 1 koku 4 to 2 sho tới 1 koku 5 to trong phái Ji so sánh với 8 to 8 sho trong phái Soto; do vậy các thứ bậc này đắt hơn trong phái Ji.

Sự thay đổi theo thời gian trong Kaimyo (Homyo) và sự dao động của giá cả làm cho việc so sánh giá của Kaimyo trở nên khó khăn. Tuy nhiên vấn đề thực sự, nằm ở thực tế rằng thứ bậc của một kaimyo (Homyo) phụ thộc vào mức độ giàu có của người đó. Nói một cách khác, sự đóng góp kinh tế của danka có tương quan với thứ bậc của phật ở thế giới bên kia. Kaimyo đã chỉ cho chúng ta thấy rằng sự phân biệt đối xử tôn giáo dựa trên vị trí xã hội, dòng dõi và thân phận vẫn tiếp tục trong thế giới sau khi chết. Ở bất cứ hạng nào, nếu không có thứ gì khác là chắc chắc, chúng ta có thể chắc rằng bằng việc chỉ định thứ bậc danka, các nhà sư của các chùa chi nhánh đã thực hiện ý đồ của chính họ nhằm vào mục đích kinh tế, thậm chí người đứng đầu ngôi chùa tìm cách để lợi dụng điều đó. Kiểu thứ bậc của kaimyo này trở nên nổi bật vào khoảng năm 1735, thời gian khi hệ thống danka được hình thành.

Tiếp theo, tôi muốn quan tâm liệu danka có thể thay đổi sự gia nhập vào chùa. Luật về chùa của Mạc phủ năm 1665 có chứa từ gợi ý rằng dẫu có thụ động nhưng danka có thể thay đổi sự gia nhập vào chùa theo sự tự nguyện. Nhưng liệu đây có phải là một trường hợp thực tế?

 

Danka và các chùa gia đình

 

Ở đây tôi muốn quan tâm tới mối quan hệ giữa các chùa gia đình và danka, thứ đã hình thành từ từ trong thời Edo, thay đổi trong những năm cuối của thời kì cận thế như thế nào. Đặc biệt, tôi muốn tập trung vào mối quan hệ quyền lực, bắt đầu với vấn đề về việc các ngôi chùa từ chối sản xuất các chứng chỉ đăng ký vào chùa dành cho các danka nhất định.

Sự ra đời của hệ thống danka đã đem lại cho các chùa quyền lực đối với danka. Các chùa bắt đầu sử dụng quyền lực này để tiến hành các biện pháp cứng rắn đối với những danka không cúng tiến và xóa bỏ các danka  phạm lỗi khỏi đăng ký gia nhập tôn giáo. Các chùa, do công dụng của Shuhanken, sẽ  dễ dàng từ chối tạo ra chứng chỉ đăng ký vào chùa, bằng cách đó mà từ chối bảo đảm rằng danka không phải là tín đồ đạo Cơ đốc. Khi điều này được tiến hành, không một thành viên nào của gia đình danka có thể chứng minh rằng ông/bà ta không phải là tín đồ Cơ đốc giáo. Những danka như thế được gọi là “bị loại khỏi sổ” hay “ngoài sổ” (chogai) và bị đưa vào đăng ký hộ khẩu dành cho hinin (Phi nhân) và trở thành nạn nhân của sự phân biệt đối xử.

Trong khoảng thời gian 10 năm, danka có thể trở lại địa vị cũ nhưng để làm điều đó danka sẽ cần phải lấy chứng chỉ đăng ký vào chùa để đảm bảo địa vị của mình từ tay trụ trì của chùa. Do đó, danka phải tặng quà cho chùa để có được ân huệ, đệ trình lời xin lỗi bằng văn bản hứa sẽ không chống lại sự mong ước của chùa lần nữa, tìm lấy một người bảo lãnh và đề nghị được tái ghi vào đăng ký gia nhập tôn giáo. Tôi muốn giới thiệu một ví dụ về người đã tiến hành quá trình này. Nông dân Sajiro từ làng Iiyama (huyện Aiko, tỉnh Sagami) đã đệ trình lời xin lỗi dưới đây tới chùa Seiren-ji (làng Sanka, huyện Aiko) của phái Ikko, chi phái Nishi Hongaji.

 

Kính cẩn trình lên lời xin lỗi tới Seiren-ji

Gần đây người ta ra lệnh rằng con bị xóa khỏi đăng ký gia nhập tôn giáo vì sự bất cẩn của con. Con hiểu rằng đó là biện pháp thích hợp. Cho tới nay con đã không tham gia vào các buổi lễ kỉ niệm ngày mất của đức Phật hoặc các nghi lễ kỉ niệm dành cho cha mẹ và tổ tiên của con. Con đã đi ngược lại các mệnh lệnh do chùa ban hành và kể  từ năm Thìn (1844), con đã không trả số thuế phải gánh. Nhiều lần chùa đã viếng thăm con tại nhà nhưng con đã tiếp đón rất thô lỗ. Bằng thái độ như thế, con đã không đóng góp bất cứ thứ gì cho việc tu sửa lại tòa nhà chính-công việc đã được trù tính gần đây. Thậm chí danka từ các ngôi chùa khác đã đóng góp nhưng con thì không. Không từ nào có thể chuyển tải được lời xin lỗi của con vì đã gây cho chùa sự tức giận. Do tất cả sự bất cẩn của con ở điểm này, con trình lên lời xin lỗi thay mặt cho nhóm con (goningumi-nhóm 5 người). Con hi vọng rằng bằng cách này hay cách khác chùa sẽ chấp nhận nó. Nếu chùa làm vậy, con sẽ vô cùng biết ơn. Từ giờ trở đi con sẽ tuân theo luật của ngôi chùa của con và của tỉnh, và con sẽ không bao giờ chống lại mệnh lệnh của chùa. Nếu chùa nhân từ thêm con vào đăng ký gia nhập tôn giáo, nó sẽ là sự phù hộ cực kì vĩ đại hơn cả thứ con xứng đáng. Khi có mối bất hòa nổi lên, con sẽ sắp xếp mọi việc như chùa mong muốn và con sẽ không bao giờ nói bất cứ điều gì đáng ghét. Đây là lời xin lỗi của con dành cho những ngày qua.

(Không rõ ngày), tháng cuối năm Koka thứ 3 (1846), năm Ngọ, Làng  Iiyama  Sajiro.

Bởi vì không có sự không nhất quán nào trong tư liệu nêu trên, cả nhóm đã đóng dấu.

Đại diện nhóm Yasaburo

(ATSUGISHI HISHOBU SHISHI HENSANSHITSU 1986, trang 907).

Từ tài liệu này chúng ta biết Sajiro đã được cảnh báo rằng ông ta sẽ bị loại bỏ ra khỏi đăng ký bởi vì ông ta đã không có sự đóng góp kinh tế  đối với chùa. Mặc dù chùa ép ông ta trả, ông ta đã không có đóng góp cho ngày giỗ Phật (bukki) và các nghi lễ kỉ niệm hàng năm dành cho cha mẹ và tổ tiên ông ta và số tiền mà mỗi danka phải chi trả hàng năm (ông ta đã không trả 3 năm trước) và số tiền dùng để tu sửa tòa nhà chính trong chùa. Nói một cách khác, ông ta đã hoàn toàn lờ đi bổn phận của một danka. Những lời phàn nàn này gắn liền với những nỗ lực của chùa  để điều hành các sự kiện của nó trôi chảy; chúng về cơ bản không liên quan tới liệu chùa có loại bỏ Sajiro khỏi đăng ký gia nhập tôn giáo hay không. Tuy nhiên, Shuhanken trao cho chùa  quyền kiểm tra xem Sajiro có phải là tín đồ Cơ đốc hay không, và chính nó giúp cho chùa quyết định giữ lại hay loại bỏ ai đó khỏi đăng ký. Nói tóm lại, bản chất của hệ thống danka ở thời cận thế là việc chùa sử dụng shuhanken để làm cho danka trở thành nền tảng của tổ chức của mình. Thêm nữa, ngôi chùa gia đình có quyền lực quyết định đối với cuộc sống hay cái chết của tất cả các thành viên của danka. Các tài liệu còn sót lại cung cấp bằng chứng cho điều này. Nếu Sajiro không viết lời xin lỗi, ông ta có thể sẽ không tiếp tục sống được; đó là tình huống thực tế của hệ thống danka. Tiếp theo tôi  muốn giới thiệu một trường hợp liên quan đến một samurai.

 

Một Samurai người bị từ chối quyền phá bỏ mối ràng buộc với chùa gia đình (ridan)

 

Hệ thống danka của thời Edo làm cho không chỉ người nông dân mà cả Samurai không thể chống lại mong muốn của ngôi chùa gia đình và phá vỡ mối ràng buộc với nó. Tôi muốn quan tâm đến ví dụ về Tanaka Sahei, một chư hầu có thứ bậc cao của vùng Kumamoto (ông ta nhận lương 4000 koku). Ngôi chùa gia đình của ông ta là Zenjo-ji của phái Soto trong phố dưới lâu đài nhưng ông cố gắng phá vỡ mối liên hệ với nó và đổi sự gia nhập của mình sang Honmyo-ji của phái Nichiren. Trước hết cho phép tôi miêu tả hai ngôi chùa.

Zenjo-ji nằm bên ngoài cổng Korai của sân lâu đài Kumamoto. Không rõ người bảo trợ sáng lập nó là ai nhưng nhà sư sáng lập là Sunden. Mặc dù ban đầu nó đặt ở Furumachi, ngôi chùa đề nghị được phép chuyển tới và chiếm lĩnh vị trí hiện tại khi Kato Kiyomasa là lãnh chúa phong kiến. Vào thời gian đó nó thay đổi tên ngọn núi của nó thành Gyokuryusan và 5 tan 3 se 9 bu (5, 277 mét vuông) đất đai của nó được miễn thuế (xem Higo, Bungo Goryoai Zenji-in Honmatsucho[1]). Ngôi chùa đứng sau chùa này (chuhonji) là Teinei-ji (tỉnh Nagato) và chùa đứng đầu của nó là Myoko-an tại Kushihi Soji-ji (huyện Fugeshi, tỉnh Noto).

Ngôi chùa khác, Honmyo-ji của phái Nichiren, là chùa đứng đầu trong hệ thống chùa phụ ở trong vùng. Kato Kiyomasa thành lập ngôi chùa vào năm 1588 và năm 1614 mộ ông ta được  chuyển từ nền lâu đài tới chùa, nơi nó được lưu giữ tới ngày nay. Trong thời của Kiyomasa, ngôi chùa đã  giữ 700 koku nhưng sau khi Hosokawa Tadatoshi trở thành lãnh chúa, nó rút ngắn lại còn 400 koku. Ngôi chùa nằm ở làng Nakao, huyện Akita và trong đó có 12 người đóng vài trò là nhà sư. Bản doanh của nó là Honkoku-ji ở Kyoto.

Cả hai chùa, những chùa đầy quyền lực được thành lập vào cuối thời trung đại đã có liên quan đến các sự kiện chính liên quan đến chính quyền trong vùng. Tanaka Sahei thông báo quyết tâm thoát khỏi chủa Zenjo-ji vào ngày 23 tháng 6 năm 1737. Đáp lại, Zenjo-ji đã từ chối đề nghị này:

Thật khó để biết làm thế nào để giải quyết yêu cầu thay đổi sự gia nhập của Tanaka Sahei. Ông ta nói với chúng tôi rằng ông ta định  đi ngược lại hợp đồng 100 năm giữa chùa và danka của ông ta và thay đổi sự gia nhập vào chùa bởi vì một lần ốm đã được chữa trị. Những sự yêu cầu như thế là không được phép.

(SHIN KUMAMOTO SHISHI HENSAN IINKAI 1996, trang 861-70).

 

Tanaka Sahei là một người tàn tật trong thời gian dài và không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Ông đã cầu nguyện nhiều nơi nhưng không thuốc nào chữa được. Vào lúc ông mệt mỏi với tất cả các biện pháp trị liệu bằng thuốc, ông đã gặp một nhà sư tên là Myoonbo từ chùa Honmyo-ji. Tiếp nhận sự điều trị từ nhà sư này, Sahei hồi phục và muốn thay đổi sự gia nhập tôn giáo từ chùa Zenjo-ji tới chùa Honmyo-ji. Tuy nhiên ông tuyên bố rõ rằng con nuôi ông sẽ duy trì nghĩ vụ với chùa Soto Zen, Zenjo-ji và sẽ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của danka với các ngôi chùa như trước đó. Zenjo-ji mặt khác, từ chối chông nhận đề nghị của Sahei thoát khỏi chùa. Dưới đây là lời giải thích của Zenjo-ji:

 

Liên quan tới đề nghị thay đổi môn phái và gia nhập vào chùa, biết rằng chùa chúng tôi không có gì sai nó không rõ ràng liệu rằng vấn đề nằm ở những lời dạy của môn phái chúng tôi, ngôi chùa hay trụ trì. Không có lý do đặc biệt nào dành cho việc dời bỏ ngôi chùa của chúng tôi. Mặc dù có vẻ như không sao nếu cá nhân dễ dàng thay đổi môn phái hay chùa của mình, nếu cá nhân này dời đi  trong nhiệm kì của tôi với cương vị như là trụ trì chùa, nó sẽ là một vấn đề lớn đối với tôi bởi vì gia đình của cá nhân này đã có mối liên hệ lâu dài và đặc biệt đối với ngôi chùa của chúng tôi với tư cách như là tín đồ…

Ý nghĩa của việc trở thành tín đồ của chùa liên quan không chỉ việc tiếp nhận một đám tang hay nhang thờ (các dịch vụ kỉ niệm) tại ngôi chùa mà tiếp nhận chứng chỉ của chùa chứng tỏ rằng ai đó không phải là thành viên của môn phái ma quỷ. Do đó, sẽ là không thể cho ai đó thay đổi sự gia nhập môn phái mà không bị trừng phạt.

 

Zenjo-ji có vị trí mà dù thế nào đi nữa nó cũng không có lỗi nên nó sẽ không cho phép Sahei thay đổi sự gia nhập vào chùa, thứ đã duy trì ở gia đình ông ta suốt 100 năm. Ngôi chùa cũng nhấn mạnh vai trò của nó như như là một điều tra viên phụ trách việc gia nhập tôn giáo. Đáp lại, Honmyo-ji đã đưa ra phản biện sau:

 

Ý kiến cho rằng mối liên hệ lâu đời giữa tăng lữ và  người thế tục là có lợi cho người thế tục trong cả thế giới này lẫn thế giới bên kia, (tôi phải nói) nếu tôi không nói dối, nó (không phải là sự phản ánh ) cảm giác thực sự của tôi. Thêm nữa, (nhà sư của Zenjo-ji nói rằng việc cắt bỏ mối ràng buộc danka đã có lâu đời) sẽ vô hiệu hóa quyền lực của phật và thần bảo vệ sinh linh nhưng bởi vì tôi nghi ngờ điều này, tôi đã hăng hái đưa ra ý nghĩ của tôi (rằng danka nên được dựa trên lòng trung thành hiện tại, và không phải đơn giản là  truyền thống của mối quan hệ thế tục với một ngôi chùa hay tăng lữ xác định nào đó). (Để đáp trả lời biện hộ của các ông về  tiền lệ vượt qua lòng trung thành hiện tại), tôi nói rằng (một vị trí như thế) sẽ làm cho nó rất khó đối với mọi người để thờ phật  và thần  thứ ban tặng sự cứu rỗi linh hồn. Nếu các ông nói rằng (việc loại bỏ mối ràng buộc của danka là vô lý, ta vặn lại bằng việc nói rằng các ông đang cưỡng ép mọi người nhận tội không  tiếp nhận phật, thần và áp đặt họ.

 

Honmyo-ji chỉ trích Zenjo-ji bằng cách khẳng định rằng bản chất của mối quan hệ của hộ gia đình đối với một ngôi chùa là dựa trên lòng trung thành hơn là dựa trên nghĩa vụ của danka đối với ngôi chùa gia đình của ông ta. Honmyo-ji đưa ra lý lẽ sau:

 

Bởi vì Luật (mạc phủ) nói rằng sự gia nhập tôn giáo phụ thuộc vào  sở thích (của chính danka), các nhà sư không được ép buộc người thế tục; do đó, liệu có phải rằng các ông đã vi phạm luật này?

 

Homyo-ji đã đưa ra một điều khoản từ Shoshu jiin hatto (Chư tôn tự viện pháp độ), một bộ luật năm 1665 được ban hành bởi Mạc phủ: “các gia đình danka nên phó thác bản thân họ cho chùa, bất chấp ngôi chùa đó là như thế nào và các nhà sư không được tranh giành tín đồ thế tục”. Từ vị trí hiếu chiến này, Honmyo-ji nhấn mạnh rằng dưới bộ luật của Mạc phủ, phá vỡ mối ràng buộc với một ngôi chùa là có thể. Sự tranh cãi này là chắc đúng nhưng điều kiện không cho phép một kết luận như thế được thực thi. Cuối cùng, lãnh địa Kumamoto đã không thể giải quyết vấn đề và cầu cứu quan tòa dành cho chùa-đền. Chức vụ của Sahei bị dỡ bỏ và ông ta bị bắt tại nhà. “hoàn cảnh của sự chuyển đổi (yêu cầu) được cho là không thích hợp, vì vậy đi cùng với nó, Sahei đã bị đưa ra khỏi nhiệm vụ của mình và bị bắt giữ tại nhà”.  Thậm chí đối với những người có vị thế như Sahei bức tường ngăn chặn phá vỡ mối liên hệ với chùa vẫn rất lớn; tự do tôn giáo không được công nhận. Người ta có thể nói rằng quyền lực của các ngôi chùa gia đình là thứ thật đáng sợ.

Như hai ví dụ ở trên, trong mối quan hệ giữa chùa và danka, ngôi chùa đã có quyền lực quá mạnh. Thêm nữa, triết lý trong tác phẩm được đề cập ở trên Gojomoku gây ra sự sợ hãi. Với tư cách như là một Samurai có thứ bậc cao nhất, Sahei là một công chức đầy quyền lực ở lãnh địa Kumamoto trong việc kiểm soát các ngôi chùa, nhưng sự đối lập với ngôi chùa gia đình của ông ta đã tước đi của ông cả vị trí xã hội và địa vị xã hội. Mặc dù nó không tuân theo logic xã hội, các ngôi chùa gia đình dường như có quyền lực để ngăn chặn thâm chí là quan tòa tôn giáo cho phép thay đổi ngôi chùa gia đình của mình. Vô số các tư liệu còn lại chứng minh rằng thái độ ngôi chùa gia đình có đối với nông dân Sajiro đề cập ở trên là tiêu biểu. Và những điều kiện có hại của hệ thống danka nằm chính trong thái độ như thế.

(còn tiếp)

[1] Tư liệu này được giữ tại Eisei Bunko của thư viên đại học Kumamoto.


Cũ hơn Mới hơn