Xã hội địa phương và mối quan hệ Danka trong cấu trúc cai trị của Mạc Phủ (2)



Tạp chí nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản số 28 tháng 3,4 năm 2001

Xã hội địa phương và mối quan hệ  Danka trong cấu trúc cai trị của Mạc Phủ

Tác giả: TAMAMURO Fumio

Bài báo này ban đầu được công bố trong TAMAMURO 1999, trang 178-223. Đây là bản dịch tiếng Anh cho JJRS thực hiện bởi Holly Sanders và được biên tập lại bởi tác giả.

Nguyễn Quốc Vương dịch sang tiếng Việt.

 

Danka lý tưởng

Tài liệu được viết như thể nó là một bộ luật của mạc phủ đã xuất hiện vào giữa thời kỳ Edo khoảng năm 1735 (năm Kyoho 20). Ban hành vào tháng 5 năm 1613 (năm Keicho 18), tài liệu có tựa đề “Gojomoku shumon danna ukeai no okite” (các luật lệ riêng về chứng nhận gia nhập tôn giáo dành cho danka) (từ dưới đây gọi là Gojomoku) hay Toshogu jugokajo là một sự giả mạo điêu luyện. Nó bao gồm Tokugawa kinreiko, thứ có nghĩa rằng thậm chí phần lớn các nhà sử học nghiên cứu luật pháp Minh Trị cũng nhầm nó như là một tư liệu luật pháp Mạc phủ (ISHII 1959, trang 2670). Nhưng chúng ta có thể suy ra rằng tư liệu này là sự giả mạo bởi vì nó  không chỉ  buộc tội những tín đồ Cơ đốc giáo mà cả các Fuju-fuse và Hiden, một thứ phái của phái Nichiren, như là tôn giáo phi chính thống bị cấm bởi mạc phủ. Trên thực tế, lệnh cấm toàn diện đối với đạo Cơ-đốc được ban hành năm 1638 (năm Kannei thứ 15), lệnh cấm đối với thứ phái Fuju-fuse năm 1669 (năm Kanbun thứ 9) và đối với thứ phái Hiden năm 1691 (năm Genroku thứ 4). Gojomoku phải được viết  không chỉ sau lệnh cấm phái Hiden năm 1691 mà còn phải sau năm 1729 (năm Kyoho 14) năm ban hành lệnh cấm Ridan, tập tục ở đó danka có thể phá vỡ mối ràng buộc với ngôi chùa gia đình. Vì vậy tư tiệu phải có niên đại không sớm hơn năm 1735 (năm Kyoho thứ 20).

Lý do lựa chọn niên đại là năm 1613 liên quan tới Lệnh trục xuất các giáo sĩ Cơ đốc (Bateren tsuihorei), thứ Tokugawa Ieyasu ban hành vào tháng 12 năm 1613. Trong tháng 2 và tháng 3 năm 1614, những người Cơ đốc giáo ở Kaga, Kyoto, Buzen và Bungo bị ép cải đạo và bị gọi là “những người Cơ đốc sa ngã” (korobi Kirishitan). Vào thời gian đó, như đã đề cập bên trên, các trụ trì đã phải tạo ra các chứng chỉ đăng ký vào chùa dành riêng cho “những người Cơ đốc sa ngã”, như là bằng chứng về sự cải đạo của họ. Tác giả của Gojomoku có xu hướng làm cho nó xuất hiện như thể Ieyasu đã xác định được cách thức xác định những tín đồ Cơ đốc và khái niệm chứng nhận đăng ký vào chùa trước khi ban hành Lệnh trục xuất các giáo sĩ Cơ đốc nhưng ông ta đã phạm sai lầm trong việc kết hợp lệnh cấm đối với việc danka phá vỡ mối ràng buộc với ngôi chùa của họ và lệnh cấm  đối với Fujufuse, Hiden. Do đó, tôi muốn đưa ra các năm xung quanh mốc 1735 (năm Kyoho thứ 20) như là niên đại có thể của tư liệu này. Rất nhiều bản sao còn được giữ lại trong các chùa và trong các bộ sưu tập địa phương. Bởi vì nội dung giống với bộ luật gia đình đã đề cập ở trên nhiều bản sao có niên đại 1687 (năm Jokyo 4). Sau đó, các đăng ký gia nhập tôn giáo đôi khi trích dẫn Gojomoku và khi danka không thích hợp với điều kiện đặt ra trong Gojomoku, các ngôi chùa đã từ chối ban hành chứng chỉ đăng ký vào chùa. Tôi sẽ giải thích điều này đã trở thành nguồn gốc của các tranh chấp giữa chùa và danka như thế nào ở phần sau. Ở đây tôi sẽ chỉ trích những phần có liên quan đến sự tuân thủ nghiêm ngặt các nghi lễ ghi nhớ tổ tiên và uy quyền của chùa.

Có bốn điều liên quan tới sự tuân thủ nghiêm ngặt các  nghi lễ nghi nhớ.

Thứ nhất:

Danka-thậm chí là người đứng đầu danka (đại diện của danka)-người không tham gia nghi lễ trong lễ kỉ niệm ngày mất  của người sáng lập môn phái, lễ kỉ niệm ngày mất của đức Phật, lễ Bon trong tuần điểm phân hoặc lễ kỉ niệm ngày mất của tổ tiên ông ta, sẽ bị loại bỏ tên khỏi đăng ký, cơ quan đảm trách tôn giáo sẽ thông báo và danka sẽ bị điều tra.

Nói một cách khác, Danka có nghĩa vụ thăm viếng chùa vào những ngày sau đây, ngày kỉ niệm ngày mất của người sáng lập môn phái, ngày kỉ niệm ngày mất của  đức Phật (bukki-Phật kị, ngày 15 tháng 2), bon (hay urabon, ba ngày bắt đầu từ ngày 13 tháng 7), ngày lễ trong tuần điểm phân (bảy ngày trước và sau xuân phân và thu phân), ngày giỗ tổ tiên và những người khác. Danka lý tưởng  không được phép quên những lễ kỉ niệm tổ tiên, phải tích cực tham gia vào các nghi lễ do chùa tổ chức và luôn thận trọng để cúng tiến thích hợp. Nếu như cho dù là một danka đầy quyền lực giống như là đại diện của danka thất bại trong chuyện viếng thăm, tên của các thành viên trong gia đình ông ta cũng như bản thân tên của gia đình có thể sẽ bị xóa bỏ khỏi đăng ký gia nhập tôn giáo. Ngôi chùa sẽ báo cáo tình hình lên người quản lý của mạc phủ người sau đó sẽ bắt gia đình đó phải chịu sự điều tra khắc nghiệt. Do vậy một vị trụ trì của chùa  người thực thi Shuhanken ở phạm vi cao nhất trên thực tế có thể loại bỏ địa vị “danka” của hộ gia đình.

Thứ hai:

Những tín đồ Cơ đốc và thành viên của Fuju-fuse vào ngày giỗ của tổ tiên không nhận đồ tang của các bậc tu hành. Vào ngày đó họ không nói gì với chùa, nhưng sau đó họ tụ tập cùng nhau với những người thế tục. Khi bậc tu hành chính thức tới họ sẽ tiếp đón ông ta bằng sự từ bỏ. Trong những trường hợp như thế việc điều tra nên được tiến hành.

Tình hình này xác định rằng có hai công việc là nghĩa vụ vào ngày giỗ của tổ tiên. Nếu một danka không có sự hoan nghênh thích hợp dành cho bậc tu hành của chùa tại buổi lễ, danka đó sẽ bị coi như là tín đồ Cơ đốc hoặc là thành viên của Fuju-fuse.

Thứ ba:

Việc tiếp nhận dịch vụ kỉ niệm hay dịch vụ tang lễ của các ngôi chùa khác bị nghiêm cấm ngoại trừ trường hợp chết ở tỉnh khác.

Ngoại trừ các trường hợp chết ở bên ngoài tỉnh, ngôi chùa gia đình có thể tiến hành các dịch vụ kỉ niệm một mình. Điều kiện này đặt ra là để ngăn cấm các gia đình thay đổi sự gia nhập vào chùa. Không tuân theo quy định này có nghĩa rằng danka sẽ bị coi như là thành viên của tôn giáo phi chính thống.

 

Thứ tư:

Những người đủ sức khỏe để đi những người không tham gia vào việc phục vụ lễ kỉ niệm tổ tiên hoặc những người lơ đễnh với sự mộ đạo sẽ bị điều tra và  sự cúng tiến mà người đó dành cho chùa sẽ bị điều tra kỹ lưỡng.

Sự chỉ dẫn vô cùng chi tiết này cảnh báo rằng ai khỏe đủ sức đi mà không tham dự lễ kỉ niệm tổ tiên hay cư xử bất cẩn sẽ bị điều tra nghiêm ngặt và sự cúng tiến của cá nhân người đó vào chùa cũng bị làm như thế.

Ở trên chúng ta thấy ý định của chùa sử dụng lễ kỉ niệm tổ tiên như là đòn bẩy đối với việc thành lập hệ thống danka. Tôi nghĩ cần phải lưu ý rằng nều một danka lơ đễnh, ngôi chùa có quyền loại nó ra khỏi đăng ký gia nhập tôn giáo, trên thực tế là đã coi hộ đó như là thành viên của tôn giáo phi chính thống.

Tiếp theo là 5 nghĩa vụ của daka.

Thứ nhất:

Danka không thực hiện nghĩa vụ mà có thái độ ích kỉ, danka không có nhu cầu tham gia vào sự gia nhập tôn giáo tiến hành bởi các bậc tu hành của chùa, và danka không thực hiện sự đóng góp  của mình với công việc của chùa sẽ bị coi như là người có niềm tin vào môn phái Fuju-fuse phi chính thống.

 

Ở đây, danka bị ép buộc phải thực hiện các nghĩa vụ của mình, một gánh nặng lao động và kinh tế được đảm nhận dành cho ngôi chùa. Danka không sử dụng sư của chùa cho Shumon ukeai (một điều tra ở đó chùa đảm bảo rằng danka không thuộc về tôn giáo phi chính thống) và danka không thực thi nghĩa vụ kinh tế, lao động đối với chùa được đánh đồng với người có niềm tin vào môn phái Fuju-fuse vốn bị đặt ngoài vòng pháp luật.

Thứ hai;

Môn phái phi chính thống là môn phái ở đó mọi người không tiếp nhận lời dạy của ngôi chùa gia đình, không hiến tiền cho nhà sư và các dự án trung tâm của ngôi chùa hoặc không chấp nhận và hiến tiền cho mọi người của các tôn giáo khác. Mọi người phải hiến tiền cho thế gian để có được sự phù hộ của thiên đường và cho bậc tu hành để có được sự phù hộ của đức Phật. Đây là chính pháp; vì thế (những danka này) sẽ bị điều tra.

Điều kiện này miêu tả logic của Fuju-fuse như “không hiến hoặc nhận từ những người không tin vào kinh Pháp hoa”. Bản thân lời phát biểu không có vấn đề gì nhưng nửa sau của quy định đòi hỏi sự biến đối. “Mọi người phải hiến tiền cho…các bậc tu hành để có được sự phù hộ của đức Phật. Đây là chính pháp”. Sự phát biểu này đóng vai trò như là lợi ích ích kỉ của ngôi chùa bởi vì ngôi chùa có thể coi danka không thực thi cách này như là thành viên của thứ phái Fuju-fuse do đó đưa họ vào sự điều tra khắc nghiệt.

Thứ ba:

Mặc dù danka có thể đã thuộc về một ngôi chùa qua nhiều thế hệ và sự gia nhập vào một trong nhiều môn phái có thể  rõ ràng, hậu duệ có thể vì một lý do nào đó mà chứa chấp niềm tin vào một tôn giáo phi chính thống và sẽ bị chùa điều tra.

 

Cho dù nhiều thế hệ của một hộ là danka của một ngôi chùa nhất định nào đó, ngôi chùa phải điều tra kỹ lưỡng kể cả là gia đình đó bởi vì con cháu có thể theo tôn giáo phi chính thống. Đương nhiên ngôi chùa không nên tin vào danka và tiến hành điều tra họ.

 

Thứ tư:

Sau khi chết khi trụ trì cạo đầu vào ban cho một kaimyo (giới danh) ông ta có thể xác định xem liệu người chết có thuộc về một môn phái phi chính thống nào hay không dựa vào diện mạo của thi hài và do có shumon ukeai ông ta sẽ  tiến hành công việc và điều tra kĩ lưỡng

 

Quy định này có nghĩa rằng một khi ai đó chết, trụ trì của chùa khi nhìn vào thi thể có thể tự do xác định sự gia nhập tôn giáo của người đó.

Thứ năm:

Cuối cùng, danka phải hoàn toàn tuân theo chỉ dẫn của ngôi chùa và hết lòng với tôn giáo.

 

Các điều kiện đã miêu tả nghiêm túc các quyền rộng lớn mà ngôi chùa có trong mối quan hệ với danka như thể là danka vui sướng thực thi các nghĩa vụ của mình do ngôi chùa đặt ra-thứ bao gồm thực hiện sự hiến tặng lớn cho bậc tu hành để chỉ ra sự tôn kính của mình đối với Phật và làm mọi thứ theo mệnh lệnh của bậc tu hành khi chết. Việc phá vỡ mối ràng buộc với ngôi chùa gia đình cũng bị cấm. Tiếp theo tôi sẽ quan tâm tới tang lễ, báo tử và Homyo (Pháp danh), thứ đôi khi khó hiểu.

Sự sản xuất đăng ký báo tử

Thật khó để xác định thời điểm trong thời Edo khi các ngôi chùa bắt đầu tạo ra các đăng ký báo tử (kakocho). Cần thiết hơn chỉ dụ của Mạc phủ, khiến cho các ngôi chùa tạo ra chúng, một hoàn cảnh làm cho việc xác định tiêu chuẩn hóa đăng ký báo tử một cách chính xác trở nên không thể.

Các đăng ký báo tử từ thời trung đại có thể được tìm thấy trong Gunsho ruiju (HANAWA 1932), thứ bao gồm bốn bộ  đăng kí báo tử sau.

1. Một bộ  đăng ký báo tử dành cho Hokke-ji (Bambashuku,  tỉnh Omi), bao gồm cái chết từ cuộc nổi loạn Genko năm 1333 và 1334. (Gunsho ruiju tập 29, trang 243-52).

2. Một đăng ký báo tử  từ Matsuoka Kamakura, tỉnh Sagami là của Tokei-ji. Nó bao gồm những cái chết bắt đầu bằng người sáng lập, ni cô Kakuzan Shido, tới người đứng đầu thứ 21, ni cô Eizan (chết năm 1707). Trong trật tự thông thường nó cũng miêu tả Kaimyo dành cho các tướng lĩnh quân đội như Shogun và các quan nhiếp chính những người phục vụ dưới trướng Minamoto Yoritomo tới thời Toyotomi Hideyoshi. Thêm nữa, nó liệt kê danh sách kaimyo dành cho Eisai, người sáng lập Jofuku-ji, Kanto, Furukawa Kubo và gia đình Kirekawa-những người có liên quan gần gũi với ngôi chùa (Gunsho ruiju tập 29, trang 245-56)

3. Một bộ đăng ký báo tử dành cho Rokutanda Rokujizo-ji (Huyện Ibaraki, tỉnh Hitachi) có chứa một số lượng lớn hai chữ Kaimyo bao gồm nhiều thứ bậc như zenjo-mon, zenjoni, zenmon và zen’ni. Các năm được thêm vào các tên là từ 1508 đến 1594 (Gunsho ruiju tập 29, trang 257-67).

4. Một bộ đăng ký báo tử dành cho Dentozan Wako-in (làng Tajima, tỉnh Hitachi) chứa một số lượng lớn hai chữ Kaimyo. Các ghi chép có niên đại vào khoảng giữa năm 1563 đến 1631. (Gunsho ruiju tập 29, trang 268-69).

Một đăng ký báo tử được cho là cổ là đăng ký dành cho các nhà sư được giữ ở Seijoko-ji, ngôi chùa đứng đầu môn phái Ji, nằm ở thành phố Fujisawa, tỉnh Kanagawa. Được biên soạn bởi các trụ trì chùa, nó bắt đầu vào năm 1279 và kết thúc vào năm 1562 ở vào đời trụ trì thứ 29-Taiko. Đăng ký báo tử có kiểu cuốn sách gập và được chia làm hai phần, một phần dành cho các nhà sư và một phần dành cho các ni cô. Nó được coi như là “đăng ký báo tử cổ” để phân biệt nó với các đăng ký báo tử mà phái Ji tiếp tục duy trì tới tận ngày nay. Ban đầu, “Đăng ký báo tử cổ” là dành cho cho các nhà sư và ni cô những người đã theo Yogyo Shonin của phái Ji nhưng sau đó nó được mở rộng tới cả các gia đình thế tục.

Mặc dù xét về mặt kĩ thuật nó không phải là đăng ký báo tử – những  thứ được gọi là Geppaicho vẫn đươc giữ ở đỉnh Koya. Tư liệu này liệt kê danh sách kaimyo của họ hàng gần gũi của những người đã cúng tiến cho các đền phụ trên núi xung quanh. Các tín đồ cúng  tiến nhiều đến nỗi sự qua đời của họ được nghi nhớ trong các lễ kỉ niệm hàng tháng. Tư liệu được phát hiện gần đây này tiết lộ rằng vào đầu thế kỉ 16, Kaimyo của những người bình thường bắt đầu được ghi chép trong đăng ký giống như là Kakocho (ghi chép sớm nhất là dành cho Geppaicho của Takamuro-in ở đỉnh Koya có niên đại 1536).

Các ngôi chùa gia đình bắt đầu sản xuất các đăng ký báo tử ghi lại kaimyo của những người bình thường rộng rãi hơn vào thời điểm nào trong thời cận thế? Những đăng ký báo tử như thế đương nhiên được nghĩ rằng theo sau sự ra đời của các chứng chỉ chứng nhận sự đăng ký với chùa và mối quan hệ chùa-danka. Mặc dù có những ví dụ của đăng ký báo tử được biên soạn từng phần từ những thông tin sao chép từ các bia mộ của chùa và từ  các tấm bài vị của nhà xác của những người bảo trợ sáng lập, các đăng ký báo tử chính thức  có niên đại sớm nhất từ 1635 và trở nên phổ biến hơn giữa các năm 1700 và 1720.

Có ba kiểu đăng ký báo tử. Một kiểu là “đăng ký báo tử hàng năm” (nenji shokei) thứ được sắp xếp theo thứ tự thời gian ngày, tháng, năm của người chết. Bậc tu hành đứng đầu ghi chép tên của từng người và tang lễ được tổ chức theo trật tự của ngày, tháng, năm. Phổ biến hơn là kiểu được biết đến như đăng ký báo tử kiểu theo lịch (kuridashi), ở đó những người chết được ghi lại theo từng ngày của tháng, từ ngày một đến ngày 30, và xếp theo thứ tự thời gian bắt đầu với ngày, tháng, năm sớm nhất. Kiểu đăng ký báo tử này  được dựa trên  thông tin được trích từ bản đăng ký hàng năm đã được đề cập ở trên. Các vị sư trụ trì, những người sẽ chỉ đạo nghi lễ buổi sáng trong lễ kỉ niệm ngày mất thường sử dụng phiên bản hàng tháng vì vậy nó được giữ trong  tòa nhà chính. Dạng thức của nó được chia thành hai hay ba phần; phần thứ nhất chỉ ra người sáng lập môn phái và các bậc tu hành cao cấp của nó cũng như tướng quân và người bảo trợ sáng lập, trong khi các phần sau miêu tả tên của người chết. Kiểu thứ ba của đăng ký báo tử được làm dành cho danka cá nhân. Trong đó ngày chết được viết lại theo trật tự người chết sớm nhất ở vị trí đầu tiên. Kiểu đăng ký báo tử này, được biết đến như “đăng ký báo tử hộ gia đình” (iebetsu) rất tiện lợi cho việc tiến hành các nghi lễ kỉ niệm hàng năm. Tuy nhiên, đăng ký báo tử theo kiểu lịch là phổ biến nhất.  Cả ba loại nói trên đều được tạo ra trong các ngôi chùa khoảng năm 1720.

(còn tiếp)


Cũ hơn Mới hơn