Xã hội chế độ trang viên và Phật giáo ( phần III)

 (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản 1996 23/3-4. )

Tác giả: Kuroda Toshio

Nguyễn Quốc Vương  dịch  từ bản tiếng Anh của Suzanne GAY

(Bài báo này được dịch từ bài báo “Shoensei shakai to Bukkyo” –Xã hội chế độ trang viên và Phật giáo-, được in lại trong Kenmitsu taiseiron- Bàn về thể chế Hiển mật, Kuroda Toshio chosaku shu 2- Tuyển tập tác phẩm Kuroda Toshio  2, Kyoto: Hozokan, 1994, trang 3-44).

Cơ sở tôn giáo đối với sự cai trị đất đai.

Được đặt trong môi trường như vậy, học thuyết Honji suijaku (Bản địa thùy tích) mà ở đó các vị phật đã hiện ra dưới dạng các vị thần  là có lợi nhất cho những người thống trị đất đai bởi vì nó đã kết nối niềm tin tự nhiên bản xứ với lời dạy của đạo Phật. Gạt sang một bên sự cân nhắc mang tính học thuyết chúng ta sẽ nhận thấy rằng nói một cách lịch sử sự phát triển của tư tưởng honji suijaku ở Nhật Bản trùng khớp với sự ra đời của hệ thống trang viên từ thế kỉ 10 tới thế kỷ 12. Điều này diễn tả rằng sự áp dụng thực tiễn của nó là sự ứng phó đối với sự cần thiết chính trị và xã hội đối với  việc hợp pháp hóa sự cai trị trang viên.

Trong ngữ cảnh của  tư tưởng honji suijaku nó là một bước dễ dàng từ niềm tin đơn giản của nông dân và võ sĩ và nỗi sợ hãi đối với các vị thần địa phương tới nỗi kính sợ và sự quy phục trước uy quyền của lãnh chúa trang viên. Các bậc tu hành các chùa chi nhánh trên vùng đất đó đã tạo ra các hồ sơ huyền thoại về các ngôi chùa và đền thờ thần đạo (duyên khởi) thứ bao gồm cả điều huyền bí của học thuyết của ngôi chùa chính với truyền thống lịch sử của các trang viên; các thông điệp được truyền lại rằng sự tiếp thu tôn giáo nguyên thủy, đơn giản của những người nông dân và lãnh chúa địa phương là tương tự về bản chất như là sùng kính đối với uy quyền lãnh chúa và rằng có một sự chứng minh mang tính lịch sử và học thuyết đối với việc phụng sự của người nông dân đối với lãnh chúa. Điều này nói một cách khách quan và lịch sử là  vai trò xã hội được cung cấp bởi những lời dạy như trên cho dù chúng đã được đề xuất trong tinh thần thiện chí, ngoan đạo bởi những bậc tu hành, nông dân và võ sĩ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa rằng các võ sĩ nông thôn thèm khát quyền lực và nông dân không có khả năng chịu đựng thực tế khó khăn của cuộc sống của họ trong mọi trường hợp được duy trì trong các học thuyết đó.

Ở mức độ  tư tưởng honji suijaku  được gắn bó với sự cai trị trang viên, nó đóng chức năng như là một bùa mê cung cấp sự ủng hộ tôn giáo đối với trật tự cai trị. Những sự khó chịu đối với sự phân cách xã hội hoặc là sự đối lập đối với sự  ra đời của sự cai trị đã tìm kiếm một con đường tư duy thứ sẽ đem lại sự giải phóng từ bùa mê này. Từ bỏ các hoạt động ma thuật, học tập trung vào các tập tục tôn giáo đặc biệt và sự trung thành đối với một vị Phật; điều này cho phép họ vượt qua niềm tin đa thần đơn giản thứ gợi ra  nỗi kính sợ trong hệ thống trang viên và để thoát khỏi những nỗ lực của các môn phái lãnh chúa tăng cường thẩm quyền của họ thông qua việc thúc đẩy tư tưởng ma thuật và chủ nghĩa hình thức. Sự chuyên tâm niệm phật (nenbutsu) của Honen và sự “chỉ cần ngồi  thiền mà thôi” của Shinran, Dogen (shikantaza) và sự đọc thuộc lòng Lotus Sutra (kinh Pháp hoa) của Nichiren  là các biện pháp tu tập riêng biệt nhưng tất cả chúng đều chia sẻ đặc điểm độc nhất và chuyên tâm của Tân phật giáo Kamakura. Tất cả đem đến “một con đường riêng không trở ngại” (muge no ichido). Từ đầu thời kỳ trung đại Tân phật giáo đã được nắm lấy nhanh chóng bởi những người có địa vị thấp trong xã hội bao gồm các võ sĩ và các phong trào tôn giáo nổi lên đối lập với quyền uy truyền thống. Khi bối cảnh tôn giáo này qua đi, sự nổi lên của các phong trào tương tự trong xã hội ở quy mô lớn hơn trở nên quen thuộc.

Sự ứng phó mang tính học thuyết của các môn phái Cựu phật giáo đối với  sự bùng nổ của Tân phật giáo là để chỉ trích “cách tiếp cận chuyên tâm và riêng biệt” là sự thiển cận, hiếu chiến và có có tính loại trừ nhằm thúc đẩy tư tưởng honji suijaku. Các phong trào nenbutsu và Zen đặc biệt bị chỉ trích vì “không thờ cúng các vị thần” (jingi fuhai-thần kỳ bất bái). Xét ở bên trong, các môn phái Phật giáo cũ đã nhấn mạnh hài hòa đến tư tưởng Shinto và cũng du nhập rộng rãi nenbutsu như là sự tu hành ma thuật.

Tất cả điều này diễn ra chống lại bức màn truyền thống kéo dài ở Nhật Bản về những lời dạy đa thần trong hệ thống tôn giáo thờ thần và nghiên cứu điểm chung các môn phái trong Phật giáo. Sự bất đồng và sự khác biệt môn phái nói chung đã được khoan dung. Các học thuyết hổ lốn mới đã nổi lên với số lượng lớn và sự khác biệt giữa chính thống và phi chính thống đã trở nên không còn rõ rệt. Trong bầu không khí như thế sự chống lại cấu trúc xã hội của hệ thống trang viên có thể dễ dàng nảy sinh.

Các ngôi chùa chi nhánh và sự suy giảm của việc cai trị hệ thống đất đai.

REPORT THIS AD

Ảnh hưởng chính trị và xã hội của các lãnh chúa trang viên trở nên suy yếu vào cuối thời trung đại đã diễn tả lý do nổi bật nằm trong sự cai trị không hiệu quả. Tại các tu viện và các ngôi chùa chi nhánh trong trang viên, các hoạt động cộng đồng làng nở rộ. Bởi vì sự kiểm soát của các lãnh chúa địa phương đối với các ngôi làng được tăng cường, sự sở hữu niềm tin đa thần, ma thuật của các ngôi chùa trang viên làm cho chúng dễ dàng đóng vai trò như là phương tiện truyền bá cho những đòi hỏi đơn giản, trực tiếp đối với võ sĩ và nông dân. Thậm chí các ngôi chùa của cùng môn phái đôi khi có vai trò khác nhau, một vài phụng sự các dòng họ võ sĩ hoặc đóng chức năng như là ngôi chùa bảo vệ đối với sự thịnh vượng của võ sĩ, và những chùa khác phục vụ như là nơi thờ cúng các hoạt động kỷ niệm của làng được diễn ra. Bất chấp sự phân chia môn phái, địa vị là chùa chi nhánh,  chúng đã phụng sự việc ủng hộ thuyết đa thần và ma thuật thứ là nền tảng đối với tôn giáo trung đại. Do vậy nó là bước khó khăn đối với các võ sĩ, nông dân để thay đổi các môn phái khác ủng hộ những đòi hỏi của họ tích cực hơn. Do đó vũ đài được dành cho Ikko Ikki và phong trào Lotus.

CÁC THÀNH PHỐ VÀ CÁC NGÔI CHÙA

Các thành phố Kenmon

Thành phố Nhật Bản trung đại đã có một vị trí  đặc biệt trong xã hội trang viên. “Đặc biệt” trong trường hợp này không có nghĩa là các thành phố hỗn tạp và khác lạ vốn là những điểm mấu chốt của toàn bộ hệ thống xã hội trang viên. Mà chỉ là các thành phố đích thực của thời kỳ này như Kyoto, Nara và Kamakura với những đặc điểm của riêng mình. Chúng không thích hợp với bất cứ mô hình đô thị tiền cận đại nào: kinh đô của nhà nước chuyên chế cổ đại, thành phố lâu đài của lãnh chúa phong kiến, thành phố tự do của thương nhân, hay thành phố chùa tại các cổng của thể chế tôn giáo lớn. Mặc dù cả ba đều có những đặc điểm nhái theo nhưng không một cái nào có thể được định nghĩa hoàn toàn như thế. Tuy nhiên chúng đã chia sẻ đặc điểm nổi bật: chúng là nơi cư trú của rất nhiều các “elite” (Kemmon), những người có uy quyền và là kẻ cai trị đứng đầu trong hệ thống trang viên. Tất nhiên, Kyoto là ngôi nhà của giới thượng lưu quý tộc trong khi sự ra đời của một vài tôn giáo lớn lại là Nara. Kamakura là cứ điểm của giới võ sĩ thượng lưu trong nửa đầu thời trung đại. Trong hệ thống chính trị ngày đó không có ai cao hơn họ. Do đó các thành phố này-ngôi nhà của giới thượng lưu có thể được gọi là các thành phố Kenmon (quyền môn).

Nói rộng ra, những thành phố này cũng là trung tâm của chính phủ, là điểm tập trung của rất nhiều các dòng họ lớn và các dòng họ chi nhánh, những người tùy tùng, những người phục vụ, là điểm thu thập thuế trang viên, trung tâm phân phối, điểm tập trung của giao thông vận tải, và là trung tâm văn hóa đối với nhiều tầng lớp. Trong thời kỳ trung đại, những nơi cơ bản sản xuất văn hóa và kinh tế và sinh khí sáng tạo là các ngôi làng tuy nhiên các thành phố lại là nơi tập trung và trao đổi kinh tế, văn hóa. Do đó, mặc dù các thành phố ăn bám, chúng đã sử dụng quyền lực như là trung tâm của toàn bộ hệ thống.

Ảnh hưởng của các thành phố đối với sự phát triển của Phật giáo trung đại là đa dạng nhưng chúng ta nên nhận ra trước hết rằng trong bản thân các thành phố đó  đã có một ý nghĩa tôn giáo. Như những cụm từ dành cho kinh đô như “thành trì hoàng gia”, “kinh đô hoàng gia” và “nơi cư trú của hoàng gia” gợi ý, chúng được coi là nơi linh thiêng. Phần lớn các tự viện như Enryaku-ji và To-ji được chỉ định như là người bảo hộ của các kinh đô hoàng gia và  tạo ra các tư tưởng thuyết phục điều này thông qua uy quyền. Nara, ngôi nhà của hai ngôi chùa lớn nhất là Todai-ji và Kofuku-ji được gọi là “kinh đô phía nam” để đặt nó ngang tầm với Kyoto. Ở Kamakura, khi chế độ shogun được thiết lập chắc chắn và sau đó mở rộng quyền lực, các ngôi chùa lớn gắn bó với quyền lực shogun đã đặt được thẩm quyền lớn. Vì vậy, phần lớn các chùa phật giáo trong các thành phố có mối liên hệ với uy quyền. Thêm nữa, nhà chức trách thành phố cấm bỏ hoặc theo một tôn giáo nào đó theo nhóm như phong trào Nenbutsu lúc đầu hay Zen, thứ thiếu sự tôn trọng thẩm quyền chính trị đã được thiết lập. Các nhân vật phật giáo những người thực sự tìm kiếm những nhà chức trách thế tục tốt hơn đã né tránh các thành phố. Mặt khác, đúng là như thế bởi vì ý nghĩa tư tưởng lớn của các thành phố mà các nhà lãnh đạo phái Lotus như Nichiren và Nichizo  được tiến hành chủ yếu ở Kamakura và Kyoto trong những nỗ lực của họ để truyền pháp tới các nhà chức trách.

Những thị dân văn hóa và tăng lữ Phật giáo

Các thành phố trung đại, với tư cách là trung tâm chính trị và ngôi nhà của các elite, được cư trú bởi hai loại người chính: các nhóm dòng dõi bao gồm các elite và các nhóm được tổ chức với rất nhiều địa vị khác nhau-những người được phục vụ và những người phục vụ. Những người được phục vụ bao gồm các thành viên của gia đình hoàng gia, dòng họ quan nhiếp chính, các hoàng đế và quý tộc đã nghỉ hưu, nhà tướng quân và các quý tộc, quan chức từ hạng trung đến hạng thấp những người phục vụ giới elite như là người làm văn thư hay công chức. Những người phục vụ bao gồm các thương nhân, thợ thủ công ban đầu được phân chia bởi rất nhiều cơ quan chính phủ và sau đó được đặt dưới sự kiểm soát của các elite nhất định. Nó cũng bao gồm các võ sĩ ở bên ngoài nhà tướng quân, những người tùy tùng và đầy tớ của họ từ các tỉnh và những thuộc cấp hạng thấp nhất như những người có sức khỏe và những người bình thường, những người đầy tớ . Địa vị của những thuộc cấp này rất khác nhau nhưng tất cả gắn bó bằng cách này hay cách khác  đối với các tổ chức dòng dõi của thực thể elite, quý tộc, tôn giáo hoặc là quân sự nào đó.

REPORT THIS AD

Đặc trưng chủ yếu của những người ở thành phố là thực tế rằng họ thiếu sự gắn kết giai tầng hoặc mối liên hệ dựa trên địa lý hoặc mối quan hệ họ hàng và đơn giản sống như các cá nhân trong sự gần gũi cơ học. Các thành phố Kenmon thiếu các tổ chức cộng đồng-đặc trưng của các làng nông nghiệp và không sở hữu các đơn vị lân cận tự trị mạnh. Và tất nhiên chúng không phải là các nhà nước thành bang (city-states) như chúng ta thấy ở Hy Lạp và Roma. Các cá nhân ở trong mối quan hệ gia trưởng thuộc cấp bởi vì họ phục vụ các elite hơn nữa mối quan hệ này không phải là thứ ổn định đặc biệt là trong trường hợp của những người phục vụ các chùa và elite quý tộc. Các quý tộc, quan chức hạng trung và hạng dưới được hỗ trợ bằng thuế trang viên chao đảo giữa giàu có và nghèo túng và mặc dù tương đối tự do trong mối quan hệ xã hội họ vẫn tiếp tục bị đe dọa bởi sự phân ly tương đối.

Một tỉ lệ đáng kể của các cư dân thành phố phục vụ trong các đền thần đạo và các ngôi chùa nhưng một số là bậc tu hành không có sự phân chia tổ chức đặc biệt. Sự hiện diện tăng lữ nổi bật này thấy rõ ở các thành phố như Nara bởi vì ở đó các các ngôi chùa lớn như Todai-ji, Kofuku-ji, cùng với các dòng họ được phân chia, các ngôi chùa và đền thờ thần đạo chi nhánh. Cũng có thể nói thế với Kyoto, nơi qua nhiều thế kỉ nhưng ngôi chùa lớn như To-ji đã hoàng gia chỉ định là người bảo hộ của quốc gia và là nơi các gia đình nhiếp chính và hoàng gia có các ngôi chùa dòng họ như sáu ngôi chùa Rikusho-ji. Cũng có các ngôi chùa mà đã phát triển vượt ra khỏi các tự viện kỉ niệm với một số lượng lớn các tu viện. Những ngôi chùa này có các văn phòng quản lý các sự kiện của tổ chức và có một số lượng lớn những người làm công có địa vị thấp và cao. Do đó họ không khác gì các elite thế tục trong sức mạnh tổ chức. Những ngôi chùa cách xa Kyoto như Enryaku-ji đã có các chi nhánh ở thành phố  hoặc ở xung quanh nơi các nhà sư quý tộc nghỉ hưu sinh sống, đã được phục vụ bởi những người làm công có địa vị thấp.

Ở Kamakura cũng vậy, các ngôi chùa của phái Hiển mật (Kenmitsu) được xây dựng với quyền lực tướng quân nhưng dưới sự che chở của các quan nhiếp chính Hojo cũng có sự xây dựng các ngôi chùa của phái Nenbutsu, Zen và Ritsu. Đặc biệt từ thời Hojo Tokiyori (1227-1263) chế độ tướng quân đã có những cố gắng lớn để mời các nhà sư phái thiền (zen) và kết quả là một loạt các ngôi chùa lớn phái Zen ra đời (Kamakura gozan-Ngũ sơn).

Các ngôi chùa cùng tăng lữ gắn với các dòng họ đầy quyền lực đã tạo nên một phần quan trọng trong sự ra đời  các tôn giáo của thành phố. Nhưng bên đó ở thành phố nhiều tăng lữ ẩn dật và những người mộ đạo đã  dẫn dắt cuộc sống thế tục nhiều hơn. Nhiều người thường dân có tuổi hoặc trung tuổi suy kiệt tài sản và đã tiếp nhận lời thề tu hành và dời bỏ một phần khỏi thế giới. Tón lại, có một số lượng đáng kể các cư dân thành phố khoác áo nhà sư.

Các quý tộc bậc trung và bậc thấp, các viên chức chính phủ và võ sĩ cùng với nhà sư và những người mộ đạo đã tạo ra tầng lớp văn hóa đô thị. Để phụng sự các elite chính trị, làm việc trong triều đình hoặc nghiên cứu Phật giáo, sự học hành ở mức độ nào đó là cần thiết. Những quý tộc ở thứ bậc cao ủng hộ các học giả, nghệ sĩ và những người biểu diễn không tính toán đến lợi ích cá nhân; tương tự như thế, triều đình, các lâu đài quý tộc và các ngôi chùa trở thành nơi giảng dạy học thuật và là nơi biểu diễn nghệ thuật, văn học. Do đó nó chính các quý tộc, tăng lữ  bậc trung và bậc thấp khác với những người bình dân khác-họ là những người được học hành, có văn hóa ở trong số những người ở thành phố. Họ đóng vai trò phức tạp trong sự thăng hoa của Phật giáo: Bởi vì phần đông họ chỉ nghiên cứu Phật giáo như là một chủ đề học thuật nhưng một vài trong số họ là các nhà sư-học giả và đã hoàn thành một cách khắc khổ việc học hành truyền thống và văn hóa quý tộc cổ điển. Họ đề cao học thuyết Phật giáo và coi trọng việc học hành bằng việc sáng tác thơ, các bài tiểu luận, các câu chuyện và tạo ra các huyền thoại của các ngôi chùa. Sự du học cùng nhau của họ với nền tảng xã hội và giai tầng đã đảm bảo sự tiếp tục của việc học tập các học thuyết khác nhau.

Nhóm này đã có xu hướng tự xem xét mình phân ly. Trái ngược với  sự  thẳng thắn, đặc trưng thái độ tôn giáo thực tế của những người nông dân quê mùa đơn giản, những người thành phố tinh tế có thể đi sâu vào bên trong nội tâm con người với sự nghiên cứu trí tuệ tinh vi. Một vài nỗ lực của họ không vượt qua giới hạn là sự tự xem xét nội tâm cá nhân nhưng trong những trường hợp khác họ đã cố gắng thấu hiểu sự trái ngược lịch sử và xã hội một cách khái quát và tính toán sự thật thích hợp với thời đại. Bởi vì những người thành phố sống ở trung tâm xã hội trung đại họ đặc biệt thích hợp với sự nghiên cứu này. Họ giúp vén bức màn khỏi sự xem xét nội tâm sâu sắc thứ là một phần của Phật giáo trung đại.

Những người bình dân thành phố và các ngôi chùa

Những người bình dân thành phố cũng có mối gắn bó gần gũi với các ngôi chùa Phật giáo. Các thành phố Kenmon, như được miêu tả dưới đây, là ngôi nhà đối với một số lượng lớn những người tùy tùng và các elite cũng như các thương nhân và thợ thủ công. Thêm nữa, có một dòng chảy liên tục của những người khách tới Kyoto từ trang viên các tỉnh vận chuyển thuế trang viên và cung cấp nguồn lao động, không kể tới những người tùy tùng và đầy tớ của các võ sĩ ở Kyoto. Những thương nhân di động, những người ăn xin, trộm cắp, những người làm nghề giải trí, những người bị xã hội ruồng bỏ cũng tụ tập ở các thành phố như Kyoto. Các ngôi chùa lớn tương đương với những ngôi nhà của quý tộc lớn cũng như những ngôi chùa có mối liên hệ với những nhà quý tộc đó đã đóng một vai trò quan trọng với tư cách là người bảo trợ trong sự thành lập của tầng lớp này của người bình dân.

Các thương nhân và thợ thủ công tạo thành một tỉ lệ đáng kể của tầng lớp bình dân thành phố và được tổ chức đặc biệt trong các phường hội. Những phường hội như thế thường đặt dưới sự bảo trợ của các nhà quý tộc lớn nhưng cũng có nhiều nhà bảo trợ tôn giáo. Đặc biệt,  những phường hội thợ mộc và những nghệ sĩ chuyên tâm về phật và những thợ vẽ-những người cần thiết cho công việc xây dựng và trang trí các ngôi chùa-được đặt dưới sự  kiểm soát của các  cơ quan phật giáo nhất định. Và trong vô số các phường hội những người biểu diễn đặt dưới sự bảo trợ của các đền thờ Thần đạo cũng có các phường hội có mối quan hệ gần gũi như là người tiến hành các nghi lễ cho các ngôi chùa phật giáo.

Tách rời khỏi mối quan hệ địa vị và các tổ chức xã hội như thế, các ngôi chùa cũng đóng vai trò chính trong đời sống kinh tế và văn hóa  của những người bình dân ở đô thị. Một số tụ tập ở các ngôi chùa để thờ cúng trong khi các thương nhân và những người hành nghề giải trí đủ loại tham dự hoạt động kinh doanh ở các cổng chùa và những người ăn xin, những người bị xã hội ruồng bỏ, những người khuyết tật cũng vậy.

Bởi vì hệ thống trang viên suy sụp vào cuối thời kỳ trung đại, các ngôi chùa không còn có ảnh hưởng đối với những người bình dân như các lãnh chúa trang viên. Tuy nhiên, với sự phổ biến rộng rãi của việc sử dụng tiền tệ, chúng đã quyết định đến sự thay đổi của nền kinh tế.

Các ngôi chùa thành phố cả lớn lẫn nhỏ tích lũy của cải bằng việc thu các loại thuế trang viên bằng tiền mặt, thu thuế quân nhu, và trong một vài trường hợp còn cho vay tiền hay phối hợp buôn bán với các con thuyền buôn bán với nhà Minh. Một vài tăng lữ nổi trội trong quản lý đã phục vụ như là các quan chức của trang viên. Nhiều ngôi chùa tiến hành cho vay nặng lãi, phần lớn giống như người nấu rượu và chứa hàng, và liên tục chống đỡ các cuộc tấn công của các liên minh  nông dân yêu cầu xóa nợ trong thế kỷ 15 và 16.

Các tòa nhà thờ cúng lân cận và các hệ thống thờ cúng tôn giáo

Đặc điểm phật giáo của các cư dân thành phố là gì? Ở Kyoto vào cuối thời kỳ Heian các cư dân bị lôi cuốn không chỉ vào hệ thống thờ cúng bí truyền thứ sử dụng ma thuật và các phép mầu mà còn bị lôi cuốn vào nenbutsu. Nói chung nenbutsu là sự tu hành ồn ào và mang tính thần chú. Thậm chí sau khi thời kỳ Kamakura bắt đầu tình hình không thay đổi lớn và mặc dù nenbutsu phổ biến rộng rãi, nhiều hệ thống thờ cúng tôn giáo hứa hẹn đem lại lợi ích ở thế giới trần tục thông qua các nghi lễ lặp đi lặp lại vẫn tiếp tục tồn tại. Và như trước đó các biện pháp tu hành như  biểu diễn dengaku (Điền lạc) và nhảy nenbutsu trên đường đôi khi leo thang thành bầu không khí điên cuồng tập thể.

Tuy nhiên giữa tất cả, mô hình cư trú mới đã được định hình ở thành phố. Từ machi (phố) được cho rằng có nguồn gốc từ tên của vùng lân cận Kuriyamachi, vùng ở Kyoto nơi các viên chức và quý tộc cư trú trong thời kỳ Heian. (vùng này cũng chứa các nhà bếp, quán trọ, nhà kho và của hàng phục vụ cung điện hoàng gia). Từ Machi dần dần tiến hóa khỏi nguồn gốc của nó có nghĩa chỉ những con đường bắc-nam lớn nào đó nhộn nhịp với các hoạt động thương mại. Sự phát triển này có liên quan gần gũi tới sự tiến hóa của các giai tầng phía dưới của dân cư thành phố vào các thương nhân, thợ thủ công độc lập mặc dù họ vẫn duy trì vị trí thuộc cấp trong địa vị xã hội. Đây đó dọc theo những con đường nhộn nhịp nhất là các tòa nhà thờ cúng lân cận dành cho niềm tin của những người bình dân. Những ngôi chùa với sự liên kết xa xưa như Kodo (Gyogan-ji), Rokkakudo (Choho-ji), Rokuharamitsu-ji,Senbonshakado(Daihoon-ji), và Inbabayakushido (Byodo-ji)  đảm nhận trong thời kỳ này đã có đặc điểm của những tòa nhà thờ cúng như thế. Kyomizu-dera ở phía đông Kyoto và Seiryo-ji ở phía Tây cùng với các đền thờ thần đạo Gion và Kitano đã phát huy rực rỡ trong vai trò này. Thậm chí bởi vì các ngôi chùa dòng họ như Hossho-ji, Hojo-ji và Rengeo-in hoàn toàn biến mất sau khi bị phá hủy bởi hỏa hoạn đã nhanh chóng được xây dựng lại bằng sự đóng góp từ các thương nhân giàu có, sự quyên góp bởi những người mộ đạo lang thang và sự đóng góp nhỏ từ số lượng người đông đảo.

Các ngôi chùa lân cận thường được mô tả  như là hệ thống thờ cúng các bồ tát như là Kannon, Jizo và Yakushi và có đặc điểm là tập trung vào lợi ích ở thế giới trần tục. Những hệ thống thờ cúng này là sự biểu thị tư tưởng ma thuật và học thuyết đa thần trung đại thứ bắt nguồn từ thời xa xưa và có xu hướng không phản ánh lời dạy của môn phái hay học thuyết nhất định. Đặt ở các thành phố, tại trung tâm của xã hội trang viên là đặc điểm chung của chúng và thực tế một sự sắp xếp pha tạp đặc biệt hệ thống thờ cúng tôn giáo đã tồn tại nhan nhản ở khu vực đô thị. Thêm nữa, các hệ thống thờ cúng cung cấp sự giàu có và thịnh vượng cho những người sống trong thành phố. Thiếu sự tiếp cận trực tiếp của người nông dân đối với nguồn thực phẩm, người thành phố tự mình vật lộn, lo ngại những điều tồi tệ nhất và cầu nguyện may mắn.

Các tòa nhà thờ cúng lân cận không chỉ nhộn nhịp với các hoạt động mộ đạo, thăm viếng mà còn là việc các thành viên của chúng lập nên các tổ chức tôn giáo, tổ chức các hoạt động kỉ niệm, và đóng góp đất đai, tiền mặt. Ngoài ra các tổ chức có các nghi lễ khác nhau, ca bài cầu nguyện, truyền thuyết về Kannon, jizo và các bồ tát được tạo ra bởi những người có học, các tăng lữ và những người mộ đạo. Các tổ chức tôn giáo cũng  tài trợ trình diễn nghệ thuật bao gồm nhảy nenbutsu, thơ ca, dengaku (Điền lạc) và sarugaku (viên lạc).

REPORT THIS AD

Từ cuối thời kỳ Kamakura tới thế kỷ 14, các tòa nhà hội họp của phái Ji, Ikko và các phái khác đã cung cấp dạng thức cố định nào đó cho những trải nghiệm tôn giáo của những người bình dân thành phố. Ở Kyoto chúng cũng bao gồm các tòa nhà hội họp ở Shijo (Konren-ji), Rokujo (Kangiko-ji), Ichiya (konko-ji), Shichijo (konko-ji) và Reizan (Shobo-ji). Tất cả chúng như Kodo và Rokkakudo đã đề cập trước đó, trong khi phản ánh đặc điểm của thành phố Kenmon đã được xác nhận (khằng định) dựa vào lòng mong muốn của các giai tầng phía dưới  của cư dân thành phố và do đó thể hiện một trật tự mới.

Tôn giáo của những người dân thành phố

Vào nửa sau thời kỳ trung đại những người thương nhân và thợ thủ công đã trở nên độc lập và quyết định cuộc sống của riêng họ và phần lớn trở thành người dân của vùng lân cận hơn là người thuộc cấp của elite. Trật tự cũ dựa trên luật lệ của các dòng họ quý tộc và viên chức chính phủ mờ dần. Điều này đặc biệt đúng sau chiến tranh Onin, khi các vùng lân cận trở nên tự trị phần lớn. Từ machishu (thị chúng) hoặc choshu chỉ các cư dân thành phố đặt dưới sự lãnh đạo của các thương nhân giàu có, những người cho vay tiền như người nấu rượu, chủ cửa hàng và bao hàm cả những người dân của vùng lân cận hơn là người thuộc cấp của các nhà quý tộc, chế độ tướng quân và các tổ chức tôn giáo.

Tuy nhiên đồng thời, các giai tầng phía trên của những người bình dân thành phố-những người nấu rượu, giữ kho-là trụ cột kinh tế chính của chế độ shogun Muromachi và hơn nữa ăn bám vào kinh tế trang viên trong thời ký nó suy sụp. Thêm nữa với sự suy sụp vào cuối thời kỳ trung đại của phái Ji vốn phát triển vào thế kỉ 13, 14, những người thành phố giàu có có xu hướng gắn kết hơn với phái Rinzai Zen, các ngôi chùa chính của nó được đặt dưới sự bảo hộ của chế độ tướng quân.

Nhưng trong số tất cả sự phân chia tôn giáo của người thành phố trong thời kỳ hậu Onin, chính phái Lotus xứng đáng nhận sự quan tâm của chúng ta. Từ cuối thời kỳ Kamakura, khi sự gia nhập Lotus bắt đầu ở Kyoto, sự gắn bó của nó với các tầng lớp thương nhân đã được ghi nhận và  nó dựa trên nền tảng là sự ủng hộ của những người thành phố ở vùng lân cận-thứ sau đó Hokke ikki (liên minh Lotus) đã phát triển. Mối quan hệ giữa cư dân vùng lân cận và phái Lotus đã biểu thị mối rạn nứt rõ ràng với phái Kenmitsu của các nhà quý tộc và các chùa lớn, và sự chuyển biến thứ hạng của các môn phái thực sự đối lập với cac dạng thức cũ của Phật giáo. Nó cũng chứng tỏ sự ủng hộ đối với tôn giáo của khối lân cận tự trị. Trong thành phố đó những người bình dân đóng chức năng không chỉ như là vật phụ thuộc của trật tự thành phố Kenmon mà chủ yếu như là thành viên cảu các tổ chức cộng đồng lân cận. Do vậy cuộc sông sđo thị và tôn giáo đã kết hợp trong một  dạng mới đáp ứng với liên minh Ikko đang lan rộng ở các ngôi làng khi hệ thống trang viên suy sụp.

CHỦ NGHĨA KHỔ HẠNH VÀ SỰ LANG THANG

Tăng lữ và những người ẩn dật

Các khía cạnh tôn giáo của làng và cuộc sống thành phố đã được đề cập ở trên. Nhưng điều này chỉ mới đề cập đến mối quan hệ chung chung giữa phật giáo và xã hội trang viên. Nhiều khía cạnh của Phật giáo được nhìn thấy trong thành phố và cho  bản thân nó rất quan trọng đã như là hiện tượng đặc biệt mang tính bộ phận, địa lý. Đối với quan điểm về hệ thống như là một chỉnh thể, chính những người xuất thế-những người ẩn dật-những người đã đã tạo nên những yếu tố ấn tượng nhất trong phật giáo trung đại. Những cá nhân như vậy có thể thấy khắp thế giới từ thời cổ đại cho tới thời hiện đại. Để hiểu đầy đủ đóng góp của họ đối với sự diễn thuyết trí tuệ Nhật Bản cần thiết phải xem xét họ từ các quan điểm khác nhau. Tuy nhiên ở đây, chúng tôi sẽ giới hạn sự bàn luận ở vai trò của họ trong xã hội trung đại.

Trong đạo phật, cụm từ chung nhất cho lễ thụ giới-shukke (xuất gia), chỉ sự từ bỏ của ai đó với tất cả mọi thứ thế tục, bao gồm quyền lực, địa vị, tài sản và cuộc sống gia đình và trở thành pháp thực sự. Tuy nhiên điều này không đúng với Phật giáo Nhật Bản trong đầu thời trung đại. Dưới chế độ Ritsuryo (chế độ Luật Lệnh-người dịch) của nhà nước hoàng gia cổ đại, các tăng lữ phật giáo sống trong các ngôi chùa, cơ quan được thành lập và quản lý bởi nhà nước. Trong bối cảnh như thế, bổn phận cao nhất của Phật giáo là bảo hộ về mặt tinh thần cho nhà nước (chingo kokka-trấn hộ quốc gia). Thậm chí sau khi nhà nước hoàng gia suy tàn vào cuối thời kỳ cổ đại các bậc tu hành trong các tự viện lớn tiếp tục đóng vai trò tương tự gắn bó chặt chẽ với các elite ở trung tâm quyền lực chính trị. Khác xa sự từ bỏ thế giới thế tục, họ đã tạo ra yếu tố quan trọng của cấu trúc quyền lực nhà nước. Sự cai trị elite đối với các ngôi chùa thành phố, được miêu tả ở phần trước, là tiêu biểu cho đặc điểm này.

Trong thời trung đại, sau đó nếu một người muốn từ bỏ thế giới và sống cuộc đời tôn giáo, người phải tìm kiếm con đường tách khỏi tăng lữ thiết lập ngôi chùa và ngôi chùa. Những người làm vậy bao gồm rất nhiều người-những người có thể là tăng lữ hoặc là những người thế tục: những người đã rớt khỏi hoặc chạy trốn khỏi giai tầng cai trị trong xã hội cuối thời kỳ cổ đại; những người bị đuổi khỏi trật tự được thiết lập; những người đã nổi loạn chống lại sự thiết lập hoặc ở mặt khác, những người thường đã đã bị cưỡng ép bởi số phận về địa vị thấp nhưng mong mỏi sự tồn tại ít bị gông cùm hơn. Một trật tự xã hội mới bắt đầu, được tạo ra bởi những người tìm kiếm sự trốn chạy thật sự khỏi thế giới

REPORT THIS AD

Những nhà sư lang thang

Có hai kiểu những người tôn giáo ẩn dật cơ bản trong thời kỳ trung đại. Một là những người dời bỏ ngôi làng quê hương, xây dựng một tu viện (bessho-biệt sở) ở nơi thiên nhiên ẩn dật, tiến hành tu tập nghiêm ngặt, đọc kinh và niệm tên Phật. Hai là những người không bao giờ ngừng lang thang. Cả hai có điểm chung nhất định đó là có tinh thần kiên định rời bỏ thế giới và trên thực tế phần lớn những người tu khổ hạnh đã sống lúc thì cách biệt tại chỗ và lúc lại lang thang.

Những người tu khổ hạnh-những người lang thang hoặc sống ẩn dật được biết đến như hijiri (thánh-hiền nhân). Từ nguyên của từ này không rõ ràng nhưng từ thời cổ đại nó được hiểu là chỉ những người làm những điều kì diệu mang tính tôn giáo có gốc gác bình dân. Mặc dù hijiri trung đại không thực sự thích hợp với định nghĩa này một cách chặt chẽ nhưng cũng đáng lưu ý để gọi họ bằng cụm từ tạm thời này.

Những khía cạnh nhất định của chủ nghĩa khổ hạnh thời trung đại là sự tiếp tục những mô hình cổ đại. Ẩn dật trong thiên nhiên và lang thang, những khía cạnh chính của tông giáo phổ biến từ thời cổ xưa nhất ở Nhật Bản, đã tiếp tục trong thời kỳ trung đại trong dạng thức của tu hành khổ hạnh ẩn dật và lang thang. Các nhà sư tự phong và không chính thức đã là trụ cột chính của tôn giáo phổ biến ở Nhật Bản cổ đại và đã sống một cuộc sống lang thang, sống dựa vào đúc chuông, biểu diễn những điều bí ẩn và các công việc xây dựng trực tiếp phục vụ tưới tiêu ruộng đồng, làm đường, cầu. Những người kế tục họ thời trung đại là các hijiri lang thang những người thu hút sự quyên góp cho các ngôi chùa và đền thờ thần đạo.

Các hijiri thời trung đại, những người tu hành khổ hạnh, và những người ẩn dật do đó thừa  kế tôn giáo của các tầng lớp dưới thời tiền cổ đại, một truyền thống vốn bị che khuất trong thời cổ đại bởi dạng chính thức của Phật giáo và chủ nghĩa hình thức chingo kokka (trấn hộ quốc gia) của nó. Nếu có  bất cứ thứ gì, chính những ngôi làng dựa trên lòng mộ đạo có tính địa phương và bình dân thứ tái nổi lên dựa trên sự ủng hộ tập thể trong thời trung đại đã kế tục văn hóa suy tàn của quý tộc và chuyến nó thành yếu tố tôn giáo chủ đạo của xã hội trung đại. Nói một cách khác, thế giới của những người ẩn dật và những người mộ đạo không chỉ gồm nghệ thuật bí ẩn, thiền, siêu việt mà còn gồm các cảm quan tôn giáo đại chúng thứ không thay đổi trong bản chất, tạo ra nền tảng của vô số tư tưởng ma thuật. Những người tu hành khổ hạnh thời trung đại do đó đã có sự gắn bó sâu và rộng đối với xã hội thế tục và sự nổi lên của họ biểu thị cơ hội lịch sử cho sự thiết lập của  luận thuyết vô chính phủ, vô tổ chức.

(còn nữa)

 


Cũ hơn Mới hơn