Xã hội chế độ trang viên và Phật giáo (IV)


 (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản 1996 23/3-4. )

Tác giả: Kuroda Toshio

Nguyễn Quốc Vương  dịch  từ bản tiếng Anh của Suzanne GAY

(Bài báo này được dịch từ bài báo “Shoensei shakai to Bukkyo” –Xã hội chế độ trang viên và Phật giáo-, được in lại trong Kenmitsu taiseiron- Bàn về thể chế Hiển mật, Kuroda Toshio chosaku shu 2- Tuyển tập tác phẩm Kuroda Toshio  2, Kyoto: Hozokan, 1994, trang 3-44).

SỰ XÚI GIỤC CỦA CHÙA VÀ YUZU NENBUTSU.

Bản thân những người mộ đạo khổ hạnh  ẩn dật trong các tu viện và các thung lũng trong núi gần đỉnh Hiei, Koya hay các địa điểm linh thiêng khác  hoặc là họ lang thang khắp nơi. Ở một chừng mực nào đó các tu viện của họ và các điểm ẩn dật mà họ sống trở thành nơi tụ tập cho những cá nhân tương tự. Những người mộ đạo được biết đến với các tác phẩm văn chương miêu tả sinh động cuộc sống tinh thần cô đơn, đầy nội tâm và riêng tư nhưng trên thực tế các hijiri tham gia vào cuộc sống cộng đồng mặc dù chỉ có các nhà lãnh đạo và các cá nhân xuất sắc được lịch sử biết đến. Những cộng đồng như thế bao gồm không chỉ các nhà tu hành khổ hạnh có học mà còn có cả các cá nhân người đã đổi sang tôn giáo ở ngoài sự bất mãn với những điều thế tục, người đã từ bỏ thế giới do sự suy thoái chính trị hoặc những người đã gia nhập cộng đồng không năm ngoài lòng mộ đạo nhưng đơn giản như là công cụ của sinh kế. Cho dẫu thế đi nữa những cộng đồng này, bị tách biệt bởi thiên nhiên đã trở thành thánh thất tách rời khỏi các sự kiện thế tục.

Một đặc điểm chính của những người tu hành khổ hạnh và những người mộ đạo này là tận tâm cho việc niệm nenbutsu (niệm phật). Sự tu hành này rất phong phú bao gồm các trường phái của phật giáo Shingon và Tendai nhưng những kiểu chung nhất là sự tu hành ma thuật như yuzu nenbutsu (dung thông niệm phật (toàn tâm niệm phật). Thực vậy, trong trường hợp của các jijiri lang thang yuzu nenbutsu có thể được nhìn nhận như là sự tu hành tôn giáo tiêu biểu nhất. Triết học ẩn dưới hình thức nenbutsu cũng giống như triết học cho thứ khác, sự tu hành không có nenbutsu: tập quán của cá nhân đơn lẻ có kết quả trong lợi ích cho mọi người và tập quán của đám đông đưa ra sự cúng tặng làm tăng lợi ích cho tất cả và hơn thế. Những ý nghĩ ngoài cách này đã dẫn tới tập tục cúng tặng riêng rẽ, thứ luôn luôn đi cùng với sự thuyết giảng của các nhà sư lưu động. Sự khẩn khoản về ngân quỹ là cách hiệu quả nhất để ủng hộ xây dựng tượng phật và các ngôi chùa trong thời kỳ trung đại và do đó cần thiết đối với nền kinh tế chàu. Nó cũng là phương tiện sinh nhai của các bậc tu hành lang thang.

Các nhà tu hành khổ hạnh và những người mộ đạo do đó đã có ảnh hưởng nổi bật tới sự phát triển của đạo phật trung đại. Bản chất của sự tu hành của họ tương đối giống với sự tu hành của các tổ chức nenbutsu  và hội hữu ái ở làng và sự thuyết giảng và nài xin hướng đến những người bình thường, đã có nhiều điểm chung với các cộng đồng tôn giáo ở làng và đô thị với trung tâm là các tòa nhà thờ cúng địa phương. Mối quan hệ của hijiri với nenbutsu đã được đề cập ở trên không cần phải bàn luận thêm, sự nhấn mạnh của chúng vào sự lang thang, sự cầu xin ngân quỹ và  sự đọc thuộc lòng yuzu nenbutsu thấy rõ nhất trong phái Ji được lập ra bởi Ippen. Các trường phái cũ của Phật giáo nhanh chóng lựa chọn sự tu hành tương tự: Ví dụ như sự trùng tu Todai-ji phần lớn phụ thuộc vào các nhà sư đi quyên góp và những người được  gọi là koya hijiri, những người mộ đạo bề ngoài là từ các tự viện lớn của phái Shingon đã hoạt động tích cực. Sự phục hưng của Cựu phật giáo do vậy được xúc tiến bởi hoạt động của các hijiri, những người có thể tạo ra nền tảng kinh tế trung đại mới và sự thu hút của các yêu tố tôn giáo đại chúng. Đặc biệt cần chú ý là  thực tế rằng sự mộ đạo của các hijiri không quyền lực không tổ chức ở khu vực của những ngôi đền lớn của phật giáo kenmon đã giữ cho phật giáo sosongs trong suốt thời kỳ khi nó đã bị mất đi cơ sở kinh tế do sự suy sụp của trang viên, họ đã tự cải cách thành các cơ quan phật giáo trung đại.

NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHỀ TIÊU KHIỂN  LANG THANG VÀ NHỮNG NGƯỜI BỊ XÃ HỘI RUỒNG BỎ

Bất cứ sự quan tâm nào tới những nhà tu hành khổ hạnh ẩn dật và những người hijiri lang thang như là các nhân vật không bằng lòng với tổ chức và không quyền lực cũng nên theo sau bởi sự xem xét đối với những người làm nghề tiêu khiển và những người bị xã hội ruồng bỏ bao gồm những người có địa vị thấp kém và những người luôn bị xua đuổi khỏi kenmon-dựa trên trật tự chính trị và xã hội.

Có rất nhiều kiểu người làm nghề tiêu khiển và những người bị xã hội ruồng bỏ trong thời trung đại. Những nhóm này không được xác định rõ ràng bằng địa vị và không cư trú cố định ở địa điểm cố định nào. Một vài được tổ chức trong các nhóm ở dưới đáy của trật tự xã hội và tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc mạnh mẽ vào nó. Do đó họ không thể được gọi là những người ngoài cuộc thực sự nhưng trong cảm quan rằng họ bị đặt bên dưới tất cả các nhóm khác và được duy trì trong cố gắng xua đuổi họ khỏi xã hội. Vẫn có những nhóm khác không có mối quan hệ với nhóm elite nhưng sống như người lang thang, diễn các trò tiêu khiển và các trò ma thuật ở những nơi họ có thể.

Tất cả những người này đền là những người hành nghề tiêu khiển bình dân nhưng đồng thời họ cũng là những nhân vật tôn giáo. Cũng không có nhiều trường hợp tiêu khiển và ma thuật không thể phân chia bởi vì rằng chúng vẫn còn được tách biệt như  trong trường hợp của các nhân vật tôn giáo nghiêm ngặt hơn như những người đọc kinh hoặc niệm phật (nenbutsu), những người đọc kinh đánh trống cúi đầu hoặc đánh chiêng, những người kể các câu chuyện tôn giáo, những cô gái nhảy múa và những thiếu nữ thần đạo lang thang. Thậm chí những người xuất hiện chủ yếu như là những người làm nghề tiêu khiển như những người hát rong và những người trình diễn con rối là đang thuyết pháp và niệm chú bằng con đường riêng của họ.

Trong số những người làm nghề tiêu khiển lang thang cũng thế, cầu xin đóng góp cho chùa, niệm chú và yuzu nenbutsu là những hành động thông thường. Sự “cầu xin đóng góp cho chùa” của họ thực tế thường là sự cầu xin cho nhu cầu cá nhân, sự trích dẫn kinh phật của họ không chính xác và bất cẩn và những huyền thoại engi về chùa và những vật thể linh thiêng của họ rất đáng ngờ. Mặc dù vậy, sự lang thang của những nhân vật này giống như yuzu nenbutsu được nhìn nhận như là sự mang đến lợi ích cho số đông mọi người. Và nữa, một vài người hành nghề tiêu khiển như những người rung chuông và bình đã sử dụng yuzu nenbutsu như là chủ đề cho những buổi diễn của họ. Quần áo và những thứ đồ họ mang giống như những người mộ đạo nenbutsu thấy trong ccs tấm chân dung và tranh cuộn về những nhân vật tôn giáo như Shinran và Ippen.

Do vậy, Có những người hành nghề tiêu khiển lang thang và những người bị xã hội ruồng bỏ-những người có mối liên quan rõ ràng với thế giới của những người tu hành khổ hạnh. Cũng không có gì ngạc nhiên rằng những người đã từ chối trật tự cai trị và những người bị từ bỏ bởi nó có rất nhiều điểm chung. Tất nhiên, người ta cũng gặp nhiều mức độ khác biệt về sự tinh vi mang tính học thuyết khi người ta chuyển từ những người hành nghề giải trí đơn giản, tầm thường sang các hijiri có kỷ luật tôn giáo, và từ đó tơ những người ẩn dật và các vị sư từ bỏ thế giới thế tục-những người dành trọn bản thân họ cho sự nghiên cứu và phản ánh cao thượng. Nhưng những nhân vật này tồn tại trong thể liên tục và trên thực tiễn rất gần gũi bằng nhiều cách khác nhau. Họ đã hoạt động trong thế giới chung có đặc điểm là tinh thần vô quyền lực và vô tổ chức.

CÁC KHU CHỢ VÀ VÙNG ĐẤT LINH THIÊNG

Những người mộ đạo lang thang và những người hành nghề giải trí đi khắp đất nước, qua các ngôi làng và dọc theo các con đường lớn của mọi tỉnh. Họ có xu hướng tập hợp tại các nơi linh thiêng-những ngôi chùa, đền thờ Thần đọa lớn như Kumano, đỉnh Koya, Zenko-ji, Shitenno-ji, Todai-ji, đền Ise và đền Iwashimizu- hoặc tại các khu chợ nổi lên ở các thành phố và các vùng đất khác.

Trước hết cho phép chúng tôi đề cập đến những nơi linh thiêng. Trong bối cảnh của thời đại, thật ấn tượng rằng những vùng được những người lang thang ưa thích không phải là những ngôi chùa, đền thờ Thần đạo lớn được thờ cúng bởi nhà nước và các dòng họ có quyền lực mà lác những nơi linh thiêng gắn với ccs vị phật, bồ tát như Amida, Kannon, Dainichi, với sự hiện hình các vị thần (thùy tích-suijaku) liên quan tới các vị thần và với các nhân vật tôn giáo vĩ đại Nhật Bản như hoàng tử Shotoku, En no Gyokja, Gyoki, Kukai và Saicho. Đối với những người lang thang này các ngôi chùa chính thống cổ kém linh thiêng hơn những hang động sâu trong núi dược thờ cúng theo tinh thần dân gian thư đã tồn tại từ rất xa xưa. Tất cả trong số đó đều được xem như là vùng thuộc về thế giới khác thích hợp với cuộc sống ẩn dật và tương xứng với sự sùng bái các hijiri.

Đối ngược với những vùng linh thiêng như thế, các khu chợ là nơi việc kinh doanh trần tục được tiến hành. Những người tu hành khổ hạnh lang thang bị lôi cuốn bởi những nơi này vì mục đích nài xin sự hiến tặng-với sự đông đúc của mọi người và sự bận rộn trao đổi gạo, tiền mặt, quần áo, chợ là nơi lý tưởng để nài xin và tìm kiếm của bố thí. Nhưng các khu chợ không chỉ là nơi đông đúc trao đổi. Các khu chợ dần dần dần đã phá vỡ nền kinh tế đóng kín tự cấp tự túc của các làng trang viên và cung cấp cái khung cho các hoạt động kinh tế không bị cấm đoán bởi hệ thống phân chia địa vị xã hội của trang viên. Bất chấp vai trò của chúng trong việc du nhập các yếu tố hỗn tạp vào xã hội trang viên, các khu chợ phồn thịnh như là kết quả của truyền thống vốn có trong hệ thống đã tạo ra những nhu cầu lớn đối với sự vận chuyển và phân phối bằng việc lấy trung tâm nền kinh tế của nó là các thành phố và phương tiện sản xuất của nó là đất đai.

Do vậy, các nhà tu hành khổ hạnh và những người hành nghề tiêu khiển lang thang hay lui tới các khu chợ với những lý do  đi xa hơn mối quan tâm tới sự nài xin và biểu diễn. Kiểu tự do đã được tìm thấy trong các cộng đồng đô thị vào thời gian sau đã không còn tồn tại nữa nhưng những khu chợ đã phá vỡ  sự tự do của các mối quan hệ địa vị ban đầu của xã hội phong kiến hay xã hội trang viên-cụ thể là phục vụ và thuế. Những người sùng đạo có cuộc sống lang thang, ẩn dật bị cuốn hút tới các khu chợ bởi đây là nơi tồn tại sự vô tổ chức, vô quyền lực và là nơi tự do tồn tại cho dù chỉ là âm ỉ.

Cuối cùng, những con đường từ những nơi linh thiêng tới chợ  mỉa mai thay lại được thiết lập như là đường huyết mạch gắn chặt với hệ thống trang viên. Chúng đã trở thành con đường đi lại dành cho những ai oán giận và lánh xa trật tự xã hội, từ những hiền nhân khổ hạnh cho tới những người hành nghề tiêu khiển lang thang.

SỰ CHỈ TRÍCH XÃ HỘI VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TỰ NHIÊN

Nếu tình trạng ẩn dật về cơ bản là sự xa lánh khỏi hoặc là sự không bằng lòng với trật tự cai trị và nếu nó bao gồm các yếu tố nổi loạn thì sau đó sẽ rất tự nhiên khi phần lớn những người ẩn dật có quan tâm đến chỉ trích xã hội. Nhiều tác phẩm văn học và bài thuyết pháp trong thời kỳ trung đại đã phản ánh một cách rõ ràng thái độ chỉ trích của những người ẩn dật đối với sự thực xã hội thời họ sống. Những đoạn ngắn hỗn tạp và các bài thơ của Kamo no Chomei, Saigyo, Yoshida Kenko và những người khác cũng như những câu chuyện  có liên quan đến cuộc sống của những nhân vật đó là những ví dụ nổi bật về điều này. Trong số các nhà sư  lập ra các môn phái Tân phật giáo từ Honen trở đi có nhiều người có trải nghiệm như là các nhà tu hành khổ hạnh lang thang và với cái nhìn phê phán xã hội đi kèm. Sự bình phẩm xã hội không phải là mục đích chính của các nhà ẩn dật tôn giáo vì vậy sự chỉ trích công khai và  những điều sỉ nhục hầu như không tồn tại trong các tác phẩm viết của họ nhưng thái độ phê phán của họ cho phép họ tìm kiếm sụ thực của thế giới này với sự tỏa sáng mang tính triết học và mĩ học.

Những người ẩn dật từ bỏ thế giới đã tự đắm chìm vào thiên nhiên và hát lên lời ca ngợi nó. Trong văn học trung đại tư duy sâu lắng về thiên nhiên và cảm quan sâu sắc hướng về thế giới tự nhiên được coi như là cần thiết. Đây không phải là sản phẩm đơn giản của sự hấp dẫn từ thiên nhiên mà là trước hết là  sản phẩm của quyết định  từ bỏ thế giới trần tục. Trong sự trống rỗng của tự nhiên,  người ta nói rằng con người sẽ tìm kiếm sự thật và vẻ đẹp vĩnh hằng. Thông qua thái độ này các nhà tu hành khổ hạnh trung đại có khả năng xác định vị trí triết học phật giáo về sự luân hồi trong nhận thức khác biệt của người Nhật về sự ngắn ngủi thoáng qua của cuộc đời.

SỰ SUY TÀN CỦA TINH THẦN KHỔ HẠNH

Vào nửa sau thời kỳ trung đại một  sự thay đổi nổi bật đã diễn ra trong thế giới của những người ẩn dật. Nó được biểu hiện trong rất nhiều dạng thức, một trong những số đó là sự thuê mướn những người tu hành khổ hạnh. Một vài tín đồ của phái Ji, có lẽ những đại diện tiêu biểu nhất của phong trào ẩn dật, trở thành những nghệ sĩ-những người làm việc trong sự gần gũi với các quý tộc và lãnh chúa võ sĩ. Nhiều loại hình nghệ thuật bắt nguồi từ mĩ học của sự ẩn dật và trong truyền thống tiêu khiển lang thang mỉa mai thay đã trở thành một dạng phục vụ quyền lực. Do vậy tinh thần rất thanh cao đã trở thành một yếu tố trong việc tìm kiếm sự hài lòng của của những người có quyền lực. Trong số những người ẩn dật phục vụ những người có quyền lực như thế là các nhóm được biết đến như dobo (Đồng bằng) và goka (Ngự già).

Tương tự như thế, hiện tượng các những người ẩn dật thôi không còn là người ẩn dật thực sự là xu hướng có liên quan. Rất nhiều môn phái của Tân phật giáo ban đầu lan rộng bởi các hiền nhân lang thang trong tinh thần “không phải tăng lữ cũng không phải người thường” giờ đây trở nên thể chế hóa, tạo nên các giáo đoàn và môn phái thế tục. Đồng thời, những người hành nghề tiêu khiển bị từ bỏ-những người đã từng sống cuộc sống lang thang đã chỉ ra những dấu hiệu họ bắt đầu sống ổn định. Một vài trong số họ xây dựng nhà trên bờ sông hoặc chỗ đất thừa (kosho) trong các thành phố, tạo ra một tầng lớp trong cư dân thành phố, những người khác thì cư trú trong các làng, có được một chút ít đất đai và nơi ở và đảm đương một vài dạng nghệ thuật tôn giáo nào đó cùng kĩ nghệ thủ công cho tổ chức cộng đồng làng.

Sự phát tiết của các huyền thoại cũng  mờ dân trong các tiền đồn tôn giáo và những nơi ẩn dật nơi những người ẩn dất sống thành cộng đồng. Trong số những hiền nhân lang thang, những người giỏi việc nài xin đóng góp trở thành người thông thạo trong tài chính và cư trú trong các trang viên như là người quản lý. Những người có truyền thống nổi loạn trở thành các nhà sư võ sĩ hoặc lập ra các cộng đồng  du côn bất mãn. Các tư lệnh cố gắng thắt chặt sự cai trị phong kiến đối với lãnh địa của họ đã từ chối tôn vinh thậm chí kể cả là những nơi linh thiêng nhất.

Sự phát triển này là dòng chảy với những xu hướng trong lịch sử xã hội thứ dẫn tới quyền lực phong kiến mạnh. Do đó cuối cùng đã dẫn tới  trật tự xã hội trung đại bao gồm sự bất mãn xã hội và sự loại trừ thông qua cái van an toàn ẩn dật. Từ đó trở đi, phong trào tôn giáo chống đối đã có hình thức là các nhóm được tổ chức cao có tính tập thẻ như Ikko Ikki và liên minh Lotus.

Điều này không nói rằng sự ẩn dật hoàn toàn biến mất. Thậm chí vào thời đại khi mà quyền lực phong kiến cấm các phong trào tôn giáo tập thể trong mọi ngóc ngách của xã hội, ẩn dật và tinh thần lang thang vẫn duy trì trong sự khổ hạnh của Sen no Rikyu, trong sự tao nhã của Basho, trong cuộc sống giản dị của Ryokan hay Issa và trong nghệ thuật điêu khắc của Enku, tất cả chúng đã có sự hấp dẫn lớn thậm chí đến cả ngày nay. Tinh thần ẩn dật là không thể tách bạch khỏi phật giáo trung đại và có thể được tính nằm trong những nguồn chính của truyền thống trí tuệ Nhật Bản.

 Hết

 


Mới hơn