Xã hội chế độ trang viên và Phật giáo (II)


(Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản 1996 23/3-4. )

Tác giả: Kuroda Toshio

Nguyễn Quốc Vương  dịch  từ bản tiếng Anh của Suzanne GAY

(Bài báo này được dịch từ bài báo “Shoensei shakai to Bukkyo” –Xã hội chế độ trang viên và Phật giáo-, được in lại trong Kenmitsu taiseiron- Bàn về thể chế Hiển mật, Kuroda Toshio chosaku shu 2- Tuyển tập tác phẩm Kuroda Toshio  2, Kyoto: Hozokan, 1994, trang 3-44).

Các tổ chức cộng đồng làng và tôn giáo

Như đã đề cập trước đó, các ngôi chùa nông thôn trong thời kỳ trung đại không phải tất cả đều bắt đầu như là tòa nhà thờ cúng của làng hay các tu viện với mối quan hệ gắn bó với cộng đồng. Sự thành lập như thế chỉ xuất hiện sau sự nổi lên của các tổ chức cộng đồng làng. Thậm chí trong vào cuối thời kỳ trung đại có vô số các ngôi chùa – thứ như là sự thiết lập sở hữu ruộng đất ưu tú, đã không có quan hệ với những người nông dân. Một vài, mặc dù được ủng hộ bởi niềm tin tôn giáo của những người nông dân, nằm ngoài mối quan hệ gần gũi với cộng đồng làng (thậm chí bị tẩy chay khỏi cộng đồng làng) bởi vì chúng đã thất bại trong việc thích nghi với môi trường tinh thần trong vùng. Sự bành trướng học thuyết của các môn phái và sự tiếp tục của hệ thống tôn giáo nhóm hay đơn lẻ chắc hẳn đã phụ thuộc vào mối quan hệ của ngôi chùa đối với cộng đồng làng.

Môn phái gọi là Tân phật giáo Kamakura bắt rễ từ các ngôi làng trung đại thế kỉ 14, như là phong trào tự trị, đã trở nên tích cực ở đó. Các mối quan hệ giữa hai thứ trên bắt đầu trong một thứ bề ngoài hơi phức tạp, nhưng ở trong quá trình liên lạc niềm tin và cơ cấu của các môn phái ít bị định hình bởi lời dạy của người lập nên môn phái hơn là bởi thực tế của cộng đồng làng. Ví dụ như rất nhiều dạng thức của môn phái Jodo Shin của phật giáo, cách xa khỏi khái niệm chống đối hiện thế đương thời và nhấn mạnh sự cần thiết gắn bó với địa phương. Điều này về phần mình đã tạo ra sự trỗi dậy của tập tục được công nhận như là dị giáo như thiết lập hai thời điểm xuân phân như là thời gian dành cho sự ẩn dật niệm phật và biến lễ tang và sự sùng bái cái chết trở thành trung tâm của việc thực hành tôn giáo[1]. Cũng chính vào khoảng thời gian này vấn đề nổi lên về việc thờ hay không thờ các vị thần và các cẩm nang thuyết pháp được tạo ra để làm rõ vấn đề này.

Các tổ chức tôn giáo làng đứng sau sự phát triển nhanh chóng của phong trào Ikko ikki vào cuối thời trung đại. Rennyo coi  “bậc tu hành, người già và thủ lĩnh” của tổ chức làng như là những con người chủ chốt trong việc khiến người ta từ bỏ một tôn giáo để theo một tôn giáo khác trong làng. Trong sự mở rộng của phong trào Lotus (Nhật Liên-người dịch), một vài ngôi làng bắt đầu trở thành làng Nhật Liên hoàn toàn. Mặc dù chúng ta không nên đánh đồng các tổ chức giáo phái như thế với các tổ chức cộng đồng làng và mặc dù chúng ta phải đặt ra câu hỏi chính xác xem các lời chỉ dạy của các môn phái đó thích hợp với những người nông dân như thế nào nhưng cũng cần chú ý rằng các môn phái này biểu thị mối quan tâm lớn tới các tổ chức cộng đồng và trong quyền lực của nó để kiểm soát và điều chỉnh và thể hiện kĩ năng tuyệt vời trong việc sử dụng chúng cho mục đích làm người khác từ bỏ tôn giáo này theo tôn giáo khác.

Cấu trúc gia trưởng của cộng đồng làng trung đại rất quan trọng trong  việc quan tâm tới tôn giáo làng. Đối với việc việc kiểm soát tổ chức cộng đồng được nắm bởi các phú nông giàu có có đặc quyền, luôn luôn có mối nguy hiểm rằng tôn giáo sẽ bị cấm đoán bởi các quy tắc của tổ chức và sẽ bị khuất phục bởi sự đàn áp giai cấp trong cái tên của tổ chức. Do đó đặc điểm giai tầng của cộng đồng làng trung đại là nhân tố hạn chế lớn nhất đối với các tổ chức tôn giáo. Được lãnh đạo bởi những thành viên giàu có hơn trong cộng đồng, chúng không thuần túy là các tổ chức nông dân mặc dù chúng sở hữu những đặc điểm nông dân nhất định. Hơn nữa, chúng có thể bị tổn thương đối với mối quan tâm của các võ sĩ địa phương và các nhà lãnh đạo nông dân và đã bị lợi dụng trong các trận chiến cuối thế kỷ 16 giữa các lãnh chúa.

Mặc dù các ngôi chùa làng và các tu viện tương đối không giống các tòa nhà thờ cúng trong làng, vào cuối thời kỳ trung đại chúng cũng trở thành nơi liên hiệp tôn giáo (Shukyo Ikki) và thể hiện nhiều xu hướng tương tự. Đó là vì chúng không chỉ thực hiện nhiều chức năng cộng đồng tương tự như tòa nhà thờ cúng trong làng mà đồng thời chúng cũng giữ các bộ kinh phật chi tiết và ban lời cầu nguyện cho các lãnh chúa lớn và các võ sĩ đứng đầu khác. Bằng việc lựa chọn các thủ lĩnh võ sĩ, họ đã xác định số phận của cộng đồng làng trung đại trong nhiều trường hợp. Các tấm áp phích cấm đoán, thứ mà các lãnh chúa trong vùng ban cho các ngôi làng như là phần thưởng dành cho những lời cầu nguyện ủng hộ, có thể đã đảm bảo cho hòa bình của ngôi làng ở vài lĩnh vực, nhưng chúng đã cho phép các lãnh chúa có được sự kiểm soát đối với cộng đồng và những người lính nghĩa vụ cũng như những người lính bộ binh.

 CÁC LÃNH CHÚA ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC NGÔI CHÙA

 

Tôn giáo của những lãnh chúa địa phương

 

Các võ sĩ thời trung đại khác với các võ sĩ giai đoạn tiền cận đại cơ bản nhất ở điểm họ là các lãnh chúa địa phương sống trong các ngôi làng (Zaichi ryoshu). Cụm từ ryoshu (lãnh chúa) không chỉ đơn giản biểu thị sở hữu ruộng đất: bản thân từ đó ban đầu chỉ người kiếm soát những người nông dân và ruộng đất ở địa phương thông qua sử dụng sức mạnh vật chất. Có rất nhiều mức độ đối với những võ sĩ như thế, trải từ các gia đình lớn ở địa phương – những người nắm trong tay phạm vi lan rộng tới các tỉnh hoặc quận tới các võ sĩ nghèo người chỉ có một chút đất đai. Điển hình nhất là Jito (Địa đầu-người dịch) (quan hành chính địa phương), người trong thời kỳ đầu trung đại đã kiểm soát làng thông qua gia đình và tùy tùng của mình. Jito thường có nguồn gốc là những người lập làng  từ thế kỉ 11 hoặc 12 và đôi khi được gọi là “lãnh chúa cơ bản” (konpon ryoshu) hoặc “lãnh chúa phát triển” (kaihatsu ryoshu- khai phát lãnh chúa). Nói một cách khác, họ không chỉ đơn giản sống trong vùng mà đã gắn bó lâu dài với ngôi làng và gần như được định dạng bởi nguồn gốc của nó. Với sự thăng trầm của thời gian nhiều võ sĩ như thế giành được đất đai mới thông qua các nghĩa vụ và đôi khi họ chuyển tới vùng đất sở hữu mới do đó làm giảm bớt mối quan hệ của họ đối với ngôi làng. Tuy nhiên, “võ sĩ có đất” (kokujin-Quốc nhân và jizamurai- Địa thị)-các võ sĩ tiêu biểu nhất cuối thời kỳ trung đại tiếp tục sống trong các ngôi làng được hỗ trở bởi sự trồng trọt của chính họ. Do đó đặc điểm làng, địa phương của võ sĩ không hoàn toàn mất đi cho tới khi bắt đầu thời kỳ cận đại khi võ sĩ bị di chuyển ra khỏi vùng đất của họ và bị đặt vào các lâu đài lớn.

Như người ta có thể dễ dàng  suy luận từ điều này, các võ sĩ trung đại không khác biệt lớn lao so với những người nông dân  ở một mức độ nào đó bởi vì cảm quan tôn giáo của họ được định hình bởi tư tưởng ma thuật và đa thần. Họ cũng tin vào hiệu quả của các nghi lễ ma thuật để có được mùa màng bội thu, họ cũng thờ cúng và cũng tôn sùng thần và phật. Những sự khác biệt tồn tại trong nhu cầu tôn giáo của họ có liên quan tới mối quan tâm của họ như là thành viên của tầng lớp lãnh chúa địa phương, với bổn phận thu thuế những người nông dân và thu thuế, phí hàng năm và với tư cách là võ sĩ thể hiện bản thân trong sự hiểm nguy của các trận đánh và các cuộc đột kích.

 Các ngôi chùa dòng họ võ sĩ

Nhiều cộng đồng nông dân đặt các yêu cầu phong phú của mình vào các vị thần và tòa nhà thờ cúng của làng, các võ sĩ đặt niềm tin của mình vào các vị thần tổ tiên và các ngôi chùa của dòng họ (Ujidera-Thị tự). Như một nguyên tắc, các võ sĩ đầu thời kỳ trung đại đã tạo ra các nhóm ổn định được  cai trị bởi mối quan hệ gắn bó mang tính gia trưởng, dòng họ (được gọi là Soryo-tổng lãnh). Vào khoảng thế kỷ 14 những nhóm võ sĩ này bắt đầu tan rã và từ đó trở về sau sự cai trị rộng trên quy mô tỉnh bởi các lãnh chúa lớn và các dòng họ địa phương nổi trội dần trở thành quy phạm. Các võ sĩ bình thường đã lập ra liên minh lãnh thổ trong các nhóm và liên minh. Tuy nhiên cũng gần như là đồng thời, hệ thống Soryo được tái xây dựng rộng rãi trong thể thức tương đối thoải mái như là các liên minh có cùng dòng máu. Các võ sĩ cá nhân từ các lãnh chúa lớn cho tới những người cư trú trong làng đã lập ra sự liên kết của chính mình. Vì vậy các nhóm võ sĩ gia đình và các kiểu khác đã làm nên đặc điểm của toàn bộ thời trung đại khi coi  sự thờ cúng  các vị thần bảo hộ (Ujigami-thị thần) như là cột trụ tôn giáo của các nhóm gia đình hoặc dòng họ đó. Ujigami là vị thần tổ tiên của dòng họ và là vị thần bảo hộ vùng đất của họ đó theo đó thì đây cũng là vị thần đảm bảo sự tiếp tục tồn tại của dòng họ như là một thực thể thống nhất và có trong tay ruộng đất. Các ngôi chùa dòng họ đã có chức năng gần tương đương như các vị thần bảo hộ và đã được dựng rộng rãi khắp nơi.

Các quý tộc đã xây dựng các ujidera bắt đầu vào thời kỳ Heian; những ujidera này bao gồm Kokufu-ji của dòng họ Fujiwara, Jingo-ji của Wake, Hokkai-ji của Hino và Rokusho-ji (sáu ujidera của dòng họ thiên hoàng ở Kyoto). Tuy nhiên không phải đợi tới nửa sau của thời kỳ Kamakura, các võ sĩ ở các tỉnh bắt đầu xây dựng các ngôi chùa như vậy; trước khi có nó tất nhiên các võ sĩ đã theo Phật giáo nhưng biểu hiện niềm tin của họ không bao gồm việc dựng các Ujidera.

Các võ sĩ theo Phật giáo thường có từ cuộc chiến tranh giữa dòng họ Taira và Minamoto vào thế kỷ 12. Không phải là huyền thoại mà là sự thật rằng các trận chiến đã cung cấp cơ hội cho các võ sĩ nhận ra sự phù du của thế giới này và sự nghiêm trọng của những sai lầm mà họ đang làm. Nhưng cũng có những khía cạnh xã hội đối với sự giác ngộ này: một vài người  xuống tóc vì bị sốc mạnh giữa mơ ước của họ và sự khinh bỉ mà họ phải chịu đựng, bị coi như là viên chức nhỏ mọn từ phía nhà nước. Đối với họ cuộc sống của nhà sư có nghĩa là đặt sang một bên ước vọng nguy nga tráng lệ để trở thành thầy tu hành khất lang thang. Tách rời khỏi nhóm của họ, ẩn dật trong núi họ đã tạo ra cho họ sự tồn tại lưu động.

Nói đúng ra, việc có lời thề phật giáo có nghĩa là từ bỏ cương vị đứng đầu dòng họ và trở nên ẩn dật. Tuy nhiên, cũng có khi nó trở thành một dạng nghỉ hưu- các võ sĩ và các góa phụ của võ sĩ sau khi chuyển dinh cơ của dòng họ cho người thừa kế đã không đi khỏi nhà nhưng sống cuộc sống bán ẩn dật như là bậc tu hành dự bị. Bằng việc xây dựng các ngôi chùa nhỏ thờ Phật ở nơi cư trú của các dòng họ, họ đã sống bên lề cuộc sống chồng vợ và những lời an ủi tổ tiên.  Những ngôi chùa như thế là những nguyên mẫu đầu tiên của Ujidera.

Sự ra đời  của các ngôi chùa dòng họ võ sĩ do đó đã cung cấp các nhà sư võ sĩ nghỉ hưu với ý nghĩa duy trì tình trạng thế tục như là lãnh chúa địa phương mặc dù dưới dạng thức khác. Sự thiết lập của họ cũng là sự biểu thị của sự nổi lên vị trí văn hóa và xã hội của võ sĩ ở một chừng mực nhất định khi nó chỉ ra sự hiểu biết tiến bộ về học thuyết phật giáo dựa trên sự sùng bái đơn giản đối với các vị thần. Tuy nhiên thông thường các quy tắc, luật lệ của các ngôi chùa dòng họ nhấn mạnh sự nguyện cầu cho sự khai sáng của tổ tiên và cho sự giàu có, thành công của dòng họ và những người kế vị của nó. Trong cảm quan này, sự thờ cúng trong chùa không khác lắm sự thờ cúng các vị thần bảo hộ trước đó. Như ta có thể thấy từ thực tế rằng sự ra đời của các Ujidera gia tăng trong thế kỷ 14, thời kỳ mà hệ thống cai trị dòng họ (soryosei) chưa được ổn định, mục đích đầu tiên của chúng là tăng cường sự đoàn kết của dòng họ võ sĩ.

 Những người hảo tâm và sự ra đời của các môn phái

Khi các ngôi chùa dòng họ võ sĩ được xây dựng, một nhà sư địa phương sẽ được mời tới để trở thành thầy tế tại gia và đóng vai trò là người sáng lập ngôi chùa. Đôi khi một nhà sư là thầy dạy của các bậc tu hành địa phương sẽ được coi là người sáng lập trên danh nghĩa. Môn phái của hầu hết các ngôi chùa dòng họ có xu hướng là Tịnh thổ hoặc Thiền. Tùy theo thời kỳ và vùng, môn phái Liên (Lotus) và Ji cũng là tiêu biểu. Các ngôi chùa dòng họ không chỉ là những địa điểm quan trọng đối với sự phát triển của các môn phái Phật giáo mới trong vùng mà còn  định vị sự di chuyển của văn hóa từ kinh đô tới các tỉnh.

Tuy nhiên trong sự phân tích cuối cùng, các ngôi chùa dòng họ phụ thuộc vào ngôi nhà của võ sĩ người xây dựng nên ngôi chùa. Võ sĩ là nhà hảo tâm đứng đầu của nó và đôi khi thậm chí ông ta được coi là người sáng lập ngôi chùa. Trong phần lớn các trường hợp đất đai của chùa và các tòa nhà được xây dựng hoặc được bao cấp bởi nhà hảo tâm võ sĩ-người có quyền quản lý và sắp xếp tài sản của ngôi chùa. Bởi vì ujidera đóng vai trò chủ yếu như là ngôi chùa của dòng họ võ sĩ, vị sư chủ trì được nuôi dưỡng để cầu nguyện cho sự trường tồn và giàu có của dòng họ. Ông ta cũng có thể được theo bởi các người nông dân trong vùng nhưng xét về khía cạnh kinh tế và xã hội thì ông ta  nằm dưới sự bảo trợ của dòng họ võ sĩ. Trên thực tế sẽ là không bình thường đối với việc bản thân chủ trì ngôi chùa trở thành thành viên của dòng họ võ sĩ-người đóng vai trò là nhà hảo tâm.

 Vai trò của các ngôi chùa dòng họ

Bất chấp sự phân chia môn phái của chúng, các ngôi chùa dòng họ là các thực thể Phật giáo được gộp vào bên trong hệ thống Soryo hoặc hệ thống lãnh chúa địa phương. Chúng không chỉ tiến hành các nghi lễ phật giáo cho dòng họ võ sĩ mà còn quản lý các nông dân địa phương (mặc dù như là một phần của hệ thống trang viên, các ngôi chùa đồng thời sử dụng sự kiểm soát đối với nông dân dưới lốt hướng dẫn và bảo trợ về tinh thần). Bằng lý do này, kiểu các tòa nhà thờ cúng trong làng đã bàn đến ở phần trước ít phổ biến ở những nơi có Ujidera. Các ngôi đền dòng họ võ sĩ đã đóng chức năng của các tòa nhà thờ cúng và được hiểu như là tổ chức tôn giáo đồng thời là hiện thân quyền lực truyền thống của lãnh chúa địa phương.

Chức năng trung tâm của các ngôi chùa dòng họ là tiến hành kito với những lời cầu nguyện có được lợi ích ở thế giới trần tục. Điều này trở thành một nhân tố đóng góp quan trọng đối với việc nghi lễ hóa tăng lên của các môn phái Phật giáo Kamakura mà tầng lớp võ sĩ cải đạo theo. Tinh thần nguyên thủy của Tân Phật giáo, thứ nhấn mạnh sự từ bỏ thế giới và tìm kiếm sự thật trong sự khổ hạnh, đã bị thoái lui như là sự tin cậy của phong trào đối với sự gia tăng  uy quyền của các trang viên. Trong những cố gắng để đáp ứng nhu cầu ma thuật của các lãnh chúa thông qua việc tiến hành kito, các môn phái Tân Phật giáo nhất định đã hấp thụ các yếu tố sùng bái thần và diện mạo thần bí.

Các ngôi chùa dòng họ cũng dẫn tới sự tồn tại có chút gì đó không bền vững. Sự xác định môn phái của chúng có thể thay đổi dựa trên ý thích chợt nảy ra của nhà hảo tâm-võ sĩ. Nếu như nhà võ sĩ chịu đựng số phận suy sụp hoặc  tuyệt tự, ngôi chùa dòng họ đó có thể sẽ đóng cửa hoàn toàn hoặc bị chuyển thành ngôi chùa địa phương dưới sự kiểm soát của những người trong làng. Trong một vài trường hợp các ngôi chùa như vậy được kiểm soát bởi các võ sĩ khác với tư cách như là Ujidera. Tuy nhiên, chừng nào xã hội phong kiến còn tiếp tục, chùa dòng họ còn tồn tại và có thể được tìm thấy thậm chí ở đầu thời kỳ cận đại dưới dạng các ngôi chùa kỉ niệm (bodaiji-Bồ đề tự) và chùa cầu nguyện (kiganji-Kỳ nguyện tự).

Tôn giáo và quyền lực của các lãnh chúa trang viên

Lãnh chúa trang viên (shoen ryoshu-Trang viên lãnh chúa) có thể được phân biệt với các lãnh chúa địa phương (zaichi ryoshu) ở điểm rằng lãnh chúa trang viên có uy quyền và địa vị cực kỳ cao, là thành viên của một trong số các nhóm ưu tú hay các bè phái cùng cai trị Nhật Bản (Kenmon Seika-Quyền môn thế gia). Thông thường các lãnh chúa trang viên sống ở các thành phố (Kyoto hay Nara) và có ảnh hưởng chung trong các lĩnh vực truyền thống về quyền lực bao gồm quản trị, tôn giáo và văn hóa. Họ có đất đai ở khắp đất nước và được cung phụng bởi các cư dân trang viên. Các lãnh chúa Trang viên có thẩm quyền cao nhất đối với đất đai không phải bởi sự xuất sắc về kiểm soát khu vực một cách cá nhân và cai trị các cư dân của nó một cách trực tiếp thông qua lực lượng vũ trang (giống như trường hợp các lãnh chúa địa phương) mà bằng sự xuất sắc về vị trí chính trị cao và những ảnh hướng lớn. Do đó chính quyền lực  được thu nhận của họ là thứ đáng kể nhất. Tất nhiên kiểm soát đất đai không chỉ nằm hoàn toàn ở  quyền thu nhận được bởi vì  lực lượng vũ trang đôi khi là cần thiết để kiểm soát các cư dân nông dân và chính vì mục đích đó mà thành viên của tầng lớp Zaichi ryoshu (lãnh chúa sống ở địa phương-người dịch) được chỉ định là các quan chức trang viên. Kiểm soát cũng có thể được sử dụng bằng việc kêu gọi lực lượng của viên thống lĩnh  hoàng gia hoặc người đứng đầu võ sĩ ở trong tỉnh. Cuối cùng, các lãnh chúa trang viên cai trị các cư dân bao gồm võ sĩ, nông dân, thương nhân… trong vai trò của người có thẩm quyền cao hơn.

Trong thời kỳ trung đại, tất cả những người có quyền lực  đều tiêu biểu (là hiện thân) cho đặc trưng  tôn giáo ở mức nào đó. Quyền lực  của lãnh chúa trang viên cũng không là ngoại lệ. Uy quyền chính trị tập trung của giới quý tộc được chống lưng bởi đạo luật Phật giáo (buppo-Phật pháp), thứ bảo vệ về tinh thần đối với đạo luật của kẻ cai trị (obo-Vương pháp). Trong cung điện hoàng gia có các ngôi chùa cầu nguyện hoàng gia và các ngôi chùa, đền thờ thần đạo lớn là những người bảo vệ của nhà nước. Tương tự như thế trong các ngôi nhà quý tộc có các ngôi chùa dòng họ và các vị thần bảo hộ. Thêm nữa, bản thân các đền thờ Thần đạo và chùa lớn cũng đóng vai trò như là các lãnh chúa trang viên và trong những trường hợp như thế thật khó để tách bạch quyền lực  của lãnh chúa khỏi quyền uy tôn giáo. Những ngôi chùa lớn như vậy đều thuộc môn phái Hiển mật (kenmitsu) của Cựu Phật giáo. Do đó tất các trang viên đều có liên quan bằng một vài cách với môn phái Kenmitsu trực tiếp hoặc thông qua một lãnh chúa quý tộc. Những ngoại lệ đối với quy tắc này là các trang viên thuộc các chùa Rinzai Zen (đặc biệt là nhóm Gozan dưới sự bảo hộ của tướng quân), nơi mà vào nửa sau thời kỳ trung đại đã được thêm vào hàng ngũ của các lãnh chúa trang viên.

 Đất chùa

Nói chung thẩm quyền đối với Shoen được cơ cấu theo lối từng lớp, được chia ra giữa những người ưu tú nắm giữ độc quyền (honke-Bản gia) và quyền lãnh chúa (ryoke-Lãnh gia). Một cách rất thông thường, nếu gia đình hoàng gia nắm giữ độc quyền trung tâm thì sau đó quyền lãnh chúa được nắm giữa bởi các ngôi chùa lớn như Enrayku-ji trên đỉnh Hiei, To-ji ở Kyoto, Kongobu-ji trên đỉnh Koya hoặc những nơi kỷ niệm của hoàng gia hay các chùa cầu nguyện như sáu ngôi chùa Rikusho-ji ở Kyoto. Trong những trường hợp nơi các quan nhiếp chính Fujiwara nắm giữ độc quyền trung tâm, quyền lãnh chúa thông thường thuộc về các ngôi chùa dòng họ như Kofuku-ji ở Nara hoặc Hojo-ji ở Kyoto. Những quyền sau chót đối với việc kiểm soát và quản trị một vùng đất được biết đến như là Shomuken (Trang vụ quyền), có thể được đặt vào người chủ trung ương hoặc là lãnh chúa. Khi các ngôi chùa nắm các quyền này, sự kiểm soát của họ đối với trang viên nghiêm ngặt hơn các quý tộc. Khái niệm “trang viên chùa” chỉ bất cứ trang viên nào ở đó thẩm quyền được sử dụng trong dạng thức này khác bởi ngôi chùa điển hình nhất là trang viên nơi ngôi chùa nắm các quyền quản lý, quản trị.

Trong trường hợp các trang viên chùa, các quan chức cư trú nhưng người tực tiếp quản lý các sự kiện của trang viên được chỉ định bởi những người chủ trì ngôi chùa. Đất trồng trang viên được định rõ để đảm đương được chi phí của nó hoặc các lễ nghi Phật giáo. Quyền chủ nhà đối với nó được chia ra và được chỉ định dành cho thu nhập của các vị chủ trì. Các nguyên liệu đặc biệt cần thiết cho các lễ kỷ niệm của ngôi chùa được lấy từ những người nông dân như là thuế; và các mảnh đất dành cho mục đích đó cũng được chuẩn hóa và tổ chức. Do đó toàn bộ trang viên được dành cho công việc kinh doanh của Phật giáo, những người nông dân phụ thuộc vào chùa và lao động của người nông dân được coi như là phục vụ Phật giáo. Bằng biểu hiện tương tự, bất cứ sự đối lập nào đối với lãnh chúa cũng được nhìn nhận là sự mời gọi sự báo thù của Phật giáo. Thêm nữa, tầng lớp đứng đầu của nông dân được ban địa vị đặc biệt và tước vị (Yorido-kì nhân, kugonin-cung ngự nhân, jinin-tự nhân, jinnin-thần nhân) diễn tả sự phục vụ đối với thần và phật. Do vậy những người nông dân, trung tâm của cộng đồng làng, được kết hợp vào cấu trúc kiểm soát của lãnh chúa địa phương thông qua sự trung gian của tôn giáo.

Trong khi thẩm quyền tôn giáo được  sử dụng một cách tôn giáo và dựa trên nền tảng hàng ngày, nó được viện dẫn trực tiếp hơn trong các tình huống khẩn cấp như khi những người nông dân nổi lên chống lại thẩm quyền của trang viên. Chủ trì của ngôi chùa hoặc những người phục vụ đền Thần đạo có thể xuất hiện trước những người nông dân cả tin đang chịu đựng những đặc trưng của quỷ, tràng hạt và sự nguyền rủa lầm bầm. Điều này có thể được theo sau bởi bạo lực, đe dọa ứng xử đối với phần việc của chủ trì trong ngôi chùa chính. Thậm chí đôi khi hình phạt tử hình được thực thi dưới danh nghĩa Phật.

Các ngôi chùa chi nhánh và đền thờ thần đạo

Niềm tin ma thuật và đa thần của người nông dân do đó tương đối thuận lợi cho những người cai trị trang viên; chúng cũng thuận tiện cho các lãnh chúa trang viên của các trường phái Cựu Phật giáo trong việc đưa ra các quy tắc về hệ thống tôn giáo và môn phái. Thậm chí trước khi đất đai tồn tại những người nông dân đã coi vô số các vị thần, phật  là thiêng liêng trong làng. Và cũng dưới sự cai trị của lãnh chúa địa phương họ sẽ xây dựng các nhà nguyện để thờ cúng hoặc là tổ chức nghi lễ khi có những điềm tốt đến đột ngột một cách tương đối độc lập với lãnh chúa. Được sùng bái đặc biệt là các vị thần, phật gắn với các huyền thoại và sấm truyền, ở đó thực thể siêu nhiên -những huyền thoại dường như hợp lý- trở thành sự hiện hình của phật hoặc bồ tát của ngôi chùa kiểm soát vùng đất đó. Đặc biệt được khẩn khoản là các vị phật hoặc thần bảo hộ của các ngôi chùa sở hữu trang viên và đền thờ thần đạo như Hachiman, Kasuga và Hie. Các bậc tu hành từ các ngôi chùa lãnh chúa có xu hướng được chuyển nhượng (chỉ định, phân công) tới các ngôi chùa khác nhỏ hơn nằm trong đất đai của chùa vì vậy mối liên hệ giữa chùa lớn và các chùa nhỏ được thiết lập ở cả phương diện tôn giáo và con người. Trong cách này các tu viện và các tòa nhà thờ cúng trong trang viên được sát nhập vào phạm vi ảnh hưởng của các ngôi chùa lãnh chúa và cuối cùng duy trì trạng thái như là các ngôi chùa chi nhánh. Tương tự như vậy, các ujidera đa cung cấp một công cụ để kiểm soát các lãnh chúa địa phương nổi loạn ở một mức độ nào đó thông qua ảnh hưởng của tôn giáo. Đối với lãnh chúa tôn giáo, các ngôi chùa và đền thờ thần đạo chi nhánh là công cụ cai trị cực kỳ quan trọng và được nhìn nhận,  cùng với  đất đai của họ đã được sát nhập, như là một dạng tài sản (và thậm chí còn được ghi chép như thế trong các bảng kê về trang viên trung đại).

Sự kiểm soát này-thứ mà các ngôi chùa lớn tiến hành thông qua các ngôi chùa chi nhánh đã được áp dụng cho không chỉ đất đai của chùa mà còn được áp dụng đối với đất đai của quý tộc ở một chừng mực nào đó. Các dòng họ quý tộc như đã bàn đến ở trên, đã có mối quan hệ gần gũi đối với các ngôi chùa lớn của phái Hiển mật (Kenmitsu) và thậm chí đã ban tặng quyền đối với một vài loại thuế nhất định cho các ngôi chùa trên đất của họ. Do đó các làng trang viên ở khắp quốc gia đã được đưa vào một mạng lưới phức tạp bao gồm các ngôi chùa, đền thờ thần đạo chính và chi nhánh. Sự tồn tại của mạng lưới này là một yếu tố trung tâm của việc thực thi thẩm quyền bởi các cơ sở tôn giáo lớn. Tuy nhiên, tách rời khỏi tất cả điều này là các ngôi chù và các tòa nhà tu tập của phái Tịnh thổ và Thiền và các môn phái khác của Phật giáo thứ, thật đáng ngạc nhiên, vẫn tiếp tục khăng khăng bị cấm đụng vào đất đai chùa.

[1] Vào thế kỷ 14, Kakunyo phê phán chúng như là các hành động dị giáo bởi vì chúng cố gắng  sinh ra công trạng  cho những  người thân thuộc đã chết, chệch khỏi tư tưởng Phật Amida là nguồn gốc của tất cả công trạng.



 (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản 1996 23/3-4. )

Tác giả: Kuroda Toshio

Nguyễn Quốc Vương  dịch  từ bản tiếng Anh của Suzanne GAY

(Bài báo này được dịch từ bài báo “Shoensei shakai to Bukkyo” –Xã hội chế độ trang viên và Phật giáo-, được in lại trong Kenmitsu taiseiron- Bàn về thể chế Hiển mật, Kuroda Toshio chosaku shu 2- Tuyển tập tác phẩm Kuroda Toshio  2, Kyoto: Hozokan, 1994, trang 3-44).

Các tổ chức cộng đồng làng và tôn giáo

Như đã đề cập trước đó, các ngôi chùa nông thôn trong thời kỳ trung đại không phải tất cả đều bắt đầu như là tòa nhà thờ cúng của làng hay các tu viện với mối quan hệ gắn bó với cộng đồng. Sự thành lập như thế chỉ xuất hiện sau sự nổi lên của các tổ chức cộng đồng làng. Thậm chí trong vào cuối thời kỳ trung đại có vô số các ngôi chùa – thứ như là sự thiết lập sở hữu ruộng đất ưu tú, đã không có quan hệ với những người nông dân. Một vài, mặc dù được ủng hộ bởi niềm tin tôn giáo của những người nông dân, nằm ngoài mối quan hệ gần gũi với cộng đồng làng (thậm chí bị tẩy chay khỏi cộng đồng làng) bởi vì chúng đã thất bại trong việc thích nghi với môi trường tinh thần trong vùng. Sự bành trướng học thuyết của các môn phái và sự tiếp tục của hệ thống tôn giáo nhóm hay đơn lẻ chắc hẳn đã phụ thuộc vào mối quan hệ của ngôi chùa đối với cộng đồng làng.

Môn phái gọi là Tân phật giáo Kamakura bắt rễ từ các ngôi làng trung đại thế kỉ 14, như là phong trào tự trị, đã trở nên tích cực ở đó. Các mối quan hệ giữa hai thứ trên bắt đầu trong một thứ bề ngoài hơi phức tạp, nhưng ở trong quá trình liên lạc niềm tin và cơ cấu của các môn phái ít bị định hình bởi lời dạy của người lập nên môn phái hơn là bởi thực tế của cộng đồng làng. Ví dụ như rất nhiều dạng thức của môn phái Jodo Shin của phật giáo, cách xa khỏi khái niệm chống đối hiện thế đương thời và nhấn mạnh sự cần thiết gắn bó với địa phương. Điều này về phần mình đã tạo ra sự trỗi dậy của tập tục được công nhận như là dị giáo như thiết lập hai thời điểm xuân phân như là thời gian dành cho sự ẩn dật niệm phật và biến lễ tang và sự sùng bái cái chết trở thành trung tâm của việc thực hành tôn giáo[1]. Cũng chính vào khoảng thời gian này vấn đề nổi lên về việc thờ hay không thờ các vị thần và các cẩm nang thuyết pháp được tạo ra để làm rõ vấn đề này.

Các tổ chức tôn giáo làng đứng sau sự phát triển nhanh chóng của phong trào Ikko ikki vào cuối thời trung đại. Rennyo coi  “bậc tu hành, người già và thủ lĩnh” của tổ chức làng như là những con người chủ chốt trong việc khiến người ta từ bỏ một tôn giáo để theo một tôn giáo khác trong làng. Trong sự mở rộng của phong trào Lotus (Nhật Liên-người dịch), một vài ngôi làng bắt đầu trở thành làng Nhật Liên hoàn toàn. Mặc dù chúng ta không nên đánh đồng các tổ chức giáo phái như thế với các tổ chức cộng đồng làng và mặc dù chúng ta phải đặt ra câu hỏi chính xác xem các lời chỉ dạy của các môn phái đó thích hợp với những người nông dân như thế nào nhưng cũng cần chú ý rằng các môn phái này biểu thị mối quan tâm lớn tới các tổ chức cộng đồng và trong quyền lực của nó để kiểm soát và điều chỉnh và thể hiện kĩ năng tuyệt vời trong việc sử dụng chúng cho mục đích làm người khác từ bỏ tôn giáo này theo tôn giáo khác.

Cấu trúc gia trưởng của cộng đồng làng trung đại rất quan trọng trong  việc quan tâm tới tôn giáo làng. Đối với việc việc kiểm soát tổ chức cộng đồng được nắm bởi các phú nông giàu có có đặc quyền, luôn luôn có mối nguy hiểm rằng tôn giáo sẽ bị cấm đoán bởi các quy tắc của tổ chức và sẽ bị khuất phục bởi sự đàn áp giai cấp trong cái tên của tổ chức. Do đó đặc điểm giai tầng của cộng đồng làng trung đại là nhân tố hạn chế lớn nhất đối với các tổ chức tôn giáo. Được lãnh đạo bởi những thành viên giàu có hơn trong cộng đồng, chúng không thuần túy là các tổ chức nông dân mặc dù chúng sở hữu những đặc điểm nông dân nhất định. Hơn nữa, chúng có thể bị tổn thương đối với mối quan tâm của các võ sĩ địa phương và các nhà lãnh đạo nông dân và đã bị lợi dụng trong các trận chiến cuối thế kỷ 16 giữa các lãnh chúa.

Mặc dù các ngôi chùa làng và các tu viện tương đối không giống các tòa nhà thờ cúng trong làng, vào cuối thời kỳ trung đại chúng cũng trở thành nơi liên hiệp tôn giáo (Shukyo Ikki) và thể hiện nhiều xu hướng tương tự. Đó là vì chúng không chỉ thực hiện nhiều chức năng cộng đồng tương tự như tòa nhà thờ cúng trong làng mà đồng thời chúng cũng giữ các bộ kinh phật chi tiết và ban lời cầu nguyện cho các lãnh chúa lớn và các võ sĩ đứng đầu khác. Bằng việc lựa chọn các thủ lĩnh võ sĩ, họ đã xác định số phận của cộng đồng làng trung đại trong nhiều trường hợp. Các tấm áp phích cấm đoán, thứ mà các lãnh chúa trong vùng ban cho các ngôi làng như là phần thưởng dành cho những lời cầu nguyện ủng hộ, có thể đã đảm bảo cho hòa bình của ngôi làng ở vài lĩnh vực, nhưng chúng đã cho phép các lãnh chúa có được sự kiểm soát đối với cộng đồng và những người lính nghĩa vụ cũng như những người lính bộ binh.

 CÁC LÃNH CHÚA ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC NGÔI CHÙA

 

Tôn giáo của những lãnh chúa địa phương

 

Các võ sĩ thời trung đại khác với các võ sĩ giai đoạn tiền cận đại cơ bản nhất ở điểm họ là các lãnh chúa địa phương sống trong các ngôi làng (Zaichi ryoshu). Cụm từ ryoshu (lãnh chúa) không chỉ đơn giản biểu thị sở hữu ruộng đất: bản thân từ đó ban đầu chỉ người kiếm soát những người nông dân và ruộng đất ở địa phương thông qua sử dụng sức mạnh vật chất. Có rất nhiều mức độ đối với những võ sĩ như thế, trải từ các gia đình lớn ở địa phương – những người nắm trong tay phạm vi lan rộng tới các tỉnh hoặc quận tới các võ sĩ nghèo người chỉ có một chút đất đai. Điển hình nhất là Jito (Địa đầu-người dịch) (quan hành chính địa phương), người trong thời kỳ đầu trung đại đã kiểm soát làng thông qua gia đình và tùy tùng của mình. Jito thường có nguồn gốc là những người lập làng  từ thế kỉ 11 hoặc 12 và đôi khi được gọi là “lãnh chúa cơ bản” (konpon ryoshu) hoặc “lãnh chúa phát triển” (kaihatsu ryoshu- khai phát lãnh chúa). Nói một cách khác, họ không chỉ đơn giản sống trong vùng mà đã gắn bó lâu dài với ngôi làng và gần như được định dạng bởi nguồn gốc của nó. Với sự thăng trầm của thời gian nhiều võ sĩ như thế giành được đất đai mới thông qua các nghĩa vụ và đôi khi họ chuyển tới vùng đất sở hữu mới do đó làm giảm bớt mối quan hệ của họ đối với ngôi làng. Tuy nhiên, “võ sĩ có đất” (kokujin-Quốc nhân và jizamurai- Địa thị)-các võ sĩ tiêu biểu nhất cuối thời kỳ trung đại tiếp tục sống trong các ngôi làng được hỗ trở bởi sự trồng trọt của chính họ. Do đó đặc điểm làng, địa phương của võ sĩ không hoàn toàn mất đi cho tới khi bắt đầu thời kỳ cận đại khi võ sĩ bị di chuyển ra khỏi vùng đất của họ và bị đặt vào các lâu đài lớn.

Như người ta có thể dễ dàng  suy luận từ điều này, các võ sĩ trung đại không khác biệt lớn lao so với những người nông dân  ở một mức độ nào đó bởi vì cảm quan tôn giáo của họ được định hình bởi tư tưởng ma thuật và đa thần. Họ cũng tin vào hiệu quả của các nghi lễ ma thuật để có được mùa màng bội thu, họ cũng thờ cúng và cũng tôn sùng thần và phật. Những sự khác biệt tồn tại trong nhu cầu tôn giáo của họ có liên quan tới mối quan tâm của họ như là thành viên của tầng lớp lãnh chúa địa phương, với bổn phận thu thuế những người nông dân và thu thuế, phí hàng năm và với tư cách là võ sĩ thể hiện bản thân trong sự hiểm nguy của các trận đánh và các cuộc đột kích.

 Các ngôi chùa dòng họ võ sĩ

Nhiều cộng đồng nông dân đặt các yêu cầu phong phú của mình vào các vị thần và tòa nhà thờ cúng của làng, các võ sĩ đặt niềm tin của mình vào các vị thần tổ tiên và các ngôi chùa của dòng họ (Ujidera-Thị tự). Như một nguyên tắc, các võ sĩ đầu thời kỳ trung đại đã tạo ra các nhóm ổn định được  cai trị bởi mối quan hệ gắn bó mang tính gia trưởng, dòng họ (được gọi là Soryo-tổng lãnh). Vào khoảng thế kỷ 14 những nhóm võ sĩ này bắt đầu tan rã và từ đó trở về sau sự cai trị rộng trên quy mô tỉnh bởi các lãnh chúa lớn và các dòng họ địa phương nổi trội dần trở thành quy phạm. Các võ sĩ bình thường đã lập ra liên minh lãnh thổ trong các nhóm và liên minh. Tuy nhiên cũng gần như là đồng thời, hệ thống Soryo được tái xây dựng rộng rãi trong thể thức tương đối thoải mái như là các liên minh có cùng dòng máu. Các võ sĩ cá nhân từ các lãnh chúa lớn cho tới những người cư trú trong làng đã lập ra sự liên kết của chính mình. Vì vậy các nhóm võ sĩ gia đình và các kiểu khác đã làm nên đặc điểm của toàn bộ thời trung đại khi coi  sự thờ cúng  các vị thần bảo hộ (Ujigami-thị thần) như là cột trụ tôn giáo của các nhóm gia đình hoặc dòng họ đó. Ujigami là vị thần tổ tiên của dòng họ và là vị thần bảo hộ vùng đất của họ đó theo đó thì đây cũng là vị thần đảm bảo sự tiếp tục tồn tại của dòng họ như là một thực thể thống nhất và có trong tay ruộng đất. Các ngôi chùa dòng họ đã có chức năng gần tương đương như các vị thần bảo hộ và đã được dựng rộng rãi khắp nơi.

Các quý tộc đã xây dựng các ujidera bắt đầu vào thời kỳ Heian; những ujidera này bao gồm Kokufu-ji của dòng họ Fujiwara, Jingo-ji của Wake, Hokkai-ji của Hino và Rokusho-ji (sáu ujidera của dòng họ thiên hoàng ở Kyoto). Tuy nhiên không phải đợi tới nửa sau của thời kỳ Kamakura, các võ sĩ ở các tỉnh bắt đầu xây dựng các ngôi chùa như vậy; trước khi có nó tất nhiên các võ sĩ đã theo Phật giáo nhưng biểu hiện niềm tin của họ không bao gồm việc dựng các Ujidera.

Các võ sĩ theo Phật giáo thường có từ cuộc chiến tranh giữa dòng họ Taira và Minamoto vào thế kỷ 12. Không phải là huyền thoại mà là sự thật rằng các trận chiến đã cung cấp cơ hội cho các võ sĩ nhận ra sự phù du của thế giới này và sự nghiêm trọng của những sai lầm mà họ đang làm. Nhưng cũng có những khía cạnh xã hội đối với sự giác ngộ này: một vài người  xuống tóc vì bị sốc mạnh giữa mơ ước của họ và sự khinh bỉ mà họ phải chịu đựng, bị coi như là viên chức nhỏ mọn từ phía nhà nước. Đối với họ cuộc sống của nhà sư có nghĩa là đặt sang một bên ước vọng nguy nga tráng lệ để trở thành thầy tu hành khất lang thang. Tách rời khỏi nhóm của họ, ẩn dật trong núi họ đã tạo ra cho họ sự tồn tại lưu động.

Nói đúng ra, việc có lời thề phật giáo có nghĩa là từ bỏ cương vị đứng đầu dòng họ và trở nên ẩn dật. Tuy nhiên, cũng có khi nó trở thành một dạng nghỉ hưu- các võ sĩ và các góa phụ của võ sĩ sau khi chuyển dinh cơ của dòng họ cho người thừa kế đã không đi khỏi nhà nhưng sống cuộc sống bán ẩn dật như là bậc tu hành dự bị. Bằng việc xây dựng các ngôi chùa nhỏ thờ Phật ở nơi cư trú của các dòng họ, họ đã sống bên lề cuộc sống chồng vợ và những lời an ủi tổ tiên.  Những ngôi chùa như thế là những nguyên mẫu đầu tiên của Ujidera.

Sự ra đời  của các ngôi chùa dòng họ võ sĩ do đó đã cung cấp các nhà sư võ sĩ nghỉ hưu với ý nghĩa duy trì tình trạng thế tục như là lãnh chúa địa phương mặc dù dưới dạng thức khác. Sự thiết lập của họ cũng là sự biểu thị của sự nổi lên vị trí văn hóa và xã hội của võ sĩ ở một chừng mực nhất định khi nó chỉ ra sự hiểu biết tiến bộ về học thuyết phật giáo dựa trên sự sùng bái đơn giản đối với các vị thần. Tuy nhiên thông thường các quy tắc, luật lệ của các ngôi chùa dòng họ nhấn mạnh sự nguyện cầu cho sự khai sáng của tổ tiên và cho sự giàu có, thành công của dòng họ và những người kế vị của nó. Trong cảm quan này, sự thờ cúng trong chùa không khác lắm sự thờ cúng các vị thần bảo hộ trước đó. Như ta có thể thấy từ thực tế rằng sự ra đời của các Ujidera gia tăng trong thế kỷ 14, thời kỳ mà hệ thống cai trị dòng họ (soryosei) chưa được ổn định, mục đích đầu tiên của chúng là tăng cường sự đoàn kết của dòng họ võ sĩ.

 Những người hảo tâm và sự ra đời của các môn phái

Khi các ngôi chùa dòng họ võ sĩ được xây dựng, một nhà sư địa phương sẽ được mời tới để trở thành thầy tế tại gia và đóng vai trò là người sáng lập ngôi chùa. Đôi khi một nhà sư là thầy dạy của các bậc tu hành địa phương sẽ được coi là người sáng lập trên danh nghĩa. Môn phái của hầu hết các ngôi chùa dòng họ có xu hướng là Tịnh thổ hoặc Thiền. Tùy theo thời kỳ và vùng, môn phái Liên (Lotus) và Ji cũng là tiêu biểu. Các ngôi chùa dòng họ không chỉ là những địa điểm quan trọng đối với sự phát triển của các môn phái Phật giáo mới trong vùng mà còn  định vị sự di chuyển của văn hóa từ kinh đô tới các tỉnh.

Tuy nhiên trong sự phân tích cuối cùng, các ngôi chùa dòng họ phụ thuộc vào ngôi nhà của võ sĩ người xây dựng nên ngôi chùa. Võ sĩ là nhà hảo tâm đứng đầu của nó và đôi khi thậm chí ông ta được coi là người sáng lập ngôi chùa. Trong phần lớn các trường hợp đất đai của chùa và các tòa nhà được xây dựng hoặc được bao cấp bởi nhà hảo tâm võ sĩ-người có quyền quản lý và sắp xếp tài sản của ngôi chùa. Bởi vì ujidera đóng vai trò chủ yếu như là ngôi chùa của dòng họ võ sĩ, vị sư chủ trì được nuôi dưỡng để cầu nguyện cho sự trường tồn và giàu có của dòng họ. Ông ta cũng có thể được theo bởi các người nông dân trong vùng nhưng xét về khía cạnh kinh tế và xã hội thì ông ta  nằm dưới sự bảo trợ của dòng họ võ sĩ. Trên thực tế sẽ là không bình thường đối với việc bản thân chủ trì ngôi chùa trở thành thành viên của dòng họ võ sĩ-người đóng vai trò là nhà hảo tâm.

 Vai trò của các ngôi chùa dòng họ

Bất chấp sự phân chia môn phái của chúng, các ngôi chùa dòng họ là các thực thể Phật giáo được gộp vào bên trong hệ thống Soryo hoặc hệ thống lãnh chúa địa phương. Chúng không chỉ tiến hành các nghi lễ phật giáo cho dòng họ võ sĩ mà còn quản lý các nông dân địa phương (mặc dù như là một phần của hệ thống trang viên, các ngôi chùa đồng thời sử dụng sự kiểm soát đối với nông dân dưới lốt hướng dẫn và bảo trợ về tinh thần). Bằng lý do này, kiểu các tòa nhà thờ cúng trong làng đã bàn đến ở phần trước ít phổ biến ở những nơi có Ujidera. Các ngôi đền dòng họ võ sĩ đã đóng chức năng của các tòa nhà thờ cúng và được hiểu như là tổ chức tôn giáo đồng thời là hiện thân quyền lực truyền thống của lãnh chúa địa phương.

Chức năng trung tâm của các ngôi chùa dòng họ là tiến hành kito với những lời cầu nguyện có được lợi ích ở thế giới trần tục. Điều này trở thành một nhân tố đóng góp quan trọng đối với việc nghi lễ hóa tăng lên của các môn phái Phật giáo Kamakura mà tầng lớp võ sĩ cải đạo theo. Tinh thần nguyên thủy của Tân Phật giáo, thứ nhấn mạnh sự từ bỏ thế giới và tìm kiếm sự thật trong sự khổ hạnh, đã bị thoái lui như là sự tin cậy của phong trào đối với sự gia tăng  uy quyền của các trang viên. Trong những cố gắng để đáp ứng nhu cầu ma thuật của các lãnh chúa thông qua việc tiến hành kito, các môn phái Tân Phật giáo nhất định đã hấp thụ các yếu tố sùng bái thần và diện mạo thần bí.

Các ngôi chùa dòng họ cũng dẫn tới sự tồn tại có chút gì đó không bền vững. Sự xác định môn phái của chúng có thể thay đổi dựa trên ý thích chợt nảy ra của nhà hảo tâm-võ sĩ. Nếu như nhà võ sĩ chịu đựng số phận suy sụp hoặc  tuyệt tự, ngôi chùa dòng họ đó có thể sẽ đóng cửa hoàn toàn hoặc bị chuyển thành ngôi chùa địa phương dưới sự kiểm soát của những người trong làng. Trong một vài trường hợp các ngôi chùa như vậy được kiểm soát bởi các võ sĩ khác với tư cách như là Ujidera. Tuy nhiên, chừng nào xã hội phong kiến còn tiếp tục, chùa dòng họ còn tồn tại và có thể được tìm thấy thậm chí ở đầu thời kỳ cận đại dưới dạng các ngôi chùa kỉ niệm (bodaiji-Bồ đề tự) và chùa cầu nguyện (kiganji-Kỳ nguyện tự).

Tôn giáo và quyền lực của các lãnh chúa trang viên

Lãnh chúa trang viên (shoen ryoshu-Trang viên lãnh chúa) có thể được phân biệt với các lãnh chúa địa phương (zaichi ryoshu) ở điểm rằng lãnh chúa trang viên có uy quyền và địa vị cực kỳ cao, là thành viên của một trong số các nhóm ưu tú hay các bè phái cùng cai trị Nhật Bản (Kenmon Seika-Quyền môn thế gia). Thông thường các lãnh chúa trang viên sống ở các thành phố (Kyoto hay Nara) và có ảnh hưởng chung trong các lĩnh vực truyền thống về quyền lực bao gồm quản trị, tôn giáo và văn hóa. Họ có đất đai ở khắp đất nước và được cung phụng bởi các cư dân trang viên. Các lãnh chúa Trang viên có thẩm quyền cao nhất đối với đất đai không phải bởi sự xuất sắc về kiểm soát khu vực một cách cá nhân và cai trị các cư dân của nó một cách trực tiếp thông qua lực lượng vũ trang (giống như trường hợp các lãnh chúa địa phương) mà bằng sự xuất sắc về vị trí chính trị cao và những ảnh hướng lớn. Do đó chính quyền lực  được thu nhận của họ là thứ đáng kể nhất. Tất nhiên kiểm soát đất đai không chỉ nằm hoàn toàn ở  quyền thu nhận được bởi vì  lực lượng vũ trang đôi khi là cần thiết để kiểm soát các cư dân nông dân và chính vì mục đích đó mà thành viên của tầng lớp Zaichi ryoshu (lãnh chúa sống ở địa phương-người dịch) được chỉ định là các quan chức trang viên. Kiểm soát cũng có thể được sử dụng bằng việc kêu gọi lực lượng của viên thống lĩnh  hoàng gia hoặc người đứng đầu võ sĩ ở trong tỉnh. Cuối cùng, các lãnh chúa trang viên cai trị các cư dân bao gồm võ sĩ, nông dân, thương nhân… trong vai trò của người có thẩm quyền cao hơn.

Trong thời kỳ trung đại, tất cả những người có quyền lực  đều tiêu biểu (là hiện thân) cho đặc trưng  tôn giáo ở mức nào đó. Quyền lực  của lãnh chúa trang viên cũng không là ngoại lệ. Uy quyền chính trị tập trung của giới quý tộc được chống lưng bởi đạo luật Phật giáo (buppo-Phật pháp), thứ bảo vệ về tinh thần đối với đạo luật của kẻ cai trị (obo-Vương pháp). Trong cung điện hoàng gia có các ngôi chùa cầu nguyện hoàng gia và các ngôi chùa, đền thờ thần đạo lớn là những người bảo vệ của nhà nước. Tương tự như thế trong các ngôi nhà quý tộc có các ngôi chùa dòng họ và các vị thần bảo hộ. Thêm nữa, bản thân các đền thờ Thần đạo và chùa lớn cũng đóng vai trò như là các lãnh chúa trang viên và trong những trường hợp như thế thật khó để tách bạch quyền lực  của lãnh chúa khỏi quyền uy tôn giáo. Những ngôi chùa lớn như vậy đều thuộc môn phái Hiển mật (kenmitsu) của Cựu Phật giáo. Do đó tất các trang viên đều có liên quan bằng một vài cách với môn phái Kenmitsu trực tiếp hoặc thông qua một lãnh chúa quý tộc. Những ngoại lệ đối với quy tắc này là các trang viên thuộc các chùa Rinzai Zen (đặc biệt là nhóm Gozan dưới sự bảo hộ của tướng quân), nơi mà vào nửa sau thời kỳ trung đại đã được thêm vào hàng ngũ của các lãnh chúa trang viên.

 Đất chùa

Nói chung thẩm quyền đối với Shoen được cơ cấu theo lối từng lớp, được chia ra giữa những người ưu tú nắm giữ độc quyền (honke-Bản gia) và quyền lãnh chúa (ryoke-Lãnh gia). Một cách rất thông thường, nếu gia đình hoàng gia nắm giữ độc quyền trung tâm thì sau đó quyền lãnh chúa được nắm giữa bởi các ngôi chùa lớn như Enrayku-ji trên đỉnh Hiei, To-ji ở Kyoto, Kongobu-ji trên đỉnh Koya hoặc những nơi kỷ niệm của hoàng gia hay các chùa cầu nguyện như sáu ngôi chùa Rikusho-ji ở Kyoto. Trong những trường hợp nơi các quan nhiếp chính Fujiwara nắm giữ độc quyền trung tâm, quyền lãnh chúa thông thường thuộc về các ngôi chùa dòng họ như Kofuku-ji ở Nara hoặc Hojo-ji ở Kyoto. Những quyền sau chót đối với việc kiểm soát và quản trị một vùng đất được biết đến như là Shomuken (Trang vụ quyền), có thể được đặt vào người chủ trung ương hoặc là lãnh chúa. Khi các ngôi chùa nắm các quyền này, sự kiểm soát của họ đối với trang viên nghiêm ngặt hơn các quý tộc. Khái niệm “trang viên chùa” chỉ bất cứ trang viên nào ở đó thẩm quyền được sử dụng trong dạng thức này khác bởi ngôi chùa điển hình nhất là trang viên nơi ngôi chùa nắm các quyền quản lý, quản trị.

Trong trường hợp các trang viên chùa, các quan chức cư trú nhưng người tực tiếp quản lý các sự kiện của trang viên được chỉ định bởi những người chủ trì ngôi chùa. Đất trồng trang viên được định rõ để đảm đương được chi phí của nó hoặc các lễ nghi Phật giáo. Quyền chủ nhà đối với nó được chia ra và được chỉ định dành cho thu nhập của các vị chủ trì. Các nguyên liệu đặc biệt cần thiết cho các lễ kỷ niệm của ngôi chùa được lấy từ những người nông dân như là thuế; và các mảnh đất dành cho mục đích đó cũng được chuẩn hóa và tổ chức. Do đó toàn bộ trang viên được dành cho công việc kinh doanh của Phật giáo, những người nông dân phụ thuộc vào chùa và lao động của người nông dân được coi như là phục vụ Phật giáo. Bằng biểu hiện tương tự, bất cứ sự đối lập nào đối với lãnh chúa cũng được nhìn nhận là sự mời gọi sự báo thù của Phật giáo. Thêm nữa, tầng lớp đứng đầu của nông dân được ban địa vị đặc biệt và tước vị (Yorido-kì nhân, kugonin-cung ngự nhân, jinin-tự nhân, jinnin-thần nhân) diễn tả sự phục vụ đối với thần và phật. Do vậy những người nông dân, trung tâm của cộng đồng làng, được kết hợp vào cấu trúc kiểm soát của lãnh chúa địa phương thông qua sự trung gian của tôn giáo.

Trong khi thẩm quyền tôn giáo được  sử dụng một cách tôn giáo và dựa trên nền tảng hàng ngày, nó được viện dẫn trực tiếp hơn trong các tình huống khẩn cấp như khi những người nông dân nổi lên chống lại thẩm quyền của trang viên. Chủ trì của ngôi chùa hoặc những người phục vụ đền Thần đạo có thể xuất hiện trước những người nông dân cả tin đang chịu đựng những đặc trưng của quỷ, tràng hạt và sự nguyền rủa lầm bầm. Điều này có thể được theo sau bởi bạo lực, đe dọa ứng xử đối với phần việc của chủ trì trong ngôi chùa chính. Thậm chí đôi khi hình phạt tử hình được thực thi dưới danh nghĩa Phật.

Các ngôi chùa chi nhánh và đền thờ thần đạo

Niềm tin ma thuật và đa thần của người nông dân do đó tương đối thuận lợi cho những người cai trị trang viên; chúng cũng thuận tiện cho các lãnh chúa trang viên của các trường phái Cựu Phật giáo trong việc đưa ra các quy tắc về hệ thống tôn giáo và môn phái. Thậm chí trước khi đất đai tồn tại những người nông dân đã coi vô số các vị thần, phật  là thiêng liêng trong làng. Và cũng dưới sự cai trị của lãnh chúa địa phương họ sẽ xây dựng các nhà nguyện để thờ cúng hoặc là tổ chức nghi lễ khi có những điềm tốt đến đột ngột một cách tương đối độc lập với lãnh chúa. Được sùng bái đặc biệt là các vị thần, phật gắn với các huyền thoại và sấm truyền, ở đó thực thể siêu nhiên -những huyền thoại dường như hợp lý- trở thành sự hiện hình của phật hoặc bồ tát của ngôi chùa kiểm soát vùng đất đó. Đặc biệt được khẩn khoản là các vị phật hoặc thần bảo hộ của các ngôi chùa sở hữu trang viên và đền thờ thần đạo như Hachiman, Kasuga và Hie. Các bậc tu hành từ các ngôi chùa lãnh chúa có xu hướng được chuyển nhượng (chỉ định, phân công) tới các ngôi chùa khác nhỏ hơn nằm trong đất đai của chùa vì vậy mối liên hệ giữa chùa lớn và các chùa nhỏ được thiết lập ở cả phương diện tôn giáo và con người. Trong cách này các tu viện và các tòa nhà thờ cúng trong trang viên được sát nhập vào phạm vi ảnh hưởng của các ngôi chùa lãnh chúa và cuối cùng duy trì trạng thái như là các ngôi chùa chi nhánh. Tương tự như vậy, các ujidera đa cung cấp một công cụ để kiểm soát các lãnh chúa địa phương nổi loạn ở một mức độ nào đó thông qua ảnh hưởng của tôn giáo. Đối với lãnh chúa tôn giáo, các ngôi chùa và đền thờ thần đạo chi nhánh là công cụ cai trị cực kỳ quan trọng và được nhìn nhận,  cùng với  đất đai của họ đã được sát nhập, như là một dạng tài sản (và thậm chí còn được ghi chép như thế trong các bảng kê về trang viên trung đại).

Sự kiểm soát này-thứ mà các ngôi chùa lớn tiến hành thông qua các ngôi chùa chi nhánh đã được áp dụng cho không chỉ đất đai của chùa mà còn được áp dụng đối với đất đai của quý tộc ở một chừng mực nào đó. Các dòng họ quý tộc như đã bàn đến ở trên, đã có mối quan hệ gần gũi đối với các ngôi chùa lớn của phái Hiển mật (Kenmitsu) và thậm chí đã ban tặng quyền đối với một vài loại thuế nhất định cho các ngôi chùa trên đất của họ. Do đó các làng trang viên ở khắp quốc gia đã được đưa vào một mạng lưới phức tạp bao gồm các ngôi chùa, đền thờ thần đạo chính và chi nhánh. Sự tồn tại của mạng lưới này là một yếu tố trung tâm của việc thực thi thẩm quyền bởi các cơ sở tôn giáo lớn. Tuy nhiên, tách rời khỏi tất cả điều này là các ngôi chù và các tòa nhà tu tập của phái Tịnh thổ và Thiền và các môn phái khác của Phật giáo thứ, thật đáng ngạc nhiên, vẫn tiếp tục khăng khăng bị cấm đụng vào đất đai chùa.

[1] Vào thế kỷ 14, Kakunyo phê phán chúng như là các hành động dị giáo bởi vì chúng cố gắng  sinh ra công trạng  cho những  người thân thuộc đã chết, chệch khỏi tư tưởng Phật Amida là nguồn gốc của tất cả công trạng.

(còn tiếp) 


Cũ hơn Mới hơn