Vương pháp và Phật pháp (1)

Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo Nhật Bản số 23 tháng 3, 4 năm 1996

Tác giả Kuroda Toshio

Dịch sang tiếng Anh bởi Jacqueline I.Stone

Nguyễn Quốc Vương dịch sang tiếng Việt.

Bài báo này là bản dịch của bài “Obo to buppo” (Vương pháp và Phật pháp) (1983, trang 8-22, 1994 trang 185-96) (ghi chú của người dịch: Tôi đã từng học theo Neil McMULLIN (1984) trong việc dịch các từ khóa trong tiểu luận này, Obo và buppo được dịch là “Imperial law” và “Buddist law”. Tất cả các ghi chú là do dịch giả thêm vào. Các tiêu đề phụ là do biên tập viên thêm vào)

Phật giáo thường được xem xét thuần túy trong giới hạn trí tuệ hay tinh thần. Tuy nhiên, đặc biệt là ở trong các phương diện tổ chức Phật giáo giống như các truyền thống tôn giáo khác đã có gắn bó gần gũi với uy quyền chính trị và nếu bỏ qua điều này sẽ là sự xuyên tạc lịch sử của Phật giáo. Để bắt đầu sửa lại sự thiếu vắng học thuật về chủ đề này, Kuroda Toshio đã khám phá trong bài báo các khái niệm cặp đôi về obo (vương pháp) và buppo (Phật pháp) như là cơ cấu biểu hiện đối với việc khám phá vai trò chính trị của Phật giáo trong bối cảnh lịch sử Nhật Bản. Chủ thuyết về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vương pháp và phật pháp (obo buppo soi) đã nổi lên vào khoảng nửa sau thế kỉ 11 cùng với sự phát triển của hệ thống trang viên (shoen seido). Giống như là các chủ đất đầy quyền lực, các tổ hợp chùa-đền thờ thần đạo của Nhật Bản thời kỳ đầu thời trung đại bao gồm lực lượng chính trị – thứ định kì thử thách uy quyền của thiên hoàng, triều đình, và các gia đình võ sĩ đứng đầu nhưng mặt khác cũng lại hợp tác với các nhóm có ảnh hưởng trong hệ thống cai trị bị chia sẻ. Hệ thống này tích cực can dự vào các cơ sở Phật giáo trong việc duy trì nguyên trạng và bị chỉ trích bằng nhiều cách khác nhau bởi các nhà lãnh đạo của phong trào Phật giáo mới Kamakura, những người đã quả quyết rằng Phật pháp nên vượt qua uy quyền thế tục. Tuy nhiên, những sự phê bình như thế chưa bao giờ được thi hành đầy đủ và sau thời trung đại, Phật giáo đã trở nên suy thoái dưới sự lấn át của sức mạnh chính quyền trung ương. Mối quan hệ của Phật giáo với uy quyền chính trị là vấn đề rắc rối trong lịch sử Nhật Bản và vẫn chưa được giải quyết cho đến tận ngày nay.

Phật giáo được coi là thế giới rộng lớn, tự nhiên thuộc về phương diện tách khỏi uy quyền chính phủ, vượt qua chính trị và ly khai khỏi quyền lực. Do lý do này khi ai đó điều tra mối quan hệ giữa Phật giáo với quyền lực chính trị trong quá khứ, sẽ có những người cau mày với những nỗ lực coi đó như là sự phơi bày vô vị các khiếm khuyết của thiếu số sai lầm hoặc như là sự tùy tiện trong việc xét đoán Phật giáo trong các khái niệm chính trị thuần túy. Những sự phê phán như thế tất nhiên không được phép suy ngẫm về Phật giáo trong cái vỏ phi chính trị này. Tuy nhiên, giống như  hầu hết các tôn giáo khác, Phật giáo trải qua lịch sử lâu đời của mình đã có vô số dạng thức cộng tác và thỏa thuận với quyền lực chính trị. Thậm chí ngày nay, có một vài người khẳng định rằng nó nên chủ động gia nhập chính trị. Nói chung, mối quan hệ của Phật giáo với quyền lực chính trị chiếm một phần quan trọng trong lịch sử của nó thứ không thể bỏ qua. Thái độ người ta né tránh đụng chạm đến mối quan hệ này có thể được xem như là một trong những dạng thức đặc biệt mà mối quan hệ này sở hữu.

Theo tôi, tách khỏi  một số rất ít các cá nhân, vấn đề mối quan hệ của Phật giáo với  quyền lực chính trị xét ở chỉnh thể đã không được định vị thích hợp trong Nhật Bản hiện đại bởi bản thân các đệ tử Phật giáo hoặc là bởi các học giả trong lịch sử Phật giáo và việc nghiên cứu trong lĩnh vực này là công việc rất khó khăn. Nếu có gì đó mọi người dường như có ý nghĩ thận trọng để tránh thừa nhận trực tiếp quyền lực chính trị và do đó thỏa hiệp với uy quyền của nó, và rút cục thì tán thành hệ thống chính trị. Kết quả là chúng ta thiếu đi đường hướng đúng đắn trong nghiên cứu và phương pháp dành cho phân tích mối quan hệ giữa Phật giáo và quyền lực chính trị đặc biệt là trong bối cảnh lịch sử Nhật Bản giống như là sự tách biệt hiện đại giữa nhà thờ và nhà nước hoặc là quan điểm về tự do tôn giáo. Chủ đề mà tôi đưa ra ở đây- “vương pháp và Phật pháp” là sự ứng phó với vấn đề mà ở đó đường hướng như thế vẫn chưa được xác lập vững chắc.

Khi Phật giáo bắt đầu với sự đắc đạo của  Sakyamuni, khỏi cần phải nói, nó độc lập với tất cả uy quyền thế tục. Tuy nhiên, trong các thế kỉ từ sự nổi lên của Phật giáo ban đầu cho tới sự phát triển của Mahayana, Phật giáo Ấn Độ đã giữ một vị trí rạch ròi với mối quan tâm tới quyền lực chính trị và nhà nước. Hình ảnh về nhà nước lý tưởng đã được làm sáng tỏ trong thực tế nhiều lần. Nói một cách đơn giản, tư tưởng này coi mọi người hay đất đai như là trung tâm của nhà nước, nhấn mạnh sự biểu diễn của các nghi lễ nhằm xua đuổi thiên tai khỏi quốc gia và đối với người cai trị, tán dương nhà vua hiền triết  người đã bình định quốc gia bằng việc lan truyền các huyền thoại phật pháp-thứ mà một vài trong số đó được lấy từ nguyên mẫu là nhà vua Asoka. Nói tóm lại, cơ sở của ý tưởng là sự bảo vệ mọi người và vùng đất khỏi thiên tai và cai trị quốc gia bằng chính pháp (True Dharma). Nhưng thậm chí cho dù khái niệm nhà nước này được đặt ra trước đó, không có người cầu nguyện nào được trao toàn quyền hay là người cai trị. Như thế người ta có thể nói đó là đặc điểm của thái độ phật giáo Ấn Độ đối với nhà nước.

Tuy nhiên, sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, nó đã có những thay đổi đáng kể. Phật giáo Trung Quốc đã có sự khởi đầu trong thời kỳ Nam-Bắc triều nhưng sự phát triển lớn của nó diễn ra kể từ triều vua Wen-ti của nhà Tùy, trong suốt các triều Tùy, Đường và Tống. Tất cả các trường phái như Tien-tai, Fa-hsiang, Hua-yen, mật giáo, Tịnh Thổ giáo, Ch’an đều phát triển thể hiện các đặc điểm Trung Hoa rõ rệt. Do mối quan hệ của Phật giáo với nhà nước hay rõ hơn là với hoàng gia, sự bảo hộ và kiểm soát của Phật giáo là đáng chú ý trong khi ở phương diện Phật giáo, người ta lưu ý tới những tư tưởng tương ứng bảo vệ quốc gia trong cảm quan rằng những lời cầu nguyện được dành cho quyền lực hoàng đế và sự thịnh vượng. Khi các bộ kinh được dịch sang tiếng Trung Quốc, chúng thường bị thay đổi và  mở rộng thêm để nhấn mạnh điều này. Một số lượng các kinh ngụy tạo đề cập vấn đề bảo hộ quốc gia như Chin-kuang-mei ching (Kim quang minh kinh) cũng được tạo ra ở Trung Quốc. Sự miêu tả này cho thấy mô hình của Phật giáo tương thích với bối cảnh Trung Quốc ở đó hệ thống nhà nước được gắn chặt dưới quyền lực hợp nhất rộng lớn của kẻ cai trị đứng đầu. Sự định hướng nhà nước trung ương này cũng được kế thừa và được truyền bá bên trong truyền thống Phật giáo Hàn Quốc.

Phật giáo truyền tới Nhật Bản cổ đại là thuộc kiểu Trung Hoa và Triều Tiên. Ngay như các bộ luật Ritsuryo (nhà nước Luật lệnh-Người dịch), được dựa trên hình mẫu là nhà Đường, được ứng dụng cho tổ chức chính trị, và vì thế Phật giáo tương tự được coi như là một hình mẫu Trung Hoa tồn tại làm vừa lòng nhà nước đứng đầu là hoàng đế. Hệ thống các chùa và trật tự của các nhà sư, ni cô được thiết lập và điều chỉnh bởi nhà nước là một trong những đặc điểm nổi bật của nó.

Tuy nhiên, trong Phật giáo của Nhật Bản cổ đại, người ta cũng tìm thấy tư tưởng của những lời cầu nguyện cung cấp cho nhà nước trong cảm quan rằng nó bao gồm cả người dân và đất đai chứ không phải hoàn toàn chỉ có hoàng đế. Nó cũng nói rằng mức độ tự trị nhất định trong các lề thói thường ngày được cho phép trong cuộc sống thường ngày của các ngôi chùa, nhà sư và ni cô. Trong thời kỳ Heian, từ thời Sai cho và Kukai còn sống, Phật giáo vì nhà nước, hoàng đế đã được thuyết giảng nhưng đồng thời người ta cũng tìm thấy nhiều trường hợp các lời cầu nguyện là vì sự thịnh vượng của người dân. Đây là sự thật đằng sau cụm từ “trấn hộ quốc gia” (chingo Kokka). Người ta nên lưu ý rằng nội dung của nó là không cần thiết giống như ở trong Phật giáo Trung Quốc.

Sự ra đời của Phật giáo Nhật Bản

Có rất nhiều ý kiến xung quanh sự ra đời của Phật giáo Nhật Bản. Quả thật, rất khó để khẳng định rằng liệu có tồn tại thứ gì đó đặc biệt có thể gọi là “Phật giáo Nhật Bản” hay không và nếu có thì nó nên được định nghĩa bởi chuẩn mực như thế nào. Với ý định hiện tại, cho phép tôi có cái nhìn khái quát mang tính lịch sử về việc Phật giáo đã bắt rễ như thế nào không phải là ở giữa những nhà tư tưởng đặc biệt hay các elite cai trị chật hẹp mà giữa những người dân rộng lớn ở Nhật Bản. Tôi tin rằng nó là một cách tiếp cận ấn tượng để chú tâm tới những chặng đường qua đó Phật giáo đã trải qua sự hình thành và phát triển trở nên có cơ sở vững chắc.

Khi được nhìn nhận bằng cách này, những gì nằm trong vô số các môn phái của Phật giáo Nhật Bản-thứ hiện tại có vô số các chùa và tín đồ là những gì bắt nguồn từ cái gọi là Tân phật giáo Kamakura. Thêm nữa, phong trào Tân phật giáo Kamakura không còn nghi ngờ gì nữa được hình thành và phát triển bởi tập tục xã hội và tư tưởng của người Nhật Bản do vậy trước hết người ta dường như quá có lý để coi sự hình thành của Tân phật giáo Kamakura như là sự hình thành của chính Phật giáo Nhật Bản như nó vẫn thường được coi là như vậy. Nhưng liệu từ bao giờ tư tưởng của những người sáng lập Tân phật giáo Kamakura và  các nguyên lý của vô số các phong trào được người ta nhận ra trong thực tế? Và hơn thế liệu có các yếu tố lớn hơn được chia sẻ trong thực tế như là đặc điểm chung đối với cả Tân Phật giáo và Cựu Phật giáo? Khi quan tâm tới sự hình thành của Phật giáo Nhật Bản từ quan điểm này, tôi nghĩ sẽ là thích hợp nếu tập trung trước hết vào Phật giáo Heian và sau đó chú ý tới Phật giáo Kamakura như là chặng thứ hai.

Trong giới hạn của các trường phái cụ thể, Phật giáo Heian được chiếm ưu thế bởi hai truyền thống là Tendai và Shingon nhưng chúng không truyền bá rộng rãi ở Nhật Bản trong cùng một dạng thức mà chúng được du nhập tử Trung Quốc. Từ cái nhìn tổng quát thì Tendai, Shingon và trường phái Nara cũng  như Âm dương đạo (onmyodo), tổ chức tôn giáo của các vị thần và nói chung  tất cả các loại yếu tố tôn giáo đều hợp nhất xung quanh chủ nghĩa bí truyền để tạo ra một cơ cấu lớn hơn thứ có thể được gọi là Kenmitsu Bukkyo (Hiển mật phật giáo), một cơ cấu  trong đó chúng phát triển. Các đặc điểm bắt rễ rất sâu của tôn giáo Nhật Bản như nghi lễ cầu nguyện giải nạn (kaji-kito), niệm phật (nenbutsu), sự gắn bó giữa thần địa phương và các vị Phật (Sinbutsu shugo-Thần phật tập hợp), kiêng kị (mono-imi) và bói toán (uranai) tất cả tiếp tục phát triển trong thời kỳ này và cũng lan rộng trong giới thường dân.

Giai đoạn này trải qua một thời gian dài từ đầu thời Heian khoảng đầu thế kỉ 9 qua nửa sau thế kỉ 12. Tuy nhiên, dạng thức của nó không nổi lên hoàn toàn cho tới thế kỉ 11 trong thời kỳ xoay quanh sự chuyển đổi từ  quan nhiếp chính Fujiwara (967-1068) tới chính quyền Insei (1087-1192). Ở chặng này, các học thuyết chính thống quan tâm tới mối quan hệ của nhà nước hoặc quyền lực chính trị và Phật giáo xác định “vương pháp” (obo) và “Phật pháp” (buppo) như là sự tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn và tương trợ lẫn nhau (Obo buppo soiron). Ở đây, như dưới nhà nước Luật lệnh (Ritsuryo) trong thời gian trước đó, vai trò của Phật giáo trong “trấn hộ quốc gia” được nhấn mạnh; Phật giáo thậm chí được nói rằng có thể miễn trừ đối với nhà nước. Bởi lý do đó, có xu hướng nhìn nhận học thuyết này như là “phật giáo nhà nước” thứ đã từng tồn tại trong thời cổ đại. Tuy nhiên, rõ ràng rằng nó không hoàn toàn là một sự nối dài của Phật giáo cổ đại.

Ở góc độ nào đó, diễn giải về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vương pháp và phật pháp rõ ràng đã thừa hưởng những điều giả định trước đó về Phật giáo cổ đại. Tuy nhiên, về cơ bản nó đã hình thành dựa trên hoàn cảnh lịch sử mới. Như đã đề cập phía trên, tất cả các dạng thức tôn giáo đều thống nhất quanh chủ nghĩa bí truyền tạo thành một cơ cấu bao quát gọi là Phật giáo Hiển mật (kenmitsu), trong đó các tín ngưỡng phật giáo riêng rẽ cạnh tranh với nhau để khẳng định bản sắc của mình. Hệ thống này nổi lên hoàn toàn trong thế kỉ 11. Nó phát triển trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau với sự trưởng thành của các tổ chức quản trị trang viên (shoen). Do lý do này một mình phật giáo Hiển mật đã chịu ảnh hưởng hết sức sâu sắc bởi trật trự cai trị thế tục và các nguyên lý tổ chức của quyền lực chính trị.

Một khía cạnh của ảnh hưởng như thế có thể thấy trong học thuyết về honji suijaku, thứ được hình thành trong thời gian này. Trong vai trò là chủ thuyết, honji suijaku phù hợp với Phật giáo  Mahayana  vốn dựa trên các nguyên lý triết học phức tạp về “nguồn gốc và dấu tích” tìm thấy trong tư tưởng Tendai. Tuy nhiên trên thực tế, ở thời đó, khái niệm Suijaku trong nhiều trường hợp được hiểu trong cảm quan quan về quyền lực cao quý như thần và phật đi vào tôn giáo xác định và được coi là thiêng liêng một cách cục bộ. Theo đó, các vị thần bản xứ của từng khu vực trở nên được coi như là  các dạng khác nhau của phật và bồ tát, những người bản thân không thể tách rời khỏi uy quyền cai trị trung ương.

Mối quan tâm quan trọng thứ hai là  hệ thống này hình thành trong mối liên hệ với sự nổi lên của các tổ hợp chùa-đền thờ thần đạo trung tâm, đứng đầu như các chùa-đền thờ thần đạo ở Nara, đỉnh Hiei, nơi đóng chức năng như là một lực lượng chính trị xã hội trong hệ thống. Như đã thể hiện trong uy quyền và quyền lực vô biên của các võ sĩ tự viện(taishu, đại chúng, hay shuto, chúng đồ, ngày nay thường được biết đến bằng khái niệm sohei-tăng binh) và những người làm công cho các đền thần đạo (jinin-thần nhân), cũng như trong việc có trong tay trang viên khổng lồ và các ngôi đền-chùa chi nhánh, các ngôi chùa-đền lớn trong thời kỳ này là lực lượng chính trị, xã hội ở vị trí đối trọng với hoàng đế đã thoái vị, các dòng họ nhiếp chính và các viên chức cấp tỉnh và liên tục lôi kéo họ vào những tranh chấp thậm chí là xung đột vũ trang. Mỗi một tổ hợp đền-chùa này là một thực thể có khả năng ganh đua với các nhóm cai trị hàng trăm năm-các hoàng đế thoái vị, các dòng họ nhiếp chính và sau đó là mạc phủ. Thêm nữa, quyền lực cai trị phong phú này, mặt khác còn tiếp tục đe dọa và đối đầu với kẻ khác, tồn tại ở mặt khác trong mối quan hệ bổ sung, mỗi cái biểu thị đặc điểm riêng biệt của chức năng chính thức của nó. Các nhóm phong phú có ảnh hưởng này xét ở tổng thể đã tạo nên quyền lực cai trị của quốc gia, một đặc điểm đặc biệt của Nhật Bản từ thời trung đại từ thời Insei trở đi. Do đó obo thực sự có liên quan đến hệ thống quyền lực được đại diện bởi quyền lực tối cao quốc gia (thiên hoàng) cũng nhu các nhóm  khác có ảnh hưởng và sự quản lý thống nhất trong  khi Phật pháp bao hàm không gì ngoài các tổ hợp đền-chùa chủ yếu như là lực lượng chính trị, xã hội cũng như các hoạt động của họ. Nói tóm lại, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vương pháp và phật pháp có nghĩa rằng không phải chỉ có phật giáo phục vụ quyền lực chính trị mà còn ám chỉ một sự gắn kết đặc biệt  giữa chính phủ và tôn giáo ở đó Phật giáo trong khi  mang trong mình dạng thức riêng biệt của lực lượng chính trị, xã hội, đã tham gia vào các nguyên lý cơ cấu của trật tự nhà nước xét ở tổng thể. Điều này là nền tảng cho những sự kiện thực tiễn của học thuyết về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vương pháp và phật pháp.

(còn tiếp)


Cũ hơn Mới hơn