Thư viện trường học ở Nhật Bản và vai trò của nó đối với giáo dục

Nguyễn Quốc Vương

 

 

Dẫn Nhập

 

Trong những năm gần đây, văn hóa đọc ở Việt Nam được chú ý trở lại ở cả phía nhà nước và người dân. Mối quan hệ gắn bó giữa sự phát triển của văn hóa đọc và sự phát triển văn minh của quốc gia là sự thật khó chối cãi. Tuy nhiên, làm thế nào để phát triển văn hóa đọc trong điều kiện cụ thể của Việt Nam là điều không dễ. Trên thực tế, ngay cả trường học-nơi lẽ ra hoạt động đọc sách phải là hoạt động trung tâm trong sinh hoạt thường ngày, vẫn tồn tại tình trạng giáo viên và học sinh không đọc gì ngoài sách giáo khoa, sách tham khảo ôn thi và sách bài tập. Thư viện lẽ ra phải là “trái tim” của trường học thì trong nhiều trường hợp lại chỉ đóng vai trò là một thứ “bình hoa trang trí” cho đủ thành phần hoặc trở thành phương tiện để “có thành tích thi đua”. Thư viện của nhiều trường, tuy có sách và mở cửa phục vụ học sinh, giáo viên nhưng nó vẫn chưa thực sự tạo ra sức hấp dẫn. Tình trạng trên có thể thấy ở khắp các địa phương trên cả nước kể cả ở các thành phố lớn.

Vậy thì, làm thế nào để xây dựng được các thư viện trường học tốt và biến nơi đây thành “trái tim của trường học”? Trong khi tiến hành công việc này, dù là ở vĩ mô hay vi mô, bài học kinh nghiệm của nước ngoài sẽ là tham khảo hữu ích cho tất cả chúng ta. Với tinh thần ấy, ở đây, trong bài viết này trên cơ sở điểm qua tình hình văn hóa đọc ở Nhật Bản với cả hai mảng “sáng” và “tối” trong những năm gần đây và các chính sách phát triển văn hóa đọc của chính phủ Nhật, tôi sẽ khái quát vai trò, vị trí của thư viện trường học Nhật Bản hiện tại đối với giáo dục cũng như các chính sách, biện pháp người Nhật đang thực hiện để phát triển mạng lưới thư viện này.

 

 

  1. Tình hình văn hóa đọc ở Nhật Bản trong những năm gần đây

1.1. Những mảng “sáng”

Trên thế giới, Nhật Bản từ lâu đã được biết đến là quốc gia có văn hóa đọc phát triển cao. Số liệu thống kê cho biết ngay từ thời trung đại, tỉ lệ người  dân biết đọc, biết viết ở Nhật đã rất cao (ngay trước thời điểm diễn ra cuộc Duy tân Minh Trị tỉ lệ người Nhật biết đọc, biết viết đã ở mức 40-50%). Tỉ lệ người Nhật biết đọc, biết viết hiện nay là khoảng 99%. Ngành xuất bản ở Nhật cũng phát triển mạnh từ sớm. Từ thời Edo (1603-1867), ngành xuất bản đã phát triển thành ngành “công nghiệp” sản xuất hàng hóa khi in sách với số lượng lớn và bán ra phục vụ đại chúng. Chính vì vậy mà công cuộc “khai hóa văn minh” đã diễn ra thuận lợi giúp cho cải cách Minh Trị sớm thành công. Ngành xuất bản sớm trưởng thành đã giúp cho các cuốn sách được in ra tiếp cận với đông đảo độc giả trong đó có giới bình dân. Những cuốn sách của Fukuzawa Yukichi (1835-1901), người được mệnh danh là “Voltaire của Nhật Bản”, như “Khuyến học”, “Tây Dương sự tình”…ngay khi xuất bản đã bán được cả triệu bản mà vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu của bạn đọc đương thời. Hiện tại cho dù có gặp khó khăn, ngành xuất bản Nhật vẫn đạt được thành tựu với những con số rất ấn tượng. Theo “Niên báo chỉ số xuất bản 2009” (Viện nghiên cứu khoa học xuất bản) thì số lượng đầu sách mới được xuất bản năm 2007 ở Nhật Bản là 77.417 đầu sách. Hiện nay tính trung bình mỗi ngày có 200 cuốn sách mới được xuất bản. Số lượng nhà xuất bản hiện nay là 4311 (theo Niên giám xuất bản năm 2005).

1.2. Những mảng “tối”

Cho dù vẫn duy trì được danh tiếng, trên thực tế, số liệu thống kê thu được từ các cuộc điều tra gần đây cho thấy, xu hướng “xa rời việc đọc sách” ở người dân Nhật đã xuất hiện và lượng sách đọc đang giảm dần.

Chẳng hạn báo Sankei (bản diện tử) ngày 11 tháng 10 năm 2014 đã dẫn số liệu kết quả điều tra của Vụ văn hóa Nhật Bản về tình hình đọc sách ở Nhật Bản. Đây là cuộc điều tra có tên “Điều tra dư luận liên quan đến quốc ngữ” do Vụ văn hóa tiến hành bằng bảng hỏi với 3000 người bao gồm cả nam và nữ vào tháng 3 năm 2014. Theo đó, có đến 65.1% số người được hỏi cho rằng “lượng sách đọc” của người Nhật đang giảm đi. Cụ thể hơn, số người trả lời có đọc “1, 2 cuốn”/tháng là 34, 5%, “3-4 cuốn” là 10, 9%, “5-6 cuốn”là 3, 4%, “7 cuốn” là 3, 6%. Số người trả lời “không đọc” chiếm tỉ lệ lớn nhất (47, 5%). Bài báo cũng cho biết so với cuộc điều tra được tiến hành vào năm 2009 thì tỉ lệ số người trả lời “không đọc” một cuốn nào đã tăng 1, 4% và so với cuộc điều tra năm 2002 thì tăng tới gần 10%.

Cuộc điều tra cũng làm rõ lý do tại sao người dân không đọc sách. Trong các lý do này thì lý do chiếm tỉ lệ lớn nhất là “không có thời gian đọc vì công việc và việc học tập bận rộn” (51.3%), tiếp đến là lý do hạn chế về “sức khỏe thị lực” (34.4%), “thiết bị thông tin (máy tính, điện thoại…) lấy mất thời gian” (26, 3%), “tivi có sức hấp dẫn hơn” (21.8%). Đáng chú ý là trong các lý do này thì lý do liên quan đến thiết bị thông tin tăng 5% so với kết quả của cuộc điều tra năm 2009.

Hiệp hội thư viện trường học toàn quốc ở Nhật Bản cũng tiến hành một cuộc điều tra độc lập vào năm 2012 và kết quả của cuộc điều tra này cho biết tỉ lệ trẻ em không đọc một cuốn sách nào trong một tháng trước khi điều tra ở các bậc học như tiểu học, trung học cơ sở và trung họ phổ thông lần lượt là:  4, 5% , 16, 4%  và  53, 2%.

Bình luận về tình trạng nói trên, báo Sankei dẫn lời Giáo sư Tanaka Yukari (Đại học Nhật Bản): “Không chỉ người Nhật, những năm gần đây do sự phổ cập của Internet xu hướng thu nhận những thông tin nhỏ trong thời gian ngắn đã trở nên phổ biến. Mặt khác, những ấn phẩm in trên giấy như tiểu thuyết lại yêu cầu phải đọc các câu văn được trau chuốt trong một khoảng thời gian dài và nó đã trở nên không thích hợp với cảm tính của người hiện đại luôn muốn có kết luận nhanh chóng. Sự suy giảm lượng sách đọc ở ý nghĩa nào đó có khi cũng có thể coi là sự tất yếu của thời đại”. Ở một góc độ khác giáo sư Fujii Hidetada thuộc đại học Rikkyo lại cảnh báo về sự suy yếu của văn học Nhật Bản khi ông chỉ ra một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng người dân “xa rời việc đọc sách”: “Từ phục hưng hậu chiến cho tới thời kì kinh tế tăng trưởng cao độ là thời kì mà các danh tác, các tác phẩm cổ kim đông tây có thể làm cho quốc dân có thêm dũng khí bùng nổ và được đọc ngấu nghiến. Tuy nhiên ngày nay các sách có tính giải trí chiếm vị trí trung tâm và bản thân tác phẩm nếu là tiểu thuyết thì đa phần cũng là thứ triển khai mạch chuyện và lấy sự thú vị làm trọng tâm. Tình hình đó cũng có thể trở thành nguyên nhân làm cho người đọc xa rời việc đọc sách”.

Hiện thực trên đã đặt chính phủ và người dân Nhật Bản trước những thử thách mới. Vì vậy, cả chính phủ và người dân Nhật đã hợp tác cùng nhau để tiến hành các chính sách khuyến đọc ở cả phạm vi vi mô và vĩ mô trong đó hoạt động trong trường học đóng vai trò trọng tâm.

  1. Chính sách khuyến đọc ở Nhật Bản

Dựa trên số liệu điều tra và các kết quả nghiên cứu, chính phủ Nhật Bản đã tích cực tiến hành các biện pháp khuyến đọc ở cấp độ vĩ mô. Dưới đây sẽ liệt kê một vài biện pháp, chính sách vĩ mô chủ yếu có tác động lớn.

Thứ nhất, Quốc hội Nhật Bản đã soạn thảo và ban hành “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” (Bộ luật được công bố và có hiệu lực thi hành từ 12/12/2001). Bộ luật này ngoài phần phụ lục có 11 điều quy định về các nội dung sau: “Mục đích” (Điều 1), “Triết lý cơ bản” (Điều 2) , “Nghĩa vụ của nhà nước” (Điều 3), “Nghĩa vụ của chính quyền địa phương” (Điều 4), “Nỗ lực của những người thực hiện sự nghiệp” (Điều 5, 6), “Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan” (Điều 7), “Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động trẻ em” (Điều 8), “Kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở các đô, đạo, phủ, tỉnh” (Điều 9), “Ngày đọc sách của trẻ em” (Điều 10), “Các biện pháp trên phương diện tài chính” (Điều 11).

Thứ hai, năm 2005 Quốc hội Nhật Bản lại soạn thảo và thông qua “Luật chấn hưng văn hóa đọc” (Bộ luật số 91 ban hành ngày 27 tháng 7 năm 2005). Bộ luật này ngoài phần phụ lục có 12 điều quy định về : “Mục đích” (Điều 1), “Định nghĩa” (Điều 2) , “Triết lý cơ bản” (Điều 3), “Trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước” (Điều 4), “Trách nhiệm và nghĩa vụ của chính quyền địa phương” (Điều 5), “Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan” (Điều 6), “Chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương” (Điều 7), “Giáo dục năng lực ngôn ngữ trong giáo dục trường học” (Điều 8), “Giao lưu quốc tế về văn hóa đọc” (Điều 9), “Phổ cập các xuất bản phẩm học thuật” (Điều 10), “Ngày văn hóa đọc” (Điều 11), “Các biện pháp ở phương diện tài chính” (Điều 12)[1].

Thứ ba, chính phủ Nhật Bản (Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ) đã xây dựng được “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em” ở tầm quốc gia. Kế hoạch lần 1 được đưa ra năm 2002 ngay sau khi “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” được ban hành. Kế hoạch lần 2 được đưa ra năm 2008 và kế hoạch lần thứ ba được công bố vào năm 2013 (5 năm một lần). Đây là kế hoạch vĩ mô ở đó sau khi phân tích hiện trạng, các kết quả đã đạt được, những vấn đề, thách thức đang đặt ra, chính phủ Nhật Bản sẽ đưa ra những mục tiêu và biện pháp có tính chiến lược. Xin trích ra dưới đây, những mục lớn trong “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em năm 2013” của chính phủ Nhật (tài liệu dài 27 trang gồm 5 chương):
Chương 1. Dẫn nhập

Chương 2. Các biện pháp được tiến hành trong thời kì thực hiện kế hoạch cơ bản lần thứ hai và các vấn đề đặt ra.

  1. Các biện pháp đã thực hiện và thành quả trong thời kì thực hiện kế hoạch cơ bản lần thứ hai.
  2. Các vấn đề đặt ra trong thời kì thực hiện kế hoạch cơ bản lần thứ hai.
  3. Sự thay đổi tình hình liên quan đến hoạt động đọc sách của trẻ em sau khi xây dựng kế hoạch cơ bản lần thứ hai.

Chương 3. Phương châm cơ bản

  1. Các biện pháp tiến hành trong toàn thể xã hội thông qua gia đình, địa phương, trường học.
  2. Xây dựng môi trường làm bệ đỡ cho hoạt động đọc sách của trẻ em.
  3. Phổ cập ý nghĩa liên quan tới hoạt động đọc sách của trẻ em.

Chương 4. Các nội dung cần thiết để xúc tiến có hiệu quả hoạt động đọc sách của trẻ em.

  1. Thế chế khuyến khích
  2. Các biện pháp ở phương diện tài chính

Chương 5. Các biện pháp xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em

  1. Xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em trong gia đình
  2. Xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em ở địa phương
  3. Xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em ở trường học
  4. Trợ giúp các hoạt động của các đoàn thể dân sự
  5. Hoạt động khai sáng phổ cập

Dựa trên các bộ luật liên quan đến văn hóa đọc và các chính sách vĩ mô trên, chính phủ Nhật Bản, các cơ quan có liên quan, chính quyền địa phương và người dân Nhật Bản đã hợp tác, tiến hành các hoạt động phong phú để chấn hưng văn hóa đọc, đặc biệt là khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em trong nhà trường thông qua thư viện trường học.

 

  1. Vị trí, vai trò, chức năng của thư viện trường học Nhật Bản và các biện pháp đang được thực thi nhằm phát triển văn hóa đọc trong nhà trường.

3.1. Hiện trạng của thư viện và thư viện trường học

Theo số liệu được công bố trong “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em năm 2013” (Kế hoạch lần thứ 3) số lượng thư viện nói chung ở Nhật Bản vẫn tiếp tục tăng và đạt mức cao nhất từ trước đến nay ở thời điểm 2011: 3.165 (năm 2008), 3.274 (năm 2011). Năm 2008 có 1938 thư viện có phòng đọc dành riêng cho trẻ em, đến năm 2011 con số này tăng lên 2059 thư viện.

Cũng theo tài liệu này, số sách mà trẻ em Nhật mượn từ các thư viện trong một năm vẫn tiếp tục tăng: 134.200.000 cuốn (năm 2007), 179.560.000 cuốn (năm 2010).

Ở các trường học, tỉ lệ các trường tiến hành giờ đọc sách đồng loạt cho tất cả các học sinh tăng mạnh đặc biệt là hoạt động đọc sách diễn ra vào buổi sáng. Theo đó, năm 2012 có 96, 4% các trường tiểu học, 88.2% các trường trung học cơ sở, 40, 8% các trường trung học phổ thông tiến hành hoạt động này.

Hiện trạng của thư viện trường học Nhật Bản được phản ánh rõ nhất qua kết quả cuộc điều tra do Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ tiến hành có tên “Điều tra hiện trạng thư viện trường học” năm 2016. Đây là cuộc điều tra được tiến hành định kì 2 năm một lần, bắt đầu từ năm 2008 trở đi về tình hình toàn diện của các thư viện trường học như tình hình bố trí thủ thư, giáo viên làm công tác thư viện, điều kiện cơ sở vật chất của thư viện, tình hình tiến hành các hoạt động đọc sách…Đối tượng của cuộc điều tra là các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trường giáo dục đặc biệt, các trường liên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông thuộc giáo dục nghĩa vụ. Cuộc điều tra này được tiến hành thông qua các Ủy ban giáo dục ở các địa phương (đô, đạo, phủ, tỉnh). Nhìn tổng thể, kết quả điều tra cho biết:

– Tỉ lệ trường học có thủ thư : tiểu học (59,2%), trung học cơ sở (58, 2%), trung học phổ thông (66, 6%), tăng hơn so với kết quả điều tra trước đó.

– Tỉ lệ trường học có thư viện đạt chuẩn : tiểu học (66,4%), trung học cơ sở (55, 3%), có tăng so với các cuộc điều tra trước đó nhưng vẫn còn thấp.

– Tỉ lệ trường học có báo ở thư viện: Tiểu học (41.1%), trung học cơ sở (37.7%), trung học phổ thông (91%).

Xin trích ra ở đây một vài số liệu điều tra cụ thể để tham khảo.

 Bảng 1, 2, 3. Tình hình bố trí thủ thư ở các trường học

          (Con số trong ngoặc đơn là số liệu của cuộc điều tra trước)

 

Trường tiểu họcSố trường có bố trí thủ thưTỉ lệ phần trăm so với toàn thể
Quốc lập42 trường (40 trường)58,3% (55.6%)
Công lập11.644 trường (10.978 trường)59,3% (54.5%)
Tư thục115 trường (91 trường)51.3% (41.9%)
Tổng11.803 trường
(11.109 trường)
59, 2% (54.4%)

 

 

Trường trung học cơ sởSố trường có bố trí thủ thưTỉ lệ phần trăm so với toàn thể.
Quốc lập40 (40)54.8% (54.8%)
Công lập5.408 trường (5.051)57.3% (52.8%)
Tư thục521 (416)70.4% (56.1%)
Tổng5.969 (5507)58,2% (53.1%)

 

 

Trường trung học phổ thôngSố trường có bố trí thủ thưTỉ lệ phần trăm so với toàn thể
Quốc lập13 (14)76.5% (82.4%)
Công lập2349 (2371)66.9% (66.5%)
Tư thục915 (816)66.4% (59.7%)
Tổng3279 (3201)66.6% (64.4%)

 

Bảng 4. Tình hình cơ sở vật chất của thư viện và sách

 

 Số trường có bố trí thư việnSố lượng sách có trong thư viện tính đến cuối năm 2015Tỉ lệ số trường đạt tiêu chuẩn thư viện tính đến cuối năm 2015
Trường tiểu học19.604174.870.000 (174.020.000)66.4% (60.3%)
Trung học cơ sở9.427101. 670.000 (99. 750.000)55.3% (50%)
Trung học phổ thông3.50980.349.000 (84. 790.000)Không có dữ liệu

 

 

   Bảng 5. Tình hình đọc sách

 

 Tình hình tiến hành hoạt động đọc sách tập thể (đồng loạt) toàn trườngTỉ lệ những trường thực hiện hoạt động đọc sách trước giờ học buổi sáng 
 Số trường thực hiện (A)Tỉ lệ phấn trăm so với tổng thểSố trường học thực hiện  (B)Tỉ lệ phần trăm


(B/A)

Tiểu học19.03897.1% (96.8%)13.03568.5% (71.3%)
Trung học cơ sở8.34188.5% (88.5%)6.06272.7% (73.4%)
Trung học phổ thông149942.7% (42.9%)94763.2% (66.5%)

 

Căn cứ vào các bảng số liệu trên ta thấy, nước Nhật hiện tại có một hệ thống thư viện trường học khổng lồ và đang tăng trưởng, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của học sinh, giáo viên ở trường học. Hoạt động đọc sách-hoạt động đặc trưng nhất diễn ra ở thư viện, thể hiện vai trò số một của thư viện đã được tiến hành rộng rãi ở các trường học và trở thành một thói quen sinh hoạt. Tuy nhiên, cũng từ bảng số liệu chúng ta thấy, ngay cả nước Nhật cũng chưa đạt được mục tiêu 100% ở nhiều hạng mục liên quan đến thư viện trên phạm vi toàn quốc. Hiện trạng này đặt ra cho các thư viện trường học Nhật Bản nhiều thách thức trong thế kỉ 21. Trong đó thách thức lớn nhất là thiếu thốn về cơ sở vật chất. Có thể thấy rõ điều này qua số liệu các thư viện chưa đạt chuẩn  theo quyết định của Vụ trưởng vụ giáo dục tiểu học và trung học (Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ) ban hành ngày 29 tháng 3 năm 1993. Tính đến năm 2012 mới chỉ có 56, 8% thư viện trường tiểu học, 47, 5% thư viện trường trung họ cơ sở đạt chuẩn, nghĩa là tính chung mới xấp xỉ đạt trên dưới 50%.

 

3.2. Vị trí, vai trò của thư viện trường học ở Nhật Bản

Triết lý giáo dục của giáo dục Nhật Bản sau 1945 là tạo ra những người công dân có tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người vì vậy, trong các bộ luật giáo dục và các văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ vị trí-vai trò của thư viện, nơi được coi là “trái tim” kết nối và tạo ra xúc tác cho các hoạt động giáo dục tại trường học đều được nhấn mạnh. Trong Luật giáo dục trường học (ban hành năm 1947, sửa đổi năm 2007) ở điều 2 (thuộc “Chương 2. Trường tiểu học”) ghi rõ : “Trường tiểu học phải sử dụng các sách giáo khoa đã được Cục kiểm định thông qua hoặc chứng nhận hay các sách giáo khoa do cục này nắm giữ bản quyền. Trường tiểu học cũng có thể sử dụng các sách và giáo tài khác ngoài các sách giáo khoa nói trên nếu như chúng phù hợp và có ích” . Như vậy, luật cho phép sử dụng các sách, tài liệu ngoài sách giáo khoa và quy định này gián tiếp khẳng định vị trí quan trọng của thư viện trường học. Ngoài ra, cũng trong bộ luật này, điều 21 mục 5 nhấn mạnh: “Làm cho hoc sinh quen với việc đọc sách, lý giải đúng đắn quốc ngữ cần thiết cho đời sống, giáo dục năng lực cơ bản sử dụng nó”.

Trực tiếp, và rõ ràng hơn, điều 1 “Luật thư viện trường học” xác định “Thư viện trường học là công trình cơ bản không thể thiếu trong giáo dục trường học và nó có mục đích hướng tới sự phát triển lành mạnh, làm phong phú giáo dục trường học”. Điều 3 bộ luật này cũng ghi rõ “Trường học phải có thư viện”.

Như vậy, có thể thấy, các cơ sở giáo dục không có thư viện đạt tiêu chuẩn theo quy định của luật sẽ gặp khó khăn trong việc được công nhận là trường học. Các bản Hướng dẫn học tập, văn bản quy định nội dung chương trình, phương pháp hướng dẫn học tập của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ dành cho tất cả các trường phổ thông trên toàn quốc cũng luôn nhấn mạnh vị trí của thư viện trường học. Chẳng hạn bản Hướng dẫn học tập hiện hành (ban hành năm 2008-2009) đã xác định các trường và giáo viên phải làm phong phú, đầy đủ hoạt động đọc sách cần thiết cho việc giáo dục năng lực ngôn ngữ của học sinh. Đặc biệt bản Hướng dẫn học tập dành cho bậc học mầm non (2008) đã yêu cầu các nhà trẻ, trường mầm non phải tích cực, chủ động tạo ra môi trường và các điều kiện cần thiết khác để làm cho trẻ làm quen với các sách ehon (sách tranh) và các câu chuyện kể.

Vai trò, chức năng của trường học được thể hiện trong quan điểm coi thư viện trường học có hai chức năng chủ yếu. Chức năng thứ nhất là trở thành “Trung tâm đọc sách” của học sinh và chức năng thứ hai là đóng vai trò như “Trung tâm thông tin-học tập” của học sinh.

Nhìn một cách cụ thể hơn, vai trò-chức năng của thư viện trường học được thể hiện rõ trong các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu được quy định trong Luật thư viện trường học (Điều 4) như sau:

  1. Sưu tầm tư liệu thư viện, phục vụ việc sử dụng của học sinh và giáo viên.
  2. Hợp lý hóa sự phân loại, trưng bày tư liệu thư viện và xây dựng mục lục.
  3. Tiến hành các buổi đọc sách, các hội nghiên cứu, buổi chiếu phim, buổi triển lãm tư liệu…
  4. Hướng dẫn học sinh sử dụng tư liệu thư viện và sử dụng các thư viện trường học khác.
  5. Liên lạc mật thiết và hợp tác với các thư viện trường học, thư viện khác, với bảo tàng, nhà công dân (kominkan)…
  6. Thư viện trường học có thể được sử dụng phục vụ công chúng nói chung trong giới hạn việc đó không gây trở ngại cho việc đạt được mục đích nói trên.

Như vậy có thể thấy, thư viện trường học không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động học tập, giải trí, giao lưu của học sinh trong trường mà còn là điểm kết nối giữa nhà trường với địa phương và cộng đồng dân cư ở địa phương.

3.3. Các biện pháp đang được tiến hành nhằm phát huy vị trí, vai trò và chức năng của thư viện trường học.

Thứ nhất, chính phủ, các địa phương, trường học và ban ngành liên quan ở Nhật đang đẩy mạnh việc bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp lý cũng như các chính sách, kế hoạch nhằm chấn hưng văn hóa đọc và làm phong phú hệ thống thư viện. Đó là sự ra đời của Luật thư viện, Luật chấn hưng văn hóa đọc, Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em…Đặc biệt cứ 5 năm một lần chính phủ Nhật Bản sẽ ban hành “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em” và dựa trên cơ sở đó các địa phương sẽ có kế hoạch cụ thể của riêng mình. Các trường, các thư viện trường học cũng sẽ có chương trình kế hoạch cụ thể riêng phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ hai, bản Hướng dẫn học tập đã được sửa đổi và sẽ tiếp tục được sửa đổi trong thời gian ngắn sắp tới theo hướng nhấn mạnh giáo dục “năng lực sống” (năng lực tự phát hiện vấn đề, tự học, tự suy nghĩ, giải quyết vấn đề). Ở đó, để có được năng lực sống, học sinh phải biết thu thập và xử lý thông tin một cách tự chủ bằng tư duy phê phán do đó, hoạt động đọc sách, khai thác thư viện trở thành hoạt động rất quan trọng.

Thứ ba, chính phủ và người dân hợp tác thực hiện việc tăng cường xây dựng, làm phong phú các thư viện trường học và tăng cường, đào tạo, bồi dưỡng thủ thư; trích tiền thuế thu được ở các địa phương để đảm bảo công tác bố trí thủ thư ở các thư viện công lập (bao gồm thư viện ở các trường công lập) nhằm tạo ra môi trường đọc sách ngày một phong phú và tốt hơn.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác giữa thư viện trường học và các thư viện khác để biến thư viện trường học thành nơi thân thiết, gần gũi đối với học sinh, cung cấp ngày một nhiều hơn các cơ hội hấp dẫn, phong phú để học sinh có được hoạt động đọc sách có chất lượng cao.

Thứ năm, xúc tiến, đẩy mạnh, khuyến khích các hoạt động đọc sách tại trường học. Ở bậc học mầm non, dựa trên phương châm giáo dục được đề ra trong bản Hướng dẫn học tập (2008), các trường sẽ tích cực tiến hành các hoạt động làm cho học sinh quen với ehon, các câu chuyện kể đồn thời tạo ra các cơ hội cho học sinh tiểu học và phụ huynh, tình nguyện viên tới đây giao lưu, đọc sách cho trẻ em nghe. Đối với trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, nhà trường sẽ hỗ trợ thích hợp để tạo ra môi trường ở đó học sinh có thể vui thú tự do với việc đọc sách. Các nỗ lực này là nhằm đáp ứng yêu cầu được đặt ra trong bản Hướng dẫn học tập khi nó đặt ra yêu cầu giáo viên, nhà trường thông qua việc hướng dẫn học sinh học tập các môn giáo khoa phải làm phong phú, đầy đủ các hoạt động ngôn ngữ như ghi chép, thuyết minh, bình luận, viết luận, thảo luận từ đó trợ giúp hoạt động đọc sách của học sinh, làm phong phúvà nâng cao chất lượng của nó.

Thứ sáu, phối hợp nhiều ban ngành, lực lượng, tổ chức trong đó hạt nhân là thư viện trường học để hình thành cho học sinh thói quen đọc sách. Gia đình, địa phương, trường học phải phối hợp chặt chẽ để làm cho học sinh có thói quen đọc sách suốt đời từng bước một thông qua các giai đoạn như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Các trường học  ở Nhật hiện đang tiến hành các biện pháp cụ thể ví dụ như thực hiện hoạt động đọc sách đồng loạt, giờ đọc sách, các thư viện có góc “Giới thiệu sách”, đặt ra mục tiêu đọc sách (bao nhiêu cuốn) đối với học sinh trong năm và cho tới trước khi tốt nghiệp.

 

Thứ bảy, xúc tiến mạnh hoạt động đọc sách của trẻ em khuyết tật bằng cách tạo ra môi trường và lựa chọn sách phù hợp với tình trạng khuyết tật của trẻ em để trẻ em có thể trải nghiệm hoạt động đọc sách phong phú. Các trường cần tạo điều kiện để học sinh khuyết tật có thể sử dụng các thiết bị trợ giúp và nhận sự giúp đỡ của các tình nguyện viên để có thể đọc sách , đồng thời sử dụng dữ liệu của các thư viện chữ nổi của các trường đặc biệt phục vụ cho học sinh khuyết tật thị giác.

 

Kết luận

 

Nhờ di sản truyền thống, sự khai sáng từ thời Minh Trị và nỗ lực dân chủ hóa thời hậu chiến, nước Nhật đã có một nền tảng văn hóa đọc vững chắc xét ở cả trên phương diện vĩ mô và vi mô, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, già hóa dân số và sự biến đổi nhanh chóng của xã hội thông tin hóa thời hậu công nghiệp đã làm cho văn hóa đọc ở Nhật Bản có dấu hiệu sa sút. Trước tình hình đó, dựa trên các nghiên cứu thực chứng và điều tra cụ thể, chính phủ Nhật Bản đã nhận thức rõ nguy cơ và đề ra, thực thi các chính sách ở nhiều cấp độ khác nhau nhằm phục hưng văn hóa đọc. Thư viện, đặc biệt là thư viện trường học, đã được xác định là hệ thống có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt trong việc chấn hưng văn hóa đọc của quốc dân và hình thành thói quen đọc sách của trẻ em. Với hai chức năng cơ bản là “trung tâm đọc sách” và “trung tâm thông tin-học tập” của trẻ em, thư viện trở thành “trái tim” kết nối học sinh với giáo viên, nhà trường, xã hội địa phương. Chính vì vậy, làm phong phú, đầy đủ và phát huy tối đa chức năng của thư viện trường học ở Nhật Bản cũng chính là quá trình tiến hành cải cách giáo dục để giáo dục nên những người công dân có “năng lực sống” (năng lực phát hiện vấn đề, tự tìm kiếm thông tin, tự học để giải quyết vấn đề). Những chính sách, biện pháp của Nhật Bản trong cuộc cải cách nói trên ở góc độ nào đó sẽ là sự tham khảo hữu ích cho Việt Nam hiện nay.

 

 

 

Tài liệu tham khảo

 

1.Hướng dẫn học tập, 学習指導要領(文部省、2008-2009)

  1. Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em, 子どもの読書活動の推進に関する基本的な計画 (文部省、2002, 2008, 2013)
  2. Niên báo chỉ số xuất bản, 出版指標年報(出版科学研究所 刊, 出版科学研究所, 2009)

4. Niên giám xuất bản, 出版年鑑〈2005〉  (出版年鑑編集部, 2005)

5. Báo Sankei (bản điện tử):

http://www.sankei.com/premium/news/141011/prm1410110018-n1.html

 

Phụ Lục

 

Phụ lục 1. Luật thư viện trường học
(Bộ luật này được công bố và có hiêu lực lần đầu này 1/4/1953, được sửa đổi lần cuối ngày 24/6/2016)

(Mục đích của bộ luật)

Điều 1. Bộ luật này coi thư viện trường học là công trình cơ bản không thể thiếu trong giáo dục trường học và nó có mục đích hướng tới sự phát triển lành mạnh, làm phong phú giáo dục trường học.

(Định nghĩa)

Điều 2. “Thư viện trường học” trong bộ luật này là công trình được thiết lập trong trường tiểu học (bao gồm cả khóa trình tiền kì của trường giáo dục nghĩa vụ và bộ phận tiểu học trong các trường giáo dục đặc biệt), trường trung học cơ sở (bao gồm cả khóa trình hậu kì của trường học giáo dục nghĩa vụ và bộ phận trung học cơ sở trong các trường giáo dục đặc biệt hay khóa trình tiền kì của trường giáo dục trung học), trung học phổ thông (bao gồm cả khóa trình hậu kì của trường giáo dục trung học và bộ phận trung học phổ thông của trường giáo dục đặc biệt) (từ dưới đây sẽ gọi là “trường học”), có mục đích sưu tầm sách, tư liệu giáo dục nghe, nhìn và các tư liệu cần thiết cho giáo dục khác (từ dưới đây sẽ gọi là “tư liệu thư viện), chỉnh lý, bảo tồn, đóng góp cho sự triển khai khóa trình giáo dục trường học thông qua việc cung cấp phục vụ nhu cầu sử dụng của học sinh, giáo viên đồng thời giáo dục văn hóa lành mạnh cho trẻ em, học sinh.

(nghĩa vụ thiết lập)

Điều 3. Trường học phải có thư viện.

(Điều hành thư viện trường học)

Điều 4. Trường học có thư viện phục vụ nhu cầu sử dụng của học sinh và giáo viên thông qua các phương pháp chủ yếu như dưới đây.

  1. Sưu tầm tư liệu thư viện, phục vụ việc sử dụng của trẻ em, học sinh và giáo viên.
  2. Hợp lý hóa sự phân loại, trưng bày tư liệu thư viện và xây dựng mục lục.
  3. Tiến hành các buổi đọc sách, các hội nghiên cứu, buổi chiếu phim, buổi triển lãm tư liệu
  4. Hướng dẫn trẻ em, học sinh sử dụng tư liệu thư viện và sử dụng các thư viện trường học khác.
  5. Liên lạc mật thiết và hợp tác với các thư viện trường học, thư viện khác, với bảo tàng, nhà công dân (kominkan)…
  6. Thư viện trường học có thể được sử dụng phục vụ công chúng nói chung trong giới hạn việc đó không gây trở ngại cho việc đạt được mục đích nói trên.

(Giáo viên làm công tác thư viện)

Điều 5.

  1. Trường học cần phải bố trí giáo viên làm công tác thư viện để làm công việc có tính chất chuyên môn của thư viện.
  2. Giáo viên thủ thư ở trên phải là giáo viên cốt cán (trừ giáo viên cốt cán làm công việc chỉ đạo về dinh dưỡng và quản lý), giáo viên giảng dạy (từ dưới đây sẽ gọi chung là “giáo viên cốt cán”). Trong trường hợp này các giáo viên cốt cán đều phải là người đã hoàn thành khóa học dành cho giáo viên làm công tác thư viện.
  3. Khóa học dành cho giáo viên làm công tác thư viện được quy định ở trên được các trường đại học và các cơ quan giáo dục khác tiến hành với sự ủy nhiệm của Bộ trưởng Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ.
  4. Ngoài nội dung được quy định trong điều khoản trên, những nội dung cần thiết khác như môn học cần phải học và số đơn vị tín chỉ sẽ được quy định bằng chỉ thị của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ.

(Thủ thư trường học)

Điều 6.

  1. Ngoài giáo viên làm công tác thư viện được quy định ở khoản 1 điều 5 nói trên, để cải thiện, nâng cao sự điều hành thư viện trường học và xúc tiến hơn nữa việc sử dụng thư viện trường học của học sinh, giáo viên ở trường học, cần phải cố gắng bố trí nhân viên chuyên đảm nhận công việc ở thư viện trường học (gọi là thủ thư trường học)
  2. Để nâng cao phẩm chất của thủ thư trường học, nhà nước và các đoàn thể công cộng địa phương phải nỗ lực thực hiện việc bồi dưỡng họ và các biện pháp cần thiết khác.

(Trách nhiệm của người thiết lập)

Điều 7. Người lập trường học phải xây dựng thư viện của trường và nỗ lực làm phong phú nó nhằm đạt cho được mục đích được đề ra trong bộ luật này.

(Nhiệm vụ của nhà nước)

Điều 8. Nhà nước phải nỗ lực thực hiện quy định tại khoản 2 điều 6 và các nội dung được liệt kê dưới đây nhằm xây dựng và làm phong phú thư viện trường học.

  1. Phải xây dựng được kế hoạch tổng hợp liên quan tới xây dựng, làm phong phú thư viện trường học và đào tạo giáo viên làm công tác thư viện.
  2. Đưa ra khuyến cáo và sự chỉ đạo về mặt chuyên môn, kĩ thuật liên quan đến việc thiết lập và điều hành thư viện trường học.
  3. Ngoài nội dung ở hai mục trên, nhà nước còn phải có biện pháp cần thiết để xây dựng và làm phong phú các thư viện trường học.

 

Phụ lục 2. Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em

(Bộ luật này được công bố và có hiệu lực thi hành từ ngày 12 tháng 12 năm 2001)

(Mục đích)

Điều 1.Bộ luật này có mục đích xác lập triết lý cơ bản liên quan đến việc khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em, làm rõ nghĩa vụ của nhà nước và các chính quyền địa phương đồng thời bằng việc xác định các nội dung cần thiết liên quan đến khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em mà thúc đẩy có kế hoạch và có tính tổng hợp các cơ sở khuyến khích trẻ em đọc sách từ đó tạo nên sự trưởng thành khỏe mạnh của trẻ em.

(Triết lý cơ bản)

Điều 2

Hoạt động đọc sách của trẻ em (chủ yếu nói tới những người dưới 18 tuổi) phải được xúc tiến trong môi trường được xây dựng một cách tích cực để trẻ em có thể đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc nhằm làm cho trẻ em học ngôn ngữ, mài sắc cảm tính, nâng cao năng lực thể hiện, làm phong phú năng lực sáng tạo, suy nghĩ về những gì không thể thiếu để có được năng lực sống sâu sắc hơn.
(Nghĩa vụ của nhà nước)
Điều 3
Nhà nước có nghĩa vụ ban hành và thực thi tổng hợp các chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em tuân theo triết lý cơ bản ở điều trên (dưới đây sẽ gọi tắt là triết lý cơ bản)
Điều 4.
Các chính quyền địa phương có nghĩa vụ ban hành và thực hiện các chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em tuân theo triết lý cơ bản trên, dựa trên tình hình của địa phương đồng thời liên kết với nhà nước.
(Nỗ lực của những người thực hiện sự nghiệp)
Điều 5
Những người thực hiện sự nghiệp này khi tiến hành các hoạt động phải nỗ khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em dựa trên triết lý cơ bản và cung cấp sách giúp cho sự trưởng thành khỏe mạnh của trẻ em.
Điều 6.
Cha mẹ hay người bảo hộ phải phát huy vai trò tích cực trong việc làm phong phú các cơ hội đọc sách và thói quen đọc sách của trẻ em.
(Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan)
Điều 7.
Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực tăng cường liên kết các đoàn thể dân sự với các trường học, thư viện và các cơ quan khác đồng thời xây dựng các thể chế cần thiết để các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em được diễn ra suôn sẻ.
(Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động trẻ em)
Điều 8.

  1. Chính phủ phải thiết lập kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em (từ dưới đây gọi là kế hoạch cơ bản) nhằm xúc tiến có kế hoạch và tổng hợp các chính sách liên quan tới hoạt động đọc sách của trẻ em.
    2. Chính phủ khi xây dựng kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em phải thông báo kế hoạch này trước quốc hội và công bố không được chậm trễ.
    3. Quy định ở mục trước cũng được vận dụng cho sự thay đổi kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.
    (Kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở các đô, đạo, phủ, tỉnh)
    Điều 9.
    1. Các đô, đạo, phủ, tỉnh phải lấy kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em làm nền tảng đồng thời dựa trên tình hình xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em ở các đô, đạo, phủ, tỉnh để nỗ lực lập ra kế hoạch thực hiện chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.
    2. Các thành phố, khu phố, thôn làng phải nỗ lực xây dựng kế hoạch thực hiện các chính sách liên quan tới việc khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thành phố, khu phố, thôn làng đó dựa trên tình hình xúc tiến các hoạt động đọc sách của trẻ em ở đó đồng thời lấy kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em làm cơ sở.
    3. Các đô, đạo, phủ, tỉnh và các thành phố, khu phố, thôn làng khi xây dựng kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở đô, đạo, phủ, tỉnh và kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thành phố, khu phố, thôn làng phải công bố rõ các kế hoạch ấy.
    4. Quy định của mục trước được áp dụng cho cả sự thay đổi kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở đô, đạo, phủ, tỉnh và kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở các thành phố, khu phố, thôn làng.
    (Ngày đọc sách của trẻ em)
    Điều 10.
  2. Ngày trẻ em đọc sách được đặt ra nhằm làm sâu sắc mối quan tâm, sự hiểu biết của quốc dân về hoạt động đọc sách của trẻ em đồng thời nhằm nâng cao lòng mong muốn đọc sách của trẻ em.
    2. Ngày trẻ em đọc sách là ngày 23 tháng 4.
    3. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực thực hiện các hoạt động thích hợp với ngày đọc sách của trẻ em.

(Các biện pháp trên phương diện tài chính)
Điều 11.
1. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực có biện pháp tài chính và các biện pháp khác để thực hiện các chính sách liên quan đến việc khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.
Phụ lục
Bộ luật này có hiệu lực từ ngày được công bố.
* Nghị quyết đi kèm của Ủy ban giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ thuộc hạ viện
Chính phủ khi thực thi bộ luật này cần lưu ý những điều sau:
1. Bộ luật này là thứ tạo ra chính sách và xây dựng môi trường cần thiết để khuyến khích hoạt động đọc sách tự chủ của trẻ em vì vậy cơ quan hành chính không được can thiệp bất chính.
2. Phải nỗ lực xây dựng nhanh chóng kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em, phản ánh ý nguyện của dân, xác lập các chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em và cụ thể hóa chúng.
3. Nỗ lực xây dựng các thư viện công cộng, thư viện trường học nhằm tạo ra môi trường để trẻ em có thể thân thiện với sách và thưởng thức sách mọi lúc, mọi nơi.
4. Khi thư viện các trường học và thư viện công cộng mua sách thì phải tôn trọng tính tự chủ của các cơ quan này.
5. Phải nỗ lực cung cấp các sách giúp cho sự trưởng thành khỏe mạnh của trẻ em dựa trên sự quyết định tự chủ của những người tiến hành sự nghiệp này.
6. Đối với sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động thích hợp với mục đích ngày đọc sách của trẻ em do nhà nước và chính quyền địa phương thực hiện thì phải tôn trọng tính tự chủ của trẻ em.

 

Phụ lục 3. Thông báo về “Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em


Ngày 9 tháng 8 năm Heisei 14 (2002)

Kính gửi

Hiệu trưởng các trường đại học quốc lập, công lập và tư thục
Hiệu trưởng các trường cao đẳng nghề quốc lập, công lập và tư thục
Hiệu trưởng trường giáo dục đặc biệt quốc lập Kurihama
Viện trưởng viện nghiên cứu chính sách giáo dục quốc gia
Hiệu trưởng đại học phát thanh truyền hình
Chủ tịch Hội chấn hưng văn hóa nghệ thuật Nhật Bản
Ủy ban giáo dục các đô, đạo, phủ, tỉnh
Thống đốc các đô, đạo, phủ, tỉnh
Giám đốc trung tâm tổng hợp thanh thiếu nhiên kỉ niệm Olympic quốc gia
Chủ tịch trung tâm thanh niên quốc gia
Chủ tịch trung tâm tự nhiên thiếu niên quốc gia
Chủ tịch trung tâm giáo dục phụ nữ quốc gia
Chủ tịch viện nghiên cứu tổng hợp giáo dục đặc biệt quốc gia
Chủ tịch trung tâm bồi dưỡng giáo viên
Giám đốc bảo tàng khoa học quốc gia
Giám đốc bảo tàng quốc gia
Giám đốc bảo tàng mĩ thuật quốc gia
Viện trưởng viện nghiên cứu quốc ngữ quốc gia
Vụ trưởng vụ thể thao-thanh niên bộ giáo dục, văn hóa, thể thao khoa học và công nghệ Endo Enichiro
Vụ trưởng vụ chính sách học tập suốt đời bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Kondo Shinji
Vụ trưởng vụ giáo dục tiểu học và trung học cơ sở bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Yano Shigenori

Lần này, thành viên nội các chính phủ đã đưa ra quyết nghị về “Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” (từ dưới đây gọi là “kế hoạch cơ bản”) vào ngày 2 tháng 8 năm 2002 có nội dung được đính kèm dưới đây, dựa trên quy định của điều 8 “Luật khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em” (Bộ luật số 154 năm 2001).

Kế hoạch cơ bản này là thứ được chính phủ lập ra nhằm nỗ lực xúc tiến một cách có kế hoạch và tổng hợp các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em vì thế nó thể hiện phương hướng cơ bản của các chính sách và biện pháp cụ thể trong 5 năm tính từ năm 2002 dựa trên quan điểm khuyến khích xây dựng môi trường giúp cho trẻ em tiến hành các hoạt động đọc sách một cách tự chủ.

Nội dung của nó là “thông qua gia đình, địa phương, trường học mà cung cấp các cơ hội giúp trẻ em làm quen với việc đọc sách”, “làm phong phú cơ sở vật chất và tăng cường sách vở thư viện”, “tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ quan có liên quan như trường học, thư viện và các đoàn thể dân sự”, “

Chính phủ, dựa trên kế hoạch cơ bản, đang nỗ lực tăng cường hơn nữa các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em trong sự liên kết chặt chẽ với các bộ ngành có liên quan.
Dựa trên nội dung của kế hoạch cơ bản này, mong rằng các bên sẽ chú ý tiến hành thích hợp các biện pháp để khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.

Đặc biệt kính mong thống đốc các đô, đạo, phủ tỉnh và Ủy ban giáo dục các đô, đạo, phủ, tỉnh căn cứ trên các lưu ý trên mà nỗ lực xúc tiến mạnh mẽ các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.

Đồng thời mong thống đốc và các Ủy ban giáo dục đô đạo, phủ, tỉnh sẽ ra thông báo tới các Ủy ban giáo dục ở thành phố, khu phố, thôn làng và những người đứng đầu các thành phố, khu phố, thôn làng cũng như thông báo tới các trường học, thư viện, các cơ quan giáo dục có tư cách pháp nhân trường học, các đoàn thể liên quan về kế hoạch cơ bản này.

Nội dung

  1. Xây dựng kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em

Các đô, đạo, phủ, tỉnh dựa trên quy định của mục 1 điều 9 của Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em và kế hoạch cơ bản để nỗ lực xây dựng nên “Kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” căn cứ trên tình hình khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở địa phương.

Các thành phố, khu phố, thôn làng phải xây dựng “kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách ở thành phố, khu phố, thôn làng” dựa trên quy định của mục 2 điều 9 “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” và lấy kế hoạch cơ bản làm nền tảng (kế hoạch khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em ở đô, đạo, phủ, tỉnh) cũng như căn cứ vào tình hình khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thành phố, khu phố, thôn làng đó.
2. Khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thư viện
Các thư viện quốc lập phải nỗ lực khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em thông qua việc tăng cường thực hiện đọc sách cho trẻ em nghe, khuyến khích tham gia tình nguyện, cung cấp dịch vụ thư viện chú ý đến trẻ em khuyết tật.

Ngoài ra, cần nỗ lực đảm bảo không gian cần thiết phục vụ trẻ em đọc sách như phòng đọc sách dành cho trẻ em và mua sắm có kế hoạch sách vở cần thiết của thư viện.

  1. Khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở trường học
    Phải nỗ lực hình thành thói quen đọc sách và giáo dục thái độ yêu mến đọc sách của trẻ em thông qua việc đọc cho trẻ em nghe, “đọc sách buổi sáng” và thực hiện mục tiêu do các trường đặt ra.
  2. Xúc tiến xây dựng thư viện

Các đô, đạo, phủ, tỉnh căn cứ trên tình hình thực tế còn nhiều khu phố, thôn làng chưa có thư viện và quan điểm nỗ lực phát triển toàn diện dịch vụ thư viện mà tiến hành có kế hoạch việc chỉ đạo, tư vấn đối với việc xây dựng, vận hành thư viện ở các thành phố, khu phố, thôn làng.

Các thành phố, khu phố, thôn làng cần nỗ lực thành lập các thư viện để có thể cung cấp dịch vụ thư viện thích hợp cho người dân.

  1. Tăng cường sách cho các thư viện trường học.

Thư viện trường học là nơi đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các hoạt động đọc sách, học tập một cách chủ động, sôi nổi của học sinh và triển khai các hoạt động giáo dục đa dạng như thời gian học tập tổng hợp vì vậy cần phải nỗ lực tăng cường đầy đủ sách cho thư viện ở các trường học.

Đặc biệt, ở các trường công lập thuộc giáo dục nghĩa vụ cần phải nỗ lực sớm đạt được tiêu chuẩn thư viện trường học và tăng cường đầy đủ sách bằng việc sử dụng biện pháp hưởng thuế từ địa phương trong kế hoạch 5 năm xây dựng thư viện trường học (2002-2006).

  1. Xúc tiến việc bố trí các thủ thư là giáo viên ở thư viện

Theo quy định của “Luật thư viện trường học” thì từ tháng 4 năm 2003, ở các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học kiểu mới (bao gồm cả trung học cơ sở và trung học phổ thông) có trên 12 lớp và các trường giáo dục đặc biệt, trường dành cho học sinh khiếm thính, khiếm thị (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) sẽ phải có thủ thư giáo viên. Vì vậy cần phải nỗ lực tiến hành đào bạo và bố trí những người có tư cách vào vị trí này một cách có kế hoạch.

  1. Đẩy mạnh thông tin khai sáng lấy trung tâm là “Ngày trẻ em đọc sách”

Cần phải nỗ lực thực hiện các hoạt động thích hợp căn cứ trên mục đích của “Ngày trẻ em đọc sách” (23/4) đồng thời vừa liên kết với các đoàn thể, cơ quan có liên quan vừa xúc tiến thông tin khai sáng rộng rãi.

  1. Xây dựng thể chế khuyến khích

Liên quan tới khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em, cần phải nỗ lực xây dựng thể chế khuyến khích một cách tổng hợp từ các cơ quan hành chính có liên quan như trường học, thư viện, Ủy ban giáo dục, các cơ quan phúc lợi-y tế và những đoàn thể, cá nhân có liên quan nhằm nghiên cứu các biện pháp liên kết, hợp tác thích hợp, trao đổi thông tin từ quan điểm khuyến khích sự tiến hành ở phương diện toàn thể xã hội thông qua gia đình, địa phương, trường học.

Liên lạc

Phòng giáo dục thanh thiếu nhiên, cục chính sách học tập suốt đời, Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ

 

Phụ lục 4. Luật chấn hưng văn hóa đọc

(Bộ luật có hiệu lực từ ngày 27 tháng 7 năm 2005)

 

(Mục đích)

Điều 1.

Bộ luật này có mục đích xác định triết lý cơ bản về chấn hưng ăn hóa đọc trên cơ sở tư duy rằng văn hóa đọc là thứ không thể thiếu trong việc kế thừa và nâng cao tri thức, trí tuệ được tích lũy trong lịch sử lâu dài của nhân loại và giáo dục tính người phong phú cũng như phát triển chủ nghĩa dân chủ lành mạnh; làm rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước và chính quyền địa phương đồng thời nỗ lực xúc tiến một cách tổng hợp các chính sách chấn hưng văn hóa đọc ở nước ta, cống hiến cho việc thực hiện đời sống quốc dân có trí tuệ, tâm hồn phong phú hơn và xã hội đầy sức sống thông qua việc xác định các nội dung cần thiết liên quan tới chấn hưng văn hóa đọc.

 

(Định nghĩa)

Điều 2. “Văn hóa đọc” trong bộ luật này là chỉ hoạt động tinh thần được diễn ra với trung tâm là việc đọc, viết những gì được thể hiện bằng chữ viết (ở các điều dưới đây gọi là văn bản) và các hoạt động xuất bản, các hoạt động khác như cung cấp văn bản cho con người cũng như các xuất bản phẩm và các kết quả của hoạt động này.

(Triết lý cơ bản)

Điều 3.

  1. Việc xúc tiến thực hiện chính sách chấn hưng văn hóa đọc phải được tiến hành nhằm tạo ra môi trường ở đó tính tự chủ của tất cả quốc dân được tôn trọng đồng thời quốc dân có thể thụ hưởng lợi ích của văn hóa đọc phong phú một cách bình đẳng trong suốt cuộc đời ở những nơi khác nhau như địa phương, trường học, gia đình và các nơi khác bất chấp các yếu tố như khu vực cư trú, điều kiện bản thân hay các yếu tố khác.
  2. Khi chấn hưng văn hóa đọc, cần phải chú ý đầy đủ rằng quốc ngữ là nền tảng của văn hóa Nhật Bản.
  3. Trong giáo dục trường học phải chú ý đầy đủ tới việc giáo dục năng lực ngôn ngữ với các năng lực cơ bản như năng lực đọc, năng lực viết (từ dưới đây gọi là năng lực ngôn ngữ) thông qua toàn thể khóa trình giáo dục nhằm làm cho tất cả quốc dân có thể thụ hưởng lợi ích của văn hóa đọc.

(Trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước)

Điều 4.

Nhà nước, tuân theo triết lý cơ bản ở điều luật trước đó, phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng, thực hiện một cách tổng hợp các chính sách liên quan tới chấn hưng văn hóa đọc.

(Trách nhiệm và nghĩa vụ của chính quyền địa phương)

Điều 5.

Chính quyền địa phương dựa trên triết lý cơ bản có nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng và thực hiện chính sách liên quan đến chấn hưng văn hóa đọc dựa trên tình hình thực tế của địa phương đồng thời nỗ lực liên kết với nhà nước.

(Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan)

Điều 6.

Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực tạo ra thể chế cần thiết để tăng cường liên kết với các thư viện, cơ quan giáo dục và các cơ quan khác cũng như các đoàn thể dân sự để việc thực thi chính sách chấn hưng văn hóa đọc được diễn ra suôn sẻ.

(Chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương)

Điều 7.
1. Các thành phố, thôn làng phải nỗ lực xây dựng và bố trí thích hợp các thư viện công và tư với số lượng cần thiết nhằm đáp ứng phù hợp nhu cầu của người dân địa phương đối với thư viện.

  1. Nhà nước và chính quyền địa phương phải thực hiện các chính sách cần thiết nhằm xây dựng thể chế nhân sự như đảm bảo đủ thủ thư, làm phong phú tư liệu trong thư viện, xây dựng các điều kiện vật chất để xúc tiến thông tin hóa, cải thiện và nâng cao sự vận hành của các thư viện công và tư nhằm đảm bảo cho các thư viện công lập có thể cung cấp sự phục vụ thích hợp cho người dân địa phương.
  2. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực thực hiện các chính sách cần thiết để các trường đại học và các cơ quan giáo dục khác mở cửa thư viện của mình cho người dân bình thường, mở các khóa giảng bài công khai về văn hóa đọc và xúc tiến các hoạt động cống hiến cho chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương.
    4. Ngoài những gì được quy định ở khoản 3 nói trên, nhà nước và chính quyền địa phương phải thực hiện các chính sách cần thiết để trợ giúp các đoàn thể dân sự tiến hành các hoạt động có ích cho chấn hưng văn hóa đọc nhằm nỗ lực chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương.

(Giáo dục năng lực ngôn ngữ trong giáo dục trường học)

Điều 8.

  1. Nhà nước và chính quyền địa phương phải thực hiện các chính sách cần thiết nhằm phổ cập phương pháp hiệu quả và cải thiện các phương pháp giáo dục nhằm giáo dục đầy đủ năng lực ngôn ngữ trong giáo dục trường học đồng thời thực hiện các chính sách cần thiết nhằm đào tạo giáo viên, làm phong phú nội dung bồi dưỡng và nâng cao chất lượng giáo viên.
  2. Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải thực hiện các chính sách cần thiết liên quan để chuẩn bị thể chế nhân sự đảm bảo đủ thủ thư hoặc giáo viên đảm nhận nghiệp vụ thư viện, làm phong phú tư liệu thư viện và xây dựng các điều kiện vật chất cho xúc tiến thông tin hóa nhằm xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục năng lực ngôn ngữ trong giáo dục nhà trường.

(Giao lưu quốc tế về văn hóa đọc)

Điều 9.

Nhà nước phải đảm bảo cho quốc dân được cung cấp văn hóa đọc phong phú từ nhiều nước ở phạm vi nhiều nhất có thể đồng thời phải thực hiện các chính sách cần thiết để xúc tiến giao lưu quốc tế về văn hóa đọc và trợ giúp việc dịch các xuất bản phẩm tiếng Nhật ra tiếng nước ngoài, trợ giúp dịch các xuất bản phẩm của nước ngoài có nền văn hóa chưa được biết đến rộng rãi ở nước ta sang tiếng Nhật.

(Phổ cập các xuất bản phẩm học thuật)

Điều 10.

Nhà nước trên cơ sở nhận thức được việc phổ cập các xuất bản phẩm học thuật thường gặp khó khăn cần phải có sự trợ giúp và các chính sách cần thiết khác để xuất bản thành tựu nghiên cứu học thuật.
(Ngày văn hóa đọc)

Điều 11.

Đặt ra ngày văn hóa đọc nhằm nâng cao mối quan tâm và sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa đọc trong đông đảo quốc dân.

  1. Ngày văn hóa đọc là ngày 27 tháng 12.
  2. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực sao cho các hoạt động thích hợp được diễn ra trong ngày văn hóa đọc.

(Các biện pháp ở phương diện tài chính)

Điều 12.

Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực thực hiện các biện pháp tài chính và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện các chính sách chấn hưng văn hóa đọc.

Phụ lục
Bộ luật này có hiệu lực thực thi kể từ ngày công bố.

 

 


Cũ hơn Mới hơn