Quyền sở hữu đất đai ở Nhật Bản thời trung đại: Vai trò của các chùa Phật giáo và tự viện (2)


Quyền sở hữu đất đai ở Nhật Bản thời trung đại: Vai trò của các chùa Phật giáo và tự viện

Bản quyền 2007 của ADOLPHSON VÀ RAMSEYER.

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Việt

B. Kiện tụng

Bằng hai cách, các ngôi chùa cũng tạo điều kiện thuận tiện cho việc thực thi hòa bình quyền sở hữu đất đai. Thứ nhất, chúng cung cấp tòa án cho các cư dân. Trên thực tế, bằng sự miễn thuế và sự bảo vệ bằng quân sự mà chúng cung cấp, chùa và tự viện đã thực thi dịch vụ xét xử các tranh chấp đất đai nội bộ. Bởi vì đất đai của chùa phần lớn được miễn trừ khỏi sự can thiệp của chính phủ (fuyu menden), nên khi  các cư dân (hay các nhà quyền quý khác) không đồng ý với quyền lợi của họ đối với thu hoạch họ sẽ hướng về ngôi chùa nắm vùng đất đó.

Các ngôi chùa không phải là cơ quan duy nhất cung cấp dịch vụ xét xử. Dưới tay chính quyền Kamakura, cơ quan mạc phủ đôi khi gửi đi các đoàn võ sĩ như là đại diện (được biết đến như là jito) tới các trang viên được miễn thuế. Đôi khi, các đại biểu này gây ra tranh chấp với những người sở hữu các trang viên bằng việc từ chối tiến hành sự chia sẻ truyền thống đối với thu hoạch. Và khi họ làm như vậy, người nắm trang viên và các đại biểu đôi khi đã giải quyết tranh chấp bằng cách cắt trang viên làm hai về mặt địa lý (shitaji chubun)

Tuy nhiên trong quá trình thay mặt chính phủ, các đại diện này đôi khi cũng tự mình cung cấp dịch vụ xét xử. Vở kịch thời trung đại (Kyo gen) Oko và Sako đã minh họa quá trình này. Người nông dân Oko nhận ra rằng con bò cái của nhà hàng xóm Sako đã ăn và dẫm nát ruộng lúa nhà mình. Khi Sako từ chối đền bù thiệt hại, Oko đe dọa kiện. Vở kịch diễn tiến như sau: người vợ thông minh của Oko đã hướng dẫn chồng mình các mưu chước kiện tụng và sau đó là sự đối đầu giữa bà ta và Sako và khép lại với sự cầu xin thống thiết của Sako đối với khán giả khiến họ bật cười -chúng ta hãy nhớ lại sự cầu xin của Canio trong Pagliacci- (Ramseyer, 1995).

Thứ hai, các ngôi chùa thực thi đòi hỏi của trang viên chống lại những kẻ bên ngoài trong các phiên tòa của triều đình và mạc phủ. Việc kiện tụng rất tốn kém, tiêu tốn thời gian và đòi hỏi biết đọc biết viết và kĩ năng được hình thành thông qua kinh nghiệm. Những chủ đất khiêm tốn không có tiềm lực để đáp ứng kiện tụng hoặc là có người tinh thông để theo đuổi vụ kiện có hiệu quả. Do có nhân sự nòng cốt với học vấn cao và là người tham gia liên tục, chủ yếu, các ngôi chùa và tự viện đã cung cấp cả hai thứ trên.

C. Những mối đe dọa:

1. Các elite: Các chủ đất cần sự giúp đỡ để chống lại ba nhóm: các elite ở kinh đô, các võ sĩ cấp tỉnh và những tên cướp và các quan nhiếp chính địa phương của chính họ[1]. Mối quan tâm đầu tiên là các elite ở kinh đô. Năm 1092, hai người thuộc dòng họ Fujiwara (một người là cháu của quan nhiếp chính đương quyền) đã sai khiến  các tùy tùng quấy rối và giết các viên chức trên vùng đất của một đền thờ thần đạo là chi nhánh của chùa Enryaku-ji. Khi Enryaku-ji đe dọa phản kháng, triều đình đã chấp nhận trừng phạt cả hai. Trên thực tế, triều đình chỉ đưa ra sự trừng phạt nhẹ, vì vậy ngôi chùa đe dọa lần nữa và triều đình đã đày hai người tới các tỉnh ở xa[2]. Gần như là cùng thời gian, thống đốc của tỉnh Omi đã chộp lấy sự kiểm soát đối với vùng đất của đền thờ thần đạo là chi nhánh của chùa Kofuku-ji. Ngôi chùa đã phái hàng ngàn nhà sư tới kinh đô và triều đình đã trục xuất viên thống đốc đi xa.[3]

Mặc dù các ngôi chùa và tự viện đầy quyền lực e ngại tấn công Elite ở Kyoto bằng lực lượng quân sự, họ đã chỉ rõ rằng họ không hề ngần ngại tấn công các địch thủ tôn giáo. Vào thế kỉ 13, Kofuku-ji nhận ra mình đang ở trong cuộc tranh chấp quyền sở hữu nguồn nước với Iwashimizu Hachimangu một ngôi đền thần đạo đầy quyền lực và độc lập ở Kyoto. Một vài người đàn ông từ trang viên Iwashimizu tấn công và giết chết những người nông dân ở trang viên Kofukuji, đổi lại các nhà sư của Kofukuji đã giết những người ủng hộ Iwashimizu và tra tấn 60 gia đình, và những người của Iwashimizu đã giết chết nhiều đầy tớ của Kofukuji. Có vô vàn tranh chấp diễn ra tại triều trình và mạc phủ. Nhưng trong số các cuộc tranh chấp và kiện tụng thì những tranh chấp về nguồn nước vẫn duy trì và trận chiến còn tiếp tục ít nhất nửa thế kỉ tiếp theo[4].

Các tranh chấp có thể làm các ngôi chùa dính vào các cuộc tranh giành vô cùng nguy hiểm. Ví dụ như vào năm 1176, thống đốc của tỉnh Kaga và em ông ta trộm cắp ở trang viên Enryakuji và tra tấn một vài gia đình. Khi triều đình từ chối trừng phạt họ, Enryakuji đã phái các nhà sư của mình  vào kinh đô (ghi chép của triều đình cho biết số nhà sư lên đến 2000). Nhiều người chết trong các trận bao vây nhưng cựu hoàng đế Go-Shirakawa khăng khăng rằng đất đai đó không thuộc về ngôi chùa mà nó thuộc về triều đình.

Enryakuji không chịu nhượng bộ. Dưới áp lực không ngừng của chùa, cuối cùng Go-Shirakakawa đã lưu đày viên thống đốc. E sợ rằng ông ta xuất hiện và dọa dẫm, cựu hoàng đế cũng cách chức trụ trì chùa Enryakuji, tịch thu vùng đất đai đó (bao gồm cả những vùng đất mà ngôi chùa sở hữu), và ra lệnh đày đi xa sư trụ trì. Trên đường lưu đày các nhà sư của chùa Enryakuji đã chặn đường đoàn dẫn giải và phóng thích ông ta. Khi Go-Shirakawa lệnh cho họ giao nộp trụ trì để xử phạt, chùa đã từ chối.

Đối với Go-Shirakawa thì điều này dường như trở thành một trong những hành động khó có thể tha thứ. Go-Shirakawa đã triệu Taira Kiyomori (vào thời gian đó có lẽ là nhân vật có quyền lực nhất ở Kyoto) và lệnh cho ông ta bao vây ngôi chùa. Thật ngẫu nhiên, Kiyomori phát hiện ra một âm mưu chống lại ông ta do một số tùy tùng cao tuổi của Go-Shirakawa tiến hành. Từ bỏ Enraykuji, ông quay sang các tùy tùng này, bắt giữ họ và sau đó giết nhiều người trong số đó. Việc bao vây chùa Enryakuji chưa bao giờ trở thành hiện thực.[5]

2. Các võ sĩ địa phương

Các chủ đất cũng cần sự bảo vệ để chống lại trộm cướp và các võ sĩ cấp tỉnh hoặc võ sĩ ở thứ bậc thấp hơn. Ví dụ như vào năm 1171, lính cận vệ đi cùng Go-Shirakawa đã cố gắng chiếm đoạt một trong những trang viên của Kofukuji và giết chết người quản lý trong cuộc tấn công này. Ngôi chùa kiện lên hoàng đế đã nghỉ hưu và ông ta xác nhận quyền của ngôi chùa đối với vùng đất đó. [6]

Sự tranh chấp phức tạp hơn có liên quan đến dòng họ võ sĩ Sato. Vào giữa thế kỉ 12, dòng họ Sato xâm lược trang viên của Fujiwara. Khi Fujiwara phàn nàn, dòng họ Sato đã chuyển sự cướp bóc của mình sang các trang viên lân cận do bà con hoàng gia sở hữu. Go-Shirakawa cố gắng can thiệp nhưng Sato hoàn toàn lờ đi những mệnh lệnh của ông ta.

Bị bao vây người thân thích của hoàng gia này đã phó thác đất của mình cho chùa Koya (trên đỉnh Koya-Người dịch). Bà ta nghĩ rằng những gì cựu hoàng đế không làm được thì ngôi chùa này có thể sẽ làm được. Chùa đã làm được nhưng không phải là không cần đến nỗ lực đáng kể. Trước hết nó phải giải quyết với viên thống đốc tham lam bởi vì trong năm 1160 một tùy tùng cao tuổi của Taira đã giành được vị trí này và bắt đầu xâm phạm giới hạn trang viên của bà ta. Khi Koya cử tới người đại diện, viên thống đốc đã chống lại với hàng trăm võ sĩ những người đã đốt cháy nhà cửa và bắt giữ những người nông dân địa phương. Phải đến năm 1163 Koya mới có thể chấm dứt các cuộc tấn công vào vùng đất của mình. [7]

Một thế kỉ sau, một đại diện của mạc phủ (jito) ở trang viên thuộc sở hữu của ngôi chùa Jikurakuji đã chấm dứt việc chuyển phần chia thu hoạch cho ngôi chùa và ép buộc những người trong làng làm việc cho ông ta (họ sẽ bị cắt mũi và tai nếu từ chối). Ngôi chùa đã giúp những người nông dân viết đơn thỉnh nguyện tới Mạc phủ. Tuy nhiên, trái với hy vọng của Jikurakuji, Koya đã tiến hành mở rộng bàn tay đối với vùng này (không hề có đòi hỏi hợp pháp nào) và bản thân liên minh với dòng họ làm đại diện cho Mạc phủ. Cũng như thế, vào đầu thế kỉ 14 Koya và dòng họ làm đại diện cuối cùng đã giành được sự kiểm soát hợp pháp đối với vùng này. [8]

3. Sự xấc xược trung gian

Cuối cùng, các chủ đất cần sự giúp đỡ trong việc ép các  đại lý của chính mình nộp cho mình phần thu hoạch thích đáng. Để làm được điều đó, họ tranh thủ sự giúp đỡ của chùa (thông qua sự phó thác) nhưng đôi khi thậm chí cả chùa cũng gặp khó khăn trong việc thu phần thu hoạch. Sự xấc xược trung gian là mối nguy cơ trong bất cứ tổ chức phức tạp nào, và nó là một vấn đề của các trang viên Nhật Bản trung đại. Những nguyên đơn không phải là người địa phương đối với vùng đất (như những người ủy nhiệm) không thể giám sát hoàn toàn những gì mà những đại lý địa phương (ví dụ như người quản lý cấp tỉnh, những người nông dân…) và cũng chỉ có thể cưỡng ép họ làm ở một mức độ nào đó. Họ chỉ có thể tới đó trong chuyến đi vài ngày trong khi các nhân viên của họ thì luôn ở đó và đôi khi được vũ trang hạng nặng. Những người làm đại lý này có thể báo cáo rằng mùa màng thất bát và họ có thể ấn định thuế mới cho chính họ, họ cũng có thể chiếm đoạt vùng đất đó cho chính họ và họ cũng dễ dàng quyết định không trả thuế.

Ví dụ như dòng họ Sasaki đã quản lý một trong những trang viên của Enryakuji. Vào cuối thế kỉ 12, họ bắt đầu từ chối nộp phí cho chùa. Khi chùa phái người đại diện tới, Sasaki đã giết vài người trong số đó. Ngôi chùa cầu xin Mạc phủ Kamakura nhưng Sasaki lại là một trong những người ủng hộ mạc phủ mạnh nhất. Thạm chí vào năm 1235, các tư liệu đã chép rằng dòng họ Sasaki đã giết một đại diện của Enryakuji được phái tới thu phí (Adolphson, 2007b: 63-64).

Koya cũng đối mặt với vấn đề tương tự. Năm 1240, một trong những nhân viên địa phương của nó bày mưu cùng với một viên chức (một jito) của mạc phủ Kamakura là Taira no Nagayasu. Họ đã cùng nhau lái nguồn nước từ một trang viên của Koya tới vùng đất của chính Nagayasu-một vài trong số đó có thể nằm trên trang viên của chùa. Khi nhân viên của Koya chết, Nagayasu tuyên bố đất của Koya là đất của ông ta. Koya đã nỗ lực với đủ mọi mưu chước để khôi phục đất đai và nguồn nước nhưng không có nỗ lực nào thành công.

Khi nó được đưa ra đàm phán, Nagayasu đã ăn trộm thu hoạch vào ban đêm. Khi nó bị kiện, triều đình đã mất nhiều năm và sau đó quyết định việc tố tụng chống lại Koya. Cuối cùng các cư dân từ trang viên Koya đã sử dụng vũ lực. Hai thập kỉ sau phán quyết khó chịu của triều đình, những người đàn ông từ trang viên của Koya liên tục xâm lược các vùng đất lân cận và giết các cư dân ở đó. Các tư liệu không nói cuối cùng Koya có thu hồi lại được vùng đất và nguồn nước của mình hay không. [9]

Một vài  người làm đại lý có vẻ  đã tỏ ra dứt khoát dựa trên luật. Take Kakunin, người lần đầu tiên xuất hiện trong các ghi chép của Todaiji như người quản lý trang viên vào năm 1127. Thay mặt cho chùa, ông ta đã mở rộng vùng đất của nó một cách rất hung hãn-tạo ra những phàn nàn từ cả phía những ngôi chùa, đền thờ thần đạo khác và cả phía thống đốc địa phương. Tuy nhiên chính bản thân ông ta cũng lại trộm cắp đất công và đất từ Todaiji.

Những lời phàn nàn đã đẩy Kakunin tới tòa vài lần nhưng ông ta dường như  trước sau như một đều thoát khỏi sự trừng phạt. Sinh ra một Taira, ông ta đã duy trì một chỗ dựa quyền lực mạnh mẽ trong số các võ sĩ và viên chức địa phương và khi ông ta xâm lược các trang viên ông ta thường tới cùng với các võ sĩ Taira. Rõ rằng rằng ông ta là lực lượng mà Todaiji không thể đối phó. Bất chấp việc trộm cắp của chùa ông ta vẫn đều đặn thăng tiến trong thứ bậc quan liêu. Khi ông ta chết, vợ ông ta (một nữ tu sĩ) tiếp tục mưu chước của ông ta. Todaiji đã phàn nàn rằng bà ta đã chiếm quyền sở hữu đối với một trang viên của chùa.[10]

Biết được những rắc rối mà những người đại diện có thể gây ra, Koya đã cố gắng bó buộc sự tự do. Những đại diện của nó đã không từ bỏ nó một cách sẵn lòng. Dòng họ Sakamoto đã quản lý một trang viên ở tỉnh Kii cho Koya vào thế kỉ 11. Khi Koya cố gắng  lên tiếng đòi lại sự kiểm soát, người đứng đầu dòng họ Kakamoto đã giết đại diện của Koya. Koya đánh lại và lần này thành công. Koya đã tịch thu 200 acres (1 Ác-rơ=0,4hec ta) từ tay dòng họ này và 30 năm sau khi một sự kiện tương tự xảy ra Koya đã tịch thu toàn bộ[11].

III. Sự đòi hỏi mang tính hợp đồng

Các ngôi chùa có thể đã phát triển sức mạnh quân sự để bảo vệ các trang viên của mình và thu hút sự ủy thác nhưng họ đã sử dụng nó cả vào những việc khác. Nói cụ thể hơn, họ bắt đầu sử dụng nó để bảo vệ các thương nhân và thợ thủ công. Bằng vô số các trang viên, nhưng ngôi chùa lớn đã trở thành các chủ đất không phải chỉ vì có nông dân mà còn vì có các thương nhân và  nhà tư bản chớm nở. Những người này cũng cần sự bảo vệ chống lại những nhà quyền quý thù địch và cần tới năng lực ép những đối tác hợp đồng phải thực thi lời giao ước. Bằng nhiều cách, những ngôi chùa lớn đã đa dạng hóa công việc này.

Do vị trí của mình, Enryakuji đã chi phối thị trường Kyoto trong khi Kofukuji chi phối Nara. Vào những năm 1280, Enryakuji đã tiến hành dịch vụ pháp lý cho 80% người ủ  rượu và những người cho vay tiền (Adolphson, 2000: 328). Nói chung, những người ủ rượu và những người điều hành nhà kho thường tích lũy vốn để có tiền cho vay. Thông qua các khoản tiền vay này họ đã đầu tư nhiều cho sự mở rộng thương mại ở nhiều thế kỉ tiếp theo.

Đối với những người cho vay tiền này, Enryakuji đã cung cấp dịch vụ đảm bảo thực thi hợp đồng. Nếu như một con nợ bị vướng nợ một chủ ủ rượu, lực lượng quân sự của Enryakuji sẽ  đảm bảo rằng anh ta sẽ trả. Trên thực tế, theo tính toán của nhà sử học Hitomi Tonomura (1992: 24), ngôi chùa đã đóng vai trò như là nhà bảo trợ cho một số lượng lớn những người cho vay tiền ở Kyoto.

Kofukuji đã cung cấp một loạt các dịch vụ tương tự cho các thương nhân Nara (Adolphson, 2000: 330). Biết rằng Kyoto là thành phố lớn hơn và Enryakuji cần phải đóng vai trò lớn hơn. Mặc dù vậy Kofukuji cũng đóng vai trò là nhà bảo trợ cho 85 phường hội khác nhau. Những phường hội này cung cấp các hàng hóa và dịch vụ phong phú như rượu, cá, đậu phụ, giấy và gái điếm. [12]

Nếu các ngôi chùa sử dụng sức mạnh quân đội thường xuyên để bòn rút số tiền dựa trên giá trị thị trường của dịch vụ mà họ cung cấp thì số tiền phải trả tức thời hiếm khi gây ra vấn đề. Mặc dù Enryakuji và Kofukuji là các cơ sở tôn giáo địa phương quyền lực nhất, họ không phải là duy nhất. Có lẽ, sự hiện diện của các đối thủ cạnh tranh trong thị trường cung cấp dịch vụ chính phủ đã ngăn chặn họ tranh khỏi sự cho phép bản thân sa vào bản năng cướp bóc.

IV. Kết luận

Chùa phật đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc thực thi quyền sở hữu ruộng đất trong Nhật Bản trung đại. Đó không phải là vai trò sinh ra từ học thuyết hay sự sùng bái. Nó là vai trò sinh ra từ sự miễn thuế của nó, một sự miễn thuế mà các chùa và tự viện trao cho để  đổi lấy sự phó thác ruộng đất. Với một số lượng lớn các nhà sư và những người phục vụ, các ngôi chùa có thể cung cấp cảnh sát, xét xử và dịch vụ pháp lý. Trên thực tế, các ngôi chùa và tự viện đã cạnh tranh lẫn nhau để giành lấy sự phó thác ruộng đất bằng việc cung cấp cả việc tiếp cận miễn thuế và sự đảm bảo đối với vùng đất được phó thác.

Thị trường dành cho chính phủ tư này là một thực thể của Nhật Bản trung đại-và chỉ ở thời kì trung đại. Các chùa và tự viện bắt đầu nhận việc phó thác đất đai sau khi chính phủ chuyền tới Kyoto vào cuối thể kỉ 8. Quá trình này chấm dứt vào 7 thế kỉ sau khi quốc gia rơi vào cuộc nội chiến và các ngôi chùa, tự viện không còn khả năng cung cấp sự đảm bảo đáp ứng yêu cầu của chủ đất nữa.

Vào khoảng năm 1500, thị trường này đã biến mất. Trong suốt cuộc nội chiến thế kỉ 16, các ngôi chùa và tự viện đã không thể cung cấp  sự đảm bảo đầy đủ. Trong thời kì hòa bình sau 1600, chúng không thể  hứa hẹn các quyền như là sự đảm bảo mà các nhà nước cung cấp. Dưới chính thể Tokugawa mới (1600-1868), chính phủ ở Tokyo (lúc đó gọi là Edo) đã duy trì một cấu trúc liên bang dựa trên các chính phủ quân sự lãnh địa. Đổi lại, với lãnh địa riêng của mình những chính phủ này đã giữ được sự kiểm soát chặt chẽ hơn bất cứ chính phủ nào trong Nhật Bản trung đại.

Trước duy tân Minh Trị năm 1868, thị trường mà chúng tôi đã miêu tả đã đi được 4 thế kỉ. Hiển nhiên, nó không thể giải thích sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục theo sau sự duy tân đó. Sự giải thích (hay một phần của nó) nằm ở các chính sách của Tokugawa và Minh Trị (1868-1912) đã bảo vệ và kiến thiết sự đầu tư vào tư bản vật chất và con người: trong hải quan, luật và tòa án – thứ đã thực thi các quyền và giao dịch liên quan đến các nguồn tài nguyên quý hiếm (Ramseyer, 1996). Nếu như tồn tại một mối liên hệ giữa thị trường trung đại mà chúng tôi đã miêu tả và sự tăng trưởng trong thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, nó không thể nằm trong bất cứ thứ gì trực tiếp.

Thay vào đó, có lẽ mối liên hệ giữa thị trường trung đại đối với các dịch vụ chính phủ và sự tăng trưởng hiện đại nằm ở bản thân truyền thống cạnh tranh của nó. Thế giới tôn giáo Nhật Bản trung đại  là một thế giới đa học thuyết: một thế giới ở đó một số lượng lớn các trường phái và môn phái cạnh tranh tín đồ và nhà bảo trợ, và ở đó các tín đồ và nhà bảo trợ  có thể lựa chọn-và tái lựa chọn các trường phái,  môn phái khi tình thế đặt ra đòi hỏi. Thế giới của các elite chính trị là một thế giới đa thỉnh nguyện: một thế giới ở đó dòng họ hoàng gia duy trì ở trung tâm nhưng trong đó một số lượng lớn các dòng họ khác và cá nhân khác cạnh tranh kiểm soát triều đình và bản thân dòng họ hoàng gia đó và hướng tới các ngôi chùa để tìm kiếm vốn văn hóa (các lễ kỉ niệm, nghệ thuật, cầu nguyện…). Thế giới quyền lực của chính phủ là thế giới nhiều người cung cấp: như chúng tôi đã giải thích trong bài báo này, một thế giới ở đó các ngôi chùa và các tự viện cạnh tranh với chính phủ thực sự để cung cấp các dịch vụ chính phủ cơ bản. Và thứ quyết định đối với sự  tăng trưởng kinh tế thế kỉ 19-20 là đặc điểm cạnh tranh không ngừng của kinh tế Nhật Bản.

Hết


[1] Những hiểu biết gần đây cho thấy quyền sở hữu đất đai được đảm bảo nhất nếu như người thình cầu có được sự thừa nhận của những người hàng xóm.

[2] Xem nguyên tác

[3] Xem nguyên tác

[4] Xem trong nguyên tác.

[5] Xem trong nguyên tác.

[6] Xem trong nguyên tác.

[7] Xem trong nguyên tác.

[8] Xem trong nguyên tác.

[10] Xem nguyên tác.

[11] Xem nguyên tác.

[12]  Adolphoson (2000: 330-31). Các dịch vụ được cung cấp bởi các ngôi chùa tất nhiên không được khuyến khích phát triển. Các ngôi chùa cũng bảo kê cho sự độc quyền và thu phí ở các đường lớn.


Cũ hơn Mới hơn