Nhạc cụ truyền thống và  nghệ thuật sân khấu  của Nhật Bản


Koto( 琴) là một nhạc cụ dây cổ điển của Nhật làm bằng gỗ. Dài 180 cm, rộng 30 cm và được chơi bằng miếng gảy đeo ở ngón tay cái , ngón trỏ và ngón giữa của tay phải. 13 dây được căng qua một thanh chắn và độ cao thấp của nốt nhạc được xác định bởi thanh chắn này. Vào thời kì Edo ( 1603-1867), việc chơi đàn koto được coi như là điều cần thiết  gắn liền với phụ nữ và rất nhiều thiếu nữ con các gia đình danh giá tập koto từ khi còn nhỏ. thậm chí cho đến ngày nay phần lớn những người chơi Koto vẫn là phụ nữ.

Shamisen ( 三味線)  là loại nhạc cụ  dây có hình dáng như đàn banjo nhưng đặc điểm nổi bật của nó là không có phím. Nó được chơi bằng cách đánh vào ba dây bằng chiếc móng gảy và  thường được chơi kèm trong Kabuki , kịch bunraku và các bài dân ca. Nó đến từ Trung Hoa qua Okinawa và truyền ra khắp Nhật bản sau đó nó phát triển độc lập. Từ thời kì Edo (1603-1867) nó trở thành  nhạc cụ tiêu biểu của Nhật bản.

Biwa (琵琶) là nhạc cụ có dây của phương Đông. Nó có nguồn gốc ở persia và Arabia đến Nhật bản qua Ấn độ và Trung Quốc vào thời kì Nara ( 710-794). Thân đàn làm bằng gỗ có hình ô van có 4 đến 5 dây và được chơi bằng móng gảy. Nó được biết đến là nhạc cụ xuất hiện trong genji mono gatari và các câu chuyện khác và phần lớn do các nữ nghệ sĩ biểu diễn.

Nô ()

Một hình thức nghệ thuật biểu diễn với một câu chuyện nhỏ. Nô là thể loại ca kịch cổ nhất Nhật Bản. Nô phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ 14. Câu chuyện được kể với giọng điệu đẹp được gọi là Utai (謡) và các vai được chia thành vai chính Shite và các vai phụ Waki. Các Shite đeo các mặt nạ bọc sơn mài làm bằng gỗ và các bộ trang phục thêu kim tuyến. Cũng có những vai không đeo mặt nạ nhưng  thường thì khuôn mặt lại không  ấn tượng bằng thứ mặt nạ không biểu hiện tình cảm gì.

Bởi mọi di chuyển bị hạn chế và các diễn viên không thể hiện tình cảm gì qua lời nói, Nô diễn tả những khía cạnh tăm tối của con người, mặt khác những cử chỉ bí ẩn và tiếng nhạc đều đều được biết đến như vẻ đẹp huyền diệu, bí ẩn.

狂言(kyougen

Là một loại hài kịch cổ diển của Nhật Bản. Giống như Nô nó ra đời vào thời kì Muromachi (1333-1573) bởi cặp cha con Kan Ami và Zeami (観阿弥、世阿弥) . Ban đầu nó được biểu diễn xen giữa các vở Nô, nhưng bây giờ nó được biểu diễn độc lập và đôi khi các diễn viên của Kyogen đóng các vai trong Nô.

So sánh với Nô, thì Kyogen có tính đại chúng hơn. Mặt nạ chỉ dùng cho một vài vai và không cần đến trang điểm ngoại trừ cho những vai đặc biệt như thần thánh hay ma quỷ còn thì trang phục là quần áo mặc thường ngày trong thế kỉ 15. Kịch bản của Kyogen khẳng định tính nhân văn  và không hề đề cập đến trộm cướp hay những con người quá xấu xa. Và thêm nữa, đối lập với Nô tập trung vào sự duyên dáng và nhảy, đặc điểm nổi bật của Kyogen là lời nói đi kèm với các hành động diễn xuất.

Nihonbuyou( 日本舞踊)

Điệu nhảy truyển thống Nhật bản này được ra đời vào khoảng thế kỉ 15 cùng với kiểu nhảy gọi là odori, có đặc điểm là các động tác nhảy, di chuyển, với điệu nhảy khác gọi là mai với đặc trưng là động tác di chuyển vòng tròn và tư thế gọi là furi thứ tạo ra ấn tượng đặc sắc mạnh mẽ.

Nhã nhạc (Gagaku-雅楽).

Gagaku là các sáng tác âm nhạc được hình thành từ âm nhạc truyền vào từ Trung Quốc và Triều Tiên thời cổ đại. Các nhạc cụ độc đáo được sử dụng như: sáo, tì bà, trống.. là đặc trưng tiêu biểu. Gagaku phát triển thịnh hành vào thời Heian  (794-1185) và được biểu diễn tại các ngôi chùa và đền thờ thần đạo.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture, Yoichi Sugiura) và  John K.Gillespie, Nxb Natsume, 2004.