Thiền

Nicolas Hogg sinh năm 1974 tại Leicester. Sau khi tốt nghiệp ngành tâm lý  trường đại học Đông Luân Đôn ( University of East London), ông đi du lịch khắp nơi. Ông đã từng  sống ở Nhật, Fiji và Mĩ. Hiện nay,  Nicolas Hogg sống ở Anh và sinh nhai bằng  nghề dạy đọc, viết cho những người tị nạn.

Ông đã  giành được  giải thưởng New writting ventures năm 2005 cho thể loại tác phẩm hư cấu và hai lần lọt vào danh sách đề cử giải Eric Gregory dành cho những nhà thơ trẻ. Gần đây, ông đã hoàn thành tiểu thuyết đầu tay có tên gọi Show me the sky ( tạm dịch: Hãy chỉ cho tôi thấy bầu trời).

Karl đang kể  cho cô con gái nghe  chuyện tất cả các cảnh sát Nhật đều đeo găng tay trắng như thế nào khi họ túm lấy anh  trong ánh đèn nê-ông hào nhoáng trên một con đường ở Tokyo. Khi ấy anh chỉ kịp  nhìn thấy những bàn tay loang loáng lướt qua mà không nhìn thấy thân hình họ.

“ Bố  đã bị bắt giữ bởi những nhà nghệ sĩ diễn kịch câm. Họ tống bố vào xà lim nơi chỉ có một cửa sổ và bốn tấm chiếu sậy. Không có bất cứ thứ gì khác. Sáng, trưa rồi tối, bố ăn mãi một thứ cơm giống nhau với món súp có vài sợi tảo biển loáng thoáng trên  bề mặt. Mỗi ngày một lần, viên cai ngục  mở khóa dẫn bố ra ngoài đi dạo với những bạn tù khác”.

Anh quay về phía cô con gái và cài chặt lại  ghế ngồi của cô bé. Anh yêu chiều cô con gái  đến độ người ta có thể tưởng tưởng rằng anh sẽ bắt cóc cô bé nếu như anh không  được chăm sóc cô bé nữa hoặc khi mẹ cô bé làm một điều gì đó.    “ Xoay tròn đi nào! Xoay tròn một vòng đi con!” Anh nói và mỉm cười “ Giống như trò kéo quân đó con yêu!”.

Những từ còn lại anh nói bằng tiếng Nhật và điều này không hiểu sao làm anh sửng sốt cho dù anh đã từng ở Nhật. Anh nói cho cô con gái biết rằng anh  đã từng biết nói xin chàocám ơn, xin làm ơn nhưng giờ đây anh đã quên. “ Dù thế nào”, anh liếc nhanh cô con gái trong gương chiếu hậu.

“ Giờ đây chúng ta cũng đang ở Mĩ”.

Anh muốn nói cho cô bé biết thêm về   gã Yakuza[1] với những hình xăm trên người và Samurai[2].  Điều anh muốn nói là thế chứ không là  phải sự trớ trêu khi anh  bị đuổi ra khỏi lực lượng thủy quân lục chiến vì  những hành vi bạo lực hay  những điều sẽ xảy ra với mẹ cô bé khi cô ta bỏ chạy  mang theo cô con gái duy nhất.

“  Gã Yakuza đó xăm từ cổ đến ngón chân”, anh làm điệu bộ diễn tả. “ Một tác phẩm nghệ thuật biết đi”. Anh cho xe chạy chậm lại và giữ vô lăng cho xe  vòng qua một đống băng bằng một tay để diễn tả cho cô bé biết  cổ và những ngón chân nằm ở chỗ nào.

“  Gã Yakuza là người duy nhất nói tiếng Anh và cũng là người duy nhất được phép nói. Nếu có người tù nào dám nói gì đó to  hơn tiếng thì thầm viên cai ngục sẽ lệnh cho anh ta quay trở lại vào bên trong ngay lập tức. Những người tù e ngại viên cai ngục vì có những cảnh sát ở đằng kia”, anh quay lại phía con gái và đầu thì gật lấy gật để sau từng lời nói.

“ Ngựa ơi!”, cô bé thức giấc trong vài giây để kêu to tên loài vật rồi lại chìm vào giấc ngủ. Các tấm cửa sổ phủ một lớp sương mờ vì thế Karl vớ lấy tấm giẻ lau sạch đám hơi nước đọng trên mặt kính. Chiếc xe chúi mũi xuống một cái rãnh. Qua tuyết, cùng với  cô con gái anh đã  nhìn thấy vài chú ngựa ở trong bãi.

II.

“ Sự yên lặng đã giết bố dần dần. Bố chỉ ở đó có duy nhất một ngày thôi và bố cảm thấy phát điên lên vì không có việc gì để làm cả. Tất cả những gì mà  gã Yakuza có thể làm bằng thứ tiếng  Anh  của anh ta là  chỉ cho bố xem những hình xăm trên người  “Cá chép này. Kiếm này. Rồng này”. Sự tẻ nhạt biến đi chút ít. Dù sao anh ta cũng là thú giải trí duy nhất của bố. Và bố cố nói cho anh ta hiểu việc ngồi không trong xà lim buồn chán đến cỡ nào. Cuối cùng anh ta cũng hiểu và mỉm cười. Anh ta cởi áo ra và chỉ cho bố xem hình xăm trên lưng, một võ sĩ ngồi  bắt chéo chân mắt nhắm nghiền bên cạnh dòng sông”.

Karl chạy chậm lại lần nữa. Ánh sáng lóe lên từ chiếc đèn hiệu trên chiếc xe ủi tuyết là sắc màu  duy nhất trong cái phong cảnh nhuộm một màu trắng tinh khôi này. Anh khéo léo về số  rồi lại tăng đột ngột làm chiếc xe biến thành lưỡi dao phá tan những lớp băng. “Anh ta chỉ vào cánh tay và nói “ he you. He you”. Bố không hiểu anh ta định nói gì. Anh ta đã hoàn toàn nản chí với thứ tiếng Anh của mình và mọi chuyện  rối tinh lên khi viên cai  ngục chạy tới. Có một sự tương phản khá lớn giữa viên cai ngục và gã Yakuza này. Viên cai  ngục gầy nhẳng như đứa trẻ trong bộ đồng phục nhăn nhúm rộng thùng thình thét còi vào mặt người đàn ông xăm khắp người đứng yên đó với bộ ngực trần đang trố mắt nhìn viên cảnh sát như thể anh ta có thể xé nhỏ anh ta thành từng mảnh bất cứ lúc nào.

Con gái anh vẫn ngủ say. Con đường trống rỗng giống như một đường kẻ của một thế giới đã bị xóa bỏ. Không ai trong số hai người đang ở trong xe cả.  Karl  đứng trong sân nhà tù ở Nhật và con gái anh thì đang mơ về con ngựa trắng với dải bờm lượn sóng đang phi nước đại băng qua đồng cỏ và những dòng suối lấp lánh.

“ Thêm một đống những viên cai  ngục khác kéo đến và nói lúng búng giống như Keystone cops và tất cả bọn bố lại bị tống trở lại vào xà lim”. Tất cả những người tù khác thì hốt hoảng nghe theo lệnh đó còn người tù Yakuza thì đi bộ thong thả về xà lim như thể anh ta đang tản bộ trong công viên. Khi niềm vui vẻ trôi đi ấy là khi rắc rối tìm đến. Bố lại trở về căn nhà êm ái của mình. Nó dường như câm lặng và tẻ ngắt hơn bao giờ hết. Tất cả những gì bố có thể làm là hít đất và ngủ. Bố đã mơ thấy bố thức dậy với chiếc chìa khóa trong tay và đi ra mở cửa,  và bố đã nghĩ  ánh sáng rực rỡ tràn qua các vết nứt chính  là ánh sáng mặt trời và tự do. Khi bố nhấc cánh cửa lên, tất cả những gì bố nhìn thấy là những vì sao và trái đất đang trở nên nhỏ lại ”.

Từ trên con đường trên cao, anh đưa mắt nhìn xuống phố. Những con đường không bóng cây xanh và những ống khói. Những ngôi nhà dường như đứng sát lại gần nhau cho đỡ lạnh.

III.

“ Chúa ơi! Bố  thực sự sợ hãi. thường thì khi con  thức dậy những điều khủng khiếp sẽ chỉ là một giấc mơ, nhưng cái hộp[3] này không thể biến mất như quả tên lửa phóng vút vào không gian. Bố điên lên, bố nói thực với con đấy. Bố đấm rầm rầm vào cửa cho đến khi những khớp ngón tay nứt ra. Những viên cai ngục  chạy đến, mở cửa hầm lên và thét vào mặt bố bằng tiếng Nhật. Khi ấy bố không hề bận tâm. Bố muốn họ chạy đến  lúc lắc cái dùi cui để làm điều gì đó. Nhưng chả có gì để mà phải đối phó cả nên họ chỉ đứng đó, ngoài cửa hầm và quát lên “ Im đi”. Bố thì sung sướng khi biết rằng không phải chỉ có một mình bố độc hành lên sao hỏa”.

Karl vén đồng hồ đeo tay xem giờ rồi lại kéo xuống. Anh lấy ra từ chiếc túi anh để cạnh chân một chai nhựa đựng nước hoa quả và dứ dứ trước mặt cô con gái. Cô con gái hỏi liệu con ngựa đã ở đây chưa. Anh nhìn cô bé cầm lấy chai nước bằng cả hai tay và cố kiết uống như thể đấy là lần đầu tiên hoặc là lần cuối cùng cô bé được uống. Đôi mắt cô bé chính là  của anh, đôi mắt xanh nhạt và sáng.

Mái tóc đen bóng là từ mẹ, một người phụ nữ vẫn còn đẹp một cách sắc sảo đáng ghét. Anh thực sự phải công nhận điều đó.

“Cuối cùng thì mọi thứ cũng trở lại yên bình, bố chấm dứt cơn tức giận, thở phào ra và ngủ thiếp đi cho tới tận sáng hôm sau”. Họ đã để cửa hầm mở suốt cả đêm có lẽ họ e ngại rằng bố sẽ làm một điều gì đó đối với chính bản thân mình. Giờ đây sau cánh cửa đóng đầy đinh và những nhặng xị ồn ào với gã yakuza ngày trước đó , những viên cai ngục  bổ sung đứng lặng  trong sân tập thể dục chờ đến giờ điểm danh. Vì thế khi bạn bố đến gần, bố dường như có cảm giác miễn cưỡng khi bắt đầu cuộc nói chuyện. Nhưng dù thế nào, anh ta cũng đã biết mọi chuyện về cái cửa, liếc nhìn những đốt ngón tay bố,  anh ta nói: “ Anh thật là khùng, cái đó chả có gì hay ho đâu”. Anh ta làm động tác giống như thể đầu anh ta là quả bom sắp nổ  và sau đó đi bộ cùng bố tới giữa sân”.

Karl đặt chiếc chai rỗng trở lại vào chiếc túi mà vợ anh đã chuẩn bị cho sáng nay. Cô ta đang ở với một người bạn cách nhà khoảng hai tiếng đồng hồ lái xe và dường như đang cố giữ nỗi giận dữ qua tuần để đến ngày thứ bảy trút hết vào gã đàn ông, người đã đưa cô đến Mĩ và sau đó bỏ rơi cô.

Động cơ gầm lên rồi sau đó tắt lịm. Karl trong giây lát, nhìn ra cánh đồng lấp lánh. Anh vặn chìa khóa lần nữa. Lần này chiếc xe gầm gừ nổ. Anh  chỉnh lại gương và giải thích gã Yakuza đã giới thiệu anh ta tên là  Makoto như thế nào. Những người tù khác tiếp tục xếp thành vòng tròn quanh sân khi Makoto ngồi trên sân và ra hiệu cho Karl  làm theo.

IV

“ Bọn bố đã ở đó, ngồi đối mặt với nhau ở giữa. Những người tù khác và những viên cai ngục  hoặc là đi bộ xung quanh hoặc là ngắm nhìn. Bố đã nghĩ rằng có thể sẽ bắt đầu một trận ẩu đả, một cái  nghi lễ nho nhỏ giữa một gã giang hồ và một người nước ngoài để mua vui cho những cai ngục”.

Nhưng sau đó Makoto cởi áo sơ mi và nhắm mắt lại. Làn da được tô vẽ của anh ta sáng lên dưới ánh nắng mặt trời đang dọi xuống giữa sân. Những chiếc vảy cá chép phát ánh sáng vàng và cái lưỡi tõe ra của con rồng kì quái thì có màu đỏ máu. Anh ta ngồi bắt chéo chân và  Karl nhìn thấy ngực anh ta mở rộng ra đón không khí, cái cách mà toàn bộ cơ thể của anh ta thư giãn theo từng hơi thở.  Sau đó anh ta mở mắt và chỉ vào hình xăm chỗ trái tim, một võ sĩ đang ngồi trên tảng đá cạnh bờ sông. Anh ta chỉ tay về phía  những bức tường vây xung quanh sân và nói “ nhà tù”. Anh ta chỉ vào đầu mình và  nói  “ tự do”. Những người tù vây quanh trong im lặng. Những người cai ngục ngắm nhìn một cách vô cảm. Karl học theo anh ta những bài tập thở, làm đúng theo những động tác thả lỏng hay thóp lại, cho phép Makoto sửa cho đúng tư thế, uốn gối cho thật thẳng hoặc lắc lư cổ tay. Anh cảm thấy vũ trụ mở ra trong chính bản thân mình, cái cảm giác trải ra, mở rộng. Những chiếc xà lim nở ra cùng với ô-xy. Máu chạy rần rật trong các mao mạch đến khắp nơi đem lại sự  sống cho thân thể anh giống như dòng sông đang băng qua sa mạc. Anh quên bẵng đi cái khắc nghiệt của sân tù và  đám người đứng nhìn xung quanh. Anh đã trở thành tù nhân của không khí. Chỉ khi tiếng còi chấm dứt buổi tập cất lên anh mới trở về thực tại với những bức tường và những viên cai ngục. Trong mười ngày, anh đã học thuộc trước khi quân cảnh đến và hộ tống anh vào căn cứ trong nỗi ngượng ngùng, sau  ba mươi bữa ăn đặc trưng với súp và cơm anh đã dùng mỗi buổi trên sân tập với Makoto, thở , thả lỏng và hít vào cái xa xôi  của sự thiền định.

“ Bố nói cho con biết nhé, bố đã đi thẳng tới chỗ hình xăm với người võ sĩ. Bố ngồi xuống trên cùng một hòn đá đó, nhúng một tay xuống dòng suối và để cho các ngón tay đu đưa trong dòng chảy. Bố thề rằng đã có một ngọn gió nhẹ thổi trên mặt và nghe thấy tiếng lá xào xạc trên cây”.

Từ đường cao tốc anh rẽ vào một con đường phủ đầy tuyết. “Ngựa ơi! Ngựa ơi!”, cô con gái cảm nhận rõ sự thay đổi  tốc độ  hơn là cảnh sắc, cô bé hiểu được rằng những lần sang số và ngoặt gấp đang đưa cô tới bãi giữ ngựa mỗi lúc một gần. Những bánh xe quay tròn như thể là chiếc xe lửa chạy trên đường ray. Tuyết tóe ra hai bên theo hình đuôi cá. Anh ghì vô lăng chặt hơn và trong đầu hiện lên ý nghĩ gọi cho vợ thông báo rằng có thể anh và cô con gái sẽ về muộn vì đã phải chờ để cho chiếc máy kéo kéo chiếc xe ngu xuẩn và cả ông chồng ngu xuẩn lên khỏi cái rãnh. Cô ta sẽ hỏi tại sao anh lại ở ngoài cái chốn hoang vu lạnh cóng này với cô bé chỉ mới có ba tuổi. Anh thậm chí không nhận ra cô bé đang bị chảy mũi sao?

Anh tự hỏi liệu cô ta có thể thực sự hiểu được những gì  anh có thể làm, những gì anh đã làm không?

Sau đó tuyết rít lên dưới  bánh xe khi anh tiến đến sát bên chuồng ngựa. Không được phi nước đại những chú ngựa bồn chồn dậm chân làm nước bắn tung tóe như mặt sóng vào buổi sáng. Chúng có vẻ cô đơn.

Anh buộc lại chiếc mũ len có hai dải phủ xuống tận cằm cho cô bé. Cô bé vùng vẫy khi anh đặt chân cô bé xuống đôi ủng cao su. Cô bé muốn nhảy vào tuyết , và khi áo khoác của cô bé được đóng cúc, cô bé chúi mặt xuống, xoay lưng lại phía bố và khóc. Anh bế cô bé bằng một tay còn tay kia thì xách một túi đựng cà rốt và lõi ngô. Tại hàng rào, cô bé đứng lên đỉnh lan can và dựa vào cánh tay bố. Sau đó những chú ngựa tới, mũi ướt sáng lấp lánh và chân thì dậm dật trên nên đất đóng băng.

Anh chỉ cho  cô bé  biết cách cho lũ ngựa ăn như thế nào bằng bàn tay mở rộng . Cách cong ngón tay cái lại và làm thế nào để giữ cho chắc. Khi anh đặt cô bé xuống để nhặt chiếc túi, cô bé đi dưới hàng rào với củ cà rốt trong tay. Cô bé giữ nó thật liều lĩnh như trứng để đầu gậy[4]. Anh gần như là nhảy vào chuồng ngựa để cứu cô bé khi một con ngựa với chiếc bờm dài chạy nước kiệu đến và cúi đầu xuống. Anh đã phải cố tỏ ra vẻ mặt nghiêm nghị  của ông bố đang nhìn đứa trẻ mắc lỗi. Cô bé bật cười và không hề sợ hãi khi anh hít hà mái tóc và thơm vào má cô bé. Nhưng anh nghĩ cô bé vẫn còn quá nhỏ để có thể cưỡi được ngựa. Còn quá nhỏ để hiểu được thế nào là li hôn. Và khi không còn mẩu cà rốt và miếng lõi ngô đóng băng nào nữa, họ trèo lên ngọn đồi và trượt tuyết. Karl nằm xuống và hướng đầu về phía trước. Cô bé trèo lên lưng anh và reo lên vui sướng khi anh trượt xuống chân đồi. Cứ mỗi lần cô bé hét lên “ lần nữa! lần nữa!”, anh lại cần mẫn kéo chiếc xe  trượt lên trên đỉnh. Cô bé ngồi thẳng trên ghế giống như một nàng công chúa  tí hon. Anh ngoái lại phía sau ngắm cô con gái nhỏ đang lắc lư bàn tay trong tuyết xốp.

“ Còn nhớ chứ con yêu, chuyện cái nhà tù bố đã nói với con ấy? Gã đàn ông với những hình xăm đó. Khi bố quay trở lại xà lim, nó không còn là chiếc hộp tí nào nữa”.

Anh thở hổn hển vì anh vừa đi vừa nói, tỉa tót câu chuyện trong bầu không khí lạnh cóng.

“Bố có thể đi đến bất cứ nơi nào bố muốn. Nếu bố nổi giận và muốn choảng một ai đó bố sẽ làm tim đập chậm lại và nhắm mắt, trở về dòng sông với người võ sĩ. Thậm chí bố có thể trở lại bãi biển lần nữa với cha và mẹ của bố, nhặt vỏ ốc cùng chú Tony, đá bóng trong công viên. Nhưng đố con biết phần lớn thời gian bố ở đâu nào?”.

Anh quay lại. Cô bé biết anh đang nói với mình  nhưng cô bé  chỉ để ý tới  những con ngựa, tuyết và cái trò cưỡi ngựa rùng mình này thôi.

“Ở đây. Những cách đồng bao la vô tận này. Những con ngựa và bầu trời”.

Họ ở trên đỉnh ngọn đồi. Mặt trời ẩn sau những đám mây rọi những tia sáng yếu ớt.

“ Thậm chí nó trông chẳng khác chi thiên đường”.

Họ trèo lên trượt xuống cho đến khi trời xẩm  tối. Tuyết rực lên lấp lánh trong ánh sáng đang nhạt dần và khi họ lê bước về xe, anh nhận ra mình đã đưa cô bé về nhà vào  muộn như thế nào. Cô ta sẽ làm anh lo sợ như thế nào với cú gọi tới sở cảnh sát và tòa án. Hai tấm vé máy bay quay trở về Nhật Bản. Những chú ngựa đứng tựa vào lan can xem anh tháo mũ và giầy cho cô bé. Anh đập sạch tuyết ở đế giày, giũ áo khoác và đưa chai nước cho cô bé. Lúc này cô bé im lặng, đưa chai nước lên miệng và nhấp từng ngụm. Anh đóng cửa và bước đến thùng xe phía sau.

Trước khi anh nhấc chiếc xe trượt lên và đập giũ sạch tuyết, anh lột tấm thảm phủ ra và mở toa đựng dụng cụ. Anh nhặt khẩu súng trường mà anh chở sáng nay lên, và anh cảm thấy nó trĩu nặng trong bàn tay. Anh biết cái hành động này đã diễn ra cả ngàn lần. Anh tưởng tượng ra  hình ảnh viên đạn nổ trong ổ đạn, đầu đạn chì vọt qua nòng và xuyên vào bất cứ đâu.

Anh nhìn những ngón tay cô bé bấu xung quanh chiếc chai rỗng, dò xung quanh chỗ ngồi để tìm bố.

VII.

Sau đó anh tháo đạn. Anh bỏ những viên đạn, khẩu súng rồi chiếc xe trượt vào trong thùng xe và đóng lại. Tuyết lại tiếp tục rơi. Và trước khi anh lái xe về nhà trong yên lặng, gặp vợ mình ở hàng hiên với cô con gái đang ngủ trong tay, anh trèo lên nóc xe, ngồi bắt chéo chân và cảm nhận bầu trời lướt qua khuôn mặt.

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

[1] Từ tiếng Nhật chỉ thành viên của tổ chức xã hội đen.

[2] Võ sí Nhật

[3] Chỉ xà lim – ND

[4] Nguyên văn là “statue in habour”


Cũ hơn