Một đêm trên những ngọn đồi


 

Truyện ngắn của Paz Marrquez  Benitez (Philipin)

Những  giấc mơ của Gerardo  như thế nào có lẽ không ai biết cả. Anh  có một cửa hàng bán đồ trang sức trên đường Rosario. Anh  thừa kế nghề nghiệp từ cha mình, có thể nói vậy vì trước đó cha anh cũng đứng sau một cửa hàng giống y hệt thế, cũng với vẻ quan tâm, cũng đôi mắt cận và mái tóc mỏng như thế. Sau giờ làm việc, nếu anh mệt, anh bắt xe ô tô về nhà tại Intramurous. Nếu anh cảm thấy khỏe, anh đi bộ, tuy nhiên không thường xuyên lắm vì thể trạng anh không tốt và anh cũng không phải là người tiết kiệm quá.

Cầu thang nhà anh hẹp,  tối và có mùi thơm không lẫn vào đâu được từ kho Sari-sari Trung Hoa vốn chiếm dụng một phần diện tích  trên sàn nhà.

Anh ngồi xuống và dùng bữa tối với những món ăn Trung Hoa có mùi vị mạnh. Anh là một kẻ khó tính trong việc ăn uống. Anh thích  các món được  bày ra để anh  có thể  quan sát   tất cả chúng. Anh ăn thử  từng món một và chọn ra khẩu phần anh thích nhất- đầu, cánh, gan, não , gà, chót đuôi cá. Anh ăn rất hăm hở nhưng hiếm khi cảm thấy ngon miệng. Sau khi ăn  tối xong, anh dùng một khoảng thời gian khá khá để xỉa răng và trầm ngâm nghĩ về điều này điều khác.  Vào lúc dạo đầu của giấc ngủ có lẽ anh nghĩ về những khu rừng.

Những giấc của anh luôn có mối liên hệ với   rừng. Anh muốn đi vào rừng. Anh đã từng muốn đi vào đó kể từ khi anh biết nhớ. Rừng thật đẹp đẽ. Những thân cây mọc thẳng. Những dòng suối trong xanh. Một ngọn suối trên núi nơi anh có thể lội ngược dòng để đến ngọn nguồn của nó giữa những đám mây. Có lẽ ý nghĩ mà phần lớn mê hoặc, quyến rũ anh là việc nhìn thấy hình ảnh khu rừng trong nước. Anh có thể nhìn thấy bầu trời xanh rộng vô cùng trong suối nước trong, như khi  thời thơ ấu anh đã nhìn thấy trong bình nước hình ảnh của bầu trời và hình ảnh cây bưởi, cây cối  đã bẻ cong rào chắn để nhìn vào bình nước.

Chỉ có duy nhất một lần anh nói về giấc mơ của mình. Một ngày, Ambo người sưu tầm phong lan từ tỉnh khác đến để mua một vài chiếc nhẫn rẻ tiền cho cửa hàng của vợ anh ta. Anh ta đã tự hào nói cho Gerardo biết rằng đang vào mùa phong lan và nó đã khiến anh ta tiêu tốn đến hàng ngàn Pê-sô.Nhân đó  anh ta kể cho Gerardo nghe về phong lan và nơi người ta có thể tìm thấy chúng và cả những cái cây mà anh ta  đã nắm rõ như lòng bàn tay. Anh ta nói về giấc ngủ trong rừng, về việc đôi khi anh ta  sống ở đó trong vòng một tuần lễ. Gerardo đã lắng nghe với đôi mắt lồi ra nhìn chằm chằm và cơn rùng mình chạy khắp cơ thể. Về nhà anh đã kể cho vợ nghe về cuộc nói chuyện ấy , và vợ anh cảm thấy rất có hứng thú với triển vọng kinh doanh của nó.

“ Thật là hay nếu cùng đi với anh ta một lần”, anh hào hứng thăm dò vợ.

“phải đấy”,  vợ anh  phụ họa  “ nhưng em băn khoăn liệu anh ta có cho phép anh xen vào công việc làm ăn của anh ta không”.

“Không”, anh tỏ ra  tiếc rẻ  . “ Nhưng đi chỉ để lấy kinh nghiệm thôi thì tốt nhất là ở ngoài”.

“Ở ngoài?”, vợ anh tỏ vẻ nghi ngờ.

“Ở ngòai trời, trên những ngọn đồi”, anh hấp tấp đáp.

“ Tại sao ,  điều đó chỉ đem đến sự bực dọc và bệnh tật thôi. Và chẳng đem lại ích lợi gì cả”.

Anh im lặng.

Anh không bao giờ đề cập đến những giấc mơ lần nữa. Nó là một giấc mơ nhạy cảm, đẹp đê, giấc mơ lớn lên trong im lặng. Nó sống dưới lồng ngực của Gerardo ngây thơ, và lấp đầy nó bằng những thứ không phải là ngọt ngào và ấm áp mà mát mẻ và xanh tươi,  róc rách tiếng nước chảy.

Anh đã ở vào  độ tuổi U40 rồi. Một trong những ngày này, anh ít có hi vọng là giấc mơ sẽ thành hiện thực. Như thế nào, anh không biết. Nó có vẻ không chắc lắm việc anh dự tính thận trọng điều gì đó để biến ước mơ thành thực tế. Điều đó là cực kì khó.

Sau đó vợ anh qua đời.

Và bây giờ, cuối cùng, anh đã có thể nhìn thấy rừng. Bởi vì Ambo đã trở lại, lần này  với những câu chuyện về một vùng đất công cộng mới mở gần đây trên một miền rừng cao nguyên nơi anh ta đang sưu tầm phong lan. Nếu Gerardo có hứng thú- anh có vẻ tỏ ra như thế- họ sẽ đi ra ngoài và  cắm lấy một mảnh. Gerardo cảm thấy hứng thú- chính xác thì không phải là vì đất, nhưng với Ambo thì lí do đó là cần thiết.

Anh có những chiếc răng giả không vừa vặn với hàm mình lắm. Khi anh bị kích thích, như lúc này đây, anh lắp bắp nói cà lăm và răng đánh lập cập.

“ Tôi sẽ dời thị trấn vào sáng ngày mai”, anh thông báo với Sotera.

“ Tôi sẽ…”

“ Dời thị trấn? Anh định đi đâu?”

“ Co…có người mời tôi đi xem miếng đất ở Laguna”.

“Đất? Anh định làm gì với đất hả?”

Câu hỏi đó chưa bao giờ nảy ra trong anh.

“ Tại sao à?”, anh cà lăm “ tô…tôi định  nu-ô-i.. nuôi trồng  thứ gì đó”.

“ Anh thì làm sao biết nuôi trồng thứ gì cơ chứ! Anh không biết một chút gì về nó cả. Anh còn chưa từng nhìn thấy con trâu bao giờ mà”

“Đừng cường điệu, Ate. Bà  biết điều đó không đúng mà”.

“Thật ngớ ngẩn”

“Đừng lo lắng Gerardo kiên nhẫn nói. “ Ngày mai tôi chỉ muốn gửi nhờ bà  chùm chìa khóa và nhờ bà trông hộ căn nhà”.

“ anh sẽ đi cùng với ai?”

“ Ambo- người đến cửa hàng để mua vài thứ đồ trang sức rẻ tiền. Vợ anh ta cũng có cửa hàng nhỏ kinh doanh đồ trang sức. Anh ta mời  t-ô-i.. tôi đi với anh ta”

Anh   cảm thấy tự tin  và sắp đặt mọi thứ như là một thực tế, và hợp lí nhất mà anh  có thể. Anh  nhấn mạnh những khả năng to lớn của vùng đất và  đánh bóng hùng hồn ý tưởng rằng  đấy là thứ tài sản mà anh sở hữu vĩnh viễn.

“ Tại sao, cho dù bất cứ điều gì xảy ra, đất của anh vẫn ở đó. Không gì có thể mang nó đi. Anh có thể thất bát một, hai, ba vụ mùa. Thì vùng đất vẫn cứ ở đó!”

Sotera đáp lại lạnh lùng : “ Tôi chả thấy điều ấy có ý nghĩa quái gì. Tại sao anh lại nghĩ về đất khi mà hiệu cầm đồ mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Hãy nghĩ đi! Có  người đến và giục giã anh công việc làm ăn đấy. Đấy là Peregrina. Cô ấy sẽ là một trợ thủ tốt, một người vợ thích hợp. Thế tại sao anh không quyết định?”

“Nếu tôi cưới cô ta, tôi sẽ trông nom một hiệu cầm đồ-không, nếu tôi làm chủ hiệu cầm đồ, tôi phải cưới cô ta”, anh hấp tấp nói.

Anh không hề ảo tưởng mà biết rõ rằng Peregrina sẽ kiểm soát từng giây phút mà  anh đề xuất . Nhưng anh sẽ không đề xuất. Không phải lúc này khi tầm nhìn đã trở lại với anh, tầm nhìn ấy trải rộng đến những khu rừng mà anh vẫn từng mơ ước, anh biết rõ chúng chả kém gì Ambo, chẳng phải sợ một điều gì và hoàn toàn tự do. Không ! Peregrina không phải là người dành cho anh. Thậm chí không phải dành cho lợi ích của chính anh mà có vẻ như là dành cho Storea. Anh và Storea biết nhau qua một mối quan hệ có tính tóan rất khéo léo. Bởi vì Gerado Luna là em của bà chủ nhà cũ của em trai Storea.

“ cuộc hôn nhân  để tìm người  thay thế vợ anh” chắc chắc không phải ý tưởng để Storea phải  nhọc công vì đám cưới.

Tuy nhiên lần này, anh thật không dễ bảo. Anh chưa bao giờ công khai phản đối kế hoạch của bà nhưng anh cũng không hứa hẹn. Không phải là anh không nhận ra những bất lợi của cuộc sống góa vợ. Thật thoải mái biết bao khi từ bỏ việc tái diễn một cuộc hôn nhân nữa với  Peregrina béo tốt, từ bỏ việc được coi sóc cho tới tận lúc chết bởi chắc chắc rằng vợ anh sẽ phải là Peregrina và chắc chắn rằng cô ta sẽ sống lâu hơn anh.

Nhưng anh không thể. Mặc dù anh không cảm thấy thoải mái, anh vẫn nhìn ngắm cảnh góa vợ của mình không phải là sự ngẫu nhiên mà là một kì công hân hoan đã đạt được. Ý nghĩ về một cuộc hôn nhân khác sẽ chặt đứt đôi cánh của anh, sẽ là việc dồn anh vào một căn phòng nhỏ ấm áp trong khi ấy một ai đó đóng sập chiếc cửa phía trên anh nơi cho anh thấy bầu trời.

Vì thế anh đi tới những ngọn đồi cùng với người sưu tầm hoa phong lan.

Vào  buổi chiều  ở những ngọn đồi thấp, anh tìm thấy chúng. Anh mệt lử và ướt đẫm mồ hôi.

“ chúng ta không thể kiếm được nước sao?”, anh hỏi một cách chán nản.

“ chúng ta đang đi đến chỗ có nước”, Ambo đáp. “ chừng mười phút nữa sẽ tới”. Trên đống gỗ hình kim mà Ambo trèo, người đồng hành theo sau. Dọc đường đi họ phải mạo hiểm len lỏi để tránh những cành cây, lá sắc nhọn vung vãi dọc trên mặt đất. Đó đây một vài làn khói bốc lên yếu ớt từ đống tro tàn.

“ Một nương rẫy mới”, Ambo nói. “ Tớ nghĩ chủ nhân chắc ở quanh đây thôi. Anh ta sẽ không trở về nhà trước cuối tuần đâu. Nó quá xa mà”.

Đi thêm chút nữa họ gặp người chủ rẫy, một  người đàn ông trẻ với khuôn mặt tươi cười và lấm láp vì công việc. Anh ta đứng nhìn họ, hai tay anh ta chống trên cán rìu.

“ Các anh đi đâu?”, anh ta hỏi dịu dàng  và thân mật. Tất cả những người này đều nhẹ nhàng và thân mật.

“ Chúng tôi đi tìm đất”, Ambo đáp. “ông Gerando đây đến từ Manila. Chúng tôi sẽ ngủ lại ở phía trên kia”.

Anh ta tò mò nhìn Gerado Luna và nhìn lại hai người với đủ thứ đồ lỉnh kỉnh trên người. Một cái nhìn ngưỡng mộ chậm chạp xuất hiện trên khuôn mặt dễ mến của anh.

“ Có một con suối gần đây có phải không? Hay là nó đã cạn rồi?”.

“ Không, vẫn còn nước ở đó. Ít thôi nhưng rất tốt”.

Họ vượt qua rừng và chạy như bay lên sườn đồi. Dưới chân  ẩn sau  tảng đá phủ dương xỉ  là thứ gì đó  mới nhìn có vẻ ẩm ướt. Người đàn ông ngồi xổm trước nó và nâng đám lá khỏi một vũng nước nhỏ xíu. Cầm lấy chiếc cốc thiếc  anh ta làm sạch bề mặt bằng cách khoắng đáy chiếc cốc mấy vòng trên mặt nước. Rồi anh múc lấy một chút nước. Nó mát lạnh và sạch sẽ mang hương vị đặc trưng khó tả của đá và lá. Nó dường như là tinh chất của ngọn đồi.

Anh ngồi xuống một cây gỗ đổ với người đàn ông trẻ và nói chuyện với anh ta. Người đàn ông trẻ nói rằng anh đã tốt nghiệp trường cấp ba rằng anh đã dành dụm được một chút tiền mà anh đã dùng để mua mảnh đất này. Sau đấy anh kết hôn và ngay khi chừng nào anh có thể xoay xỏa được anh sẽ xây một căn nhà ở đây gần con suối này. Anh ta nói với giọng bình thản và điềm đạm. Gerando đột nhiên nghe thấy chính giọng nói của mình và cảm thấy hổ thẹn. Anh hạ thấp giọng và cố gắng tóm bắt lấy sự trầm lặng của người khác.

Ngôi nhà đó sẽ giống như những nhà khác mà anh đã nhìn thấy trên đường với màu nâu điểm những đốm xám. Vùng ngoại vi sẽ được để trống. Vào buổi tối những chiếc lá bị đốt cháy sẽ đem theo mùi khói dễ chịu vào hai căn phòng để lùa đi lũ muỗi rồi nó  đi ra ngoài cửa lần nữa và đi vào trong rừng. Buổi tối ngọn lửa đỏ trong nhà bếp sẽ rực sáng qua cánh cửa  và ở trong rừng cũng có thể nhìn thấy.

Khu rừng ở đó, không xa lắm đủ để anh có thể nhìn thấy. Con đường thì dốc đứng không thương xót. Mắt anh ta  bâng khuâng tiếc nuối và anh thở dài bẽn lẽn .

Sau đó anh nói: “ Cần phải có tiền khi sống ở Manila. Nếu tôi có vốn tôi sẽ kinh doanh ở Manila”.

“ Tại sao”-Gerado ngạc nhiên.

“ Tại sao-bởi vì tiền nằm ở đó , và nếu ai đó muốn bắt cá thì anh ta phải tìm đến nơi có cá. Tuy nhiên” , anh ta tiếp tục sau một chút im lặng nhưng có lẽ tôi sẽ không làm điều đó. Ồ, nơi nhỏ bé này cũng là tốt rồi”.

Họ bỏ lại người  học sinh cấp ba đứng trên khoảng rừng trống, cả sức nặng thân hình anh dồn lên một chân và mắt anh ta theo sau họ như thể họ đã đi trên một con đường dựng đứng vuông góc. Tại đỉnh Gerando ngồi xuống đất và nhìn xuống  những cánh đồng xanh xa phía dưới, mặt hồ ở phía xa, những khoảng rừng thưa ở chân đồi  và sau đó là hình bóng mờ dần của người  đàn ông đã tốt nghiệp cấp ba giờ đây đang bận rộn với việc chặt cây trong ánh sáng còn lại của ban ngày. Đứng cao hơn tất thảy anh cảm thấy hồ hởi trong lồng ngực đập thình thịch đau nhói.

Chẳng bao lâu sau họ đi vào khu rừng tối mờ mờ.

Đây là đường mòn vốn đã từng lưu dấu chân của những thương nhân Tây Ban Nha khi họ đánh lừa những người đang chờ đón họ. Các thương nhân này  đã đưa của cải, châu báu vào bờ phía đông Luzon và băng qua Cordillera trên con đường mòn bí mật này và mang chúng tới Laguna. Một con đường đã tồn tại qua nhiều thế kỉ. Một sự mạo hiểm táo bạo, can đảm bởi những người khác luôn thèm muốn kho báu và những người chuyên chở thì còng lưng dưới những món đồ giống như cõng mối hiểm nguy ở trên lưng.

Tối đó Gerado ngả mình trên chiếc giường xù xì, thô ráp làm từ hai cành cây lớn và những nhánh cây nhỏ khác sau khi tự giác  vượt qua được chính bản thân mình. Anh cứ trở mình liên tục cho tới khi lọt vào một chỗ lõm xuống tạo cho anh có cảm giác thoải mái. Đống củi cháy sáng và thỉnh thoảng được bổ sung thêm một cành cây khô mà họ đã thu nhặt chất thành đống trước đó. Ambo và những người khuân vác đang ngồi trên tấm vải dầu đen thứ đã được dùng như chiếc bàn ăn trong bữa tối. Họ ngồi bó gối và nói chuyện  khe khẽ điểm những tiếng cười ngắn. Từ chỗ nằm, Gerardo có thể cảm nhận được sự ấm áp của đống lửa trên khuôn mặt mình.

Anh đang chìm sâu vào giấc ngủ ngon lành, thậm chí có vẻ anh được ru bằng tiếng của những người bạn đồng hành. Giọng nói ở ngoài trời có một giá trị thật đặc biệt. Chúng hòa trộn với gió, và như làn sóng chúng chảy trôi đi, băng qua những người lắng nghe chúng. Trong sự mơ hồ của giấc ngủ mới, anh đã nghĩ rằng không phải anh đang nghe tiếng người mà anh đang nghe là thứ gì đó mãnh liệt, nguyên thủy hơn. Đấy là biển ấm áp đang tràn vào bờ hoặc là thứ gì đó anh đã biết chả hạn như tiếng mưa rơi lên những thân tre trúc.

Anh thức dậy không chút dễ dàng khoảng một, hai giờ sau đó. Những người đàn ông vẫn tiếp tục nói chuyện nhưng thỉnh thoảng câu chuyện lại ngắt quãng. Đống lửa không còn quá sáng và quá ấm áp.

Ambo nói:

“ Tìm thêm củi nào. Chúng ta phải giữ cho đống lửa sáng để xua đi đêm tối. Các anh có thể ngủ. Tôi có thể thức dậy giữa chừng để bỏ thêm củi vào đó”.

Gerardo cảm thấy thêm vững tâm. Ý nghĩ rằng anh sẽ phải ngủ trong bóng tối và không hề biết rằng những con rắn đang trườn dần về phía anh không còn nữa. Anh lại chìm vào giấc ngủ ngon lành.

Những người đàn ông vẫn tiếp tục trò chuyện. Họ không hát như những người chèo thuyền khi lướt đi trong đêm tối. Có lẽ dân  đi biển thì hát còn dân đi rừng thì luôn im lặng. Bởi dân đi biển không phải mang trên mình gánh nặng nào cả. Ở những vùng hoang vu trên biển cả xa xôi nào đó, trái tim những người hoang dã sẽ thúc giục họ, họ có thể chất những kho báu lên chiếc thuyền cứng cáp, đẩy mạnh mái chèo hoặc khẩn cầu ngọn gió và cất lên tiếng hát. Giữa biển trời mênh mông, tiếng hát bập bềnh trong bóng tối. Tiếng hát trên những ngọn đồi chỉ làm cho cảnh vốn đã hiu quạnh sẽ hiu quanh hơn gấp trăm lần.

Anh thức dậy lần nữa khi cảm thấy có một cảnh cây nào đó dưới lưng anh làm anh khó chịu. Chắc chắn là khi anh nằm xuống thì chúng không có gì đáng nói. Anh chống khuỷu tay nhỏm dậy và nhìn chăm chú chỗ nằm xem có rắn không. Anh giũ tấm mền và lại ngả mình xuống một góc mềm mại, dễ chịu hơn. Những người đàn ông giờ đây hoàn toàn im lặng và trừ tiếng ngáy của họ đang vang lên. Đống lửa đang lụi dần. Chắc chắn Ambo đã quên không trở dậy để bỏ thêm củi vào đó.

Anh định thức dậy đi đến bên đống lửa nhưng anh lại e ngại. Anh nằm xuống lắng nghe tiếng của rừng và cảm nhận bóng tối. Bóng tối thật mênh mông biết bao. Dặm này tiếp dặm khác bao quanh anh. Lọt thỏm trong nó là đống lửa nhỏ đang bập bùng với một chút ấm áp.

Anh thức dậy. Anh cảm thấy chân tay cứng  lại và cơ thì đau nhức. Anh không thể thẳng lưng ra được nếu như không anh không muốn chịu đau. Anh đi ra khỏi lều và cẩn thận xếp thêm hai thanh củi nhỏ vào đống lửa. Không khí thật lạnh lẽo. Anh đưa mắt nhìn những người đàn ông nằm lộn xộn và ôm lấy nhau cho khỏi lạnh. Anh nhìn túp lều chợp chờn trong ánh lửa, thứ giờ đây đang kêu lách tách và bốc cao hơn. Và cuối cùng ánh mắt  hạ xuống nhìn vào rừng. Những thân cây trắng, mọc thẳng sáng lờ mờ trong bóng tối. Ánh sáng chập chờn của con đom đóm. Bên ngoài vòng sáng của quầng lửa là mênh mông  bóng tối nơi ẩn chứa những gì anh không thể biết được và anh cảm thấy chúng trở nên thù địch. Hoặc là anh đã trở thành kẻ thù của chúng. Chỉ có đống lửa là chỗ dựa duy nhất, thứ duy nhất tách khỏi không gian tối đen và tạo ra nơi ẩn nấp cho những người đàn ông không có khả năng tự vệ. Không có ngọn lửa bóng đêm sẽ nhấn chìm họ trong khoảng không đen ngòm vô tận. Anh vội vàng ném thêm 4 thanh củi nữa vào đống lửa và rút lui vào lều.

Anh không thể ngủ được. Anh cảm thấy hoàn toàn cô đơn. Sự cô đơn giống như cơn đói đuổi đi giấc ngủ.

Anh nhớ vợ mình. Anh thoáng có ý nghĩ tới chúa. Sau đó anh lại nhớ tới vợ. Có thể không phải người vợ hoàn toàn giống như vợ ạnh mà chỉ đơn giản là người bạn đồng hành, người đem đến cho anh sự thoải mái dễ chịu. Không phải vợ anh mà là một người vợ khác . Trong đầu anh tái tạo lại một cảnh mà nó không có chút lí do nào cho sự cố chấp  như một kí ức. Anh đã thức dậy vào giữa đêm để tìm người vợ đang ngồi trên chiếc giường chung. Cô ta đang mặc bộ quần áo Casima de chino, thứ luôn có màu tối xỉn và cô ta đang nói với chuỗi hạt của mình. “ Em đang làm gì thế?”, anh hỏi. “ Em quên  mất không  cầu nguyện”, cô ta đáp.

Anh bị đè nặng bởi nỗi nhớ nhà. Bởi vì anh không biết rõ anh đang muốn gì nữa nên niềm khao khát trong anh càng trở nên sắc bén. Không phải vì vợ anh, không phải vì cuộc sống của anh nơi thành phố. Không phải vì cha mẹ anh cũng  không phải vì việc anh không có tuổi thơ. Nó là gì thứ đang khiêu khích nỗi niềm luyến tiếc trong anh. Nó không phải nằm trong quãng đời ngắn ngủi cũng không phải là kí ức. Niềm khao khát của anh đi xa hơn đến tận thiên đường nơi tâm hồn con người là vô hạn và không bị kiềm chế, khi nó ôm trong mình sự vô tận.

Khi anh thức dậy lần nữa, đống lửa đang cháy âm ỉ. Nhưng có ánh sáng trong rừng, một thứ ánh sáng kì quái. Nó có khả năng lan ra và lạnh lẽo. Anh tự hỏi không biết nó là thứ ánh sáng gì. Có tiếng động gì đó trước khi sự im lặng bao trùm. Có những tiếng rung kì lạ lặp đi lặp lại. Những âm thanh của rừng. Cũng có tiếng động nữa, tiếng nước ở gần đó.

Một người đàn ông thức giấc và nói điều gì đó với người khác, người rõ ràng là đang tỉnh táo, Gerardo gọi to:

“ Tiếng gì thế?”

“ tiếng nào?”

“ Tiếng rung lạ lùng đó”.

“ Tiếng đó phải không? Đấy là âm thanh của những con mọt gỗ, tớ đã nghe thấy người ta nói như vậy”.

Anh đã từng bất chợt nhìn thấy những con mọt gỗ dài, khỏe mạnh đập đầu liên tục  vào vỏ  gỗ.

“Âm thanh khác  là của lũ  giun”, Ambo chỉnh lại.

“Tiếng huýt gió  mà các anh đang nghe đó chính là tiếng dế”.

“ Còn ánh sáng kia là gì”, anh hỏi.

“Đấy là mặt trăng”, Ambo nói

“ Mặt trăng!”, Gerardo la lên và rơi vào im lặng. Anh sẽ không bao giờ hiểu được rừng.

Sau đó anh hỏi “ tiếng nước tôi nghe thấy ở đâu vậy?”

“Ở phía xa thấp hơn kia. Tôi không muốn cắm lều ở đó vì e ngại lũ đỉa. Vào ban ngày chúng ta sẽ dừng lại ở đó nếu anh muốn”.

Khi anh thức giấc lần nữa chính là lúc bình minh đang xâm chiếm khu rừng. Anh đã biết đến cảm giác bình minh trong những chuyến đi đến misas de gallo vào  những buổi  sáng tháng mười hai trước đó . Ánh sáng ban ngày đem lại cho anh sự khuây khỏa và anh cảm thấy buồn.

Anh ngồi yên lặng trên một tảng đá phẳng chân thõng xuống nước và nhìn xung quanh. Các bắp cơ vẫn còn đau nhức. Cổ và lưng anh cũng nhức nhối và các khớp xương thì làm anh khó cử động. Anh ngôi đó gầy gò trong chiếc áo sơ mi ướt và lẫn lộn trong những mối băn khoăn. Bầu trời hiện ra phía trên qua những kẽ hở của tán lá. Mặt trời xuyên qua đó chiếu trên dòng nước chảy. Bầu trời cao và xanh. Nó giống như trong giấc mơ anh vẫn thường thấy và đẹp đẽ như anh vẫn thường nghĩ. Nhưng anh sẽ không bao giờ quay trở lại. Cái góc nhỏ này của trái đất sẽ không bao giờ hiện ra trong tầm mắt anh nữa.

Anh nhìn lên bầu trời lần nữa và nghĩ về chúa. Chúa của anh luôn ở trên bầu trời xa thẳm. Chúa mà anh đang nghĩ đến bây giờ không phải chúa mà anh vẫn biết. Chúa mà anh đang nghĩ về là vị chúa khác. Anh băn khoăn tự hỏi rằng khi con người ta chết đi về với thế giới bên kia liệu rằng con người ta có thể tìm thấy những gì mà khi sống đã bỏ lỡ hoặc ao ước. Anh có một niềm tin chắc chắn về điều đó rằng sau khi anh chết đi và cuộc đời con người khi vượt qua  chỗ bế tắc là cái chết sẽ giống như dòng suối tuôn chảy vượt qua con đập để tiếp tục chảy và chảy dịu dàng hơn. Chắc chắn phải như thế. Và đấng chí tôn sáng suốt, rộng lòng nhân ái sẽ cho phép chúng ta khắc phục lỗi lầm cũng như chữa lành những vết thương lòng.

Anh đi thẳng đến chỗ Sotera để lấy chìa khóa nhà mình. Trong ánh sáng chập chờn của cầu thang anh gặp Peregrina, người mà đôi mắt đang ánh lên sự lo lắng khi cô trông thấy vết bẩn trên mặt anh, tay và mái tóc anh và cái dáng vẻ lôi thôi, nhếch nhác toát lên từ con người anh. Anh lẩm bẩm vài lời để giữ phép lịch sự rồi vội vã leo lên cầu thang bằng đôi chân lóng ngóng.

Peregrina với không chút ngượng ngập đi theo sau anh. Trên đường đi ra với chiếc chìa khóa trong tay anh nhìn thấy cô đang nấn ná ở đầu cầu thang. Anh dừng lại và nhìn cô ân cần.

“Pereg, khi tôi thay quần áo xong tôi sẽ hỏi cô một câu hỏi- một câu hỏi cực kì quan trọng đối với tôi”.

Và khi Peregrina  mỉm cười có vẻ hăm hở  nhưng không chắc chắn lắm, anh nghe thấy một tiếng kêu chói tai trong bàn tay anh. Anh cảm thấy chùm chìa khóa đang siết lại trong bàn tay anh.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Anh

 

 

 


Cũ hơn Mới hơn