Có một lỗ thủng trong thành phố

Richarch Bowes  sống ở thành phố New York từ năm 1966 và làm nhiều nghề  khác nhau. Trong khoảng 20 năm gần đây, ông đã cho xuất bản bốn tiểu thuyết, một tập truyện ngắn, một số tác phẩm khoa học giả tưởng khác và đã giành được giải thưởng “ a world Fantasy” và giải thưởng “Lambda Award”.

 

Thứ  tư ngày 12 tháng 9

Vào buổi tối một ngày sau sự kiện  ngọn tháp đôi bị đổ, tôi đang đợi  Mags đến để nói chuyện  và ăn tối cùng  cạnh đống vật chướng ngại trên đường Houston. Trên đường chân trời, không đến hai dặm về phía nam, những cột khói chập chờn bốc lên. Nhưng thời tiết đẹp đẽ đến  rùng mình của ngày 11 tháng 9 thì vẫn còn và những ngọn gió đông nam đang thổi tới. Ở Greenwich Village, không khí khô và sạch sẽ với chút ít hơi hướng mùa thu.

Tôi đã dùng trọn cả ngày hôm qua và nửa ngày hôm nay ngắm nhìn cảnh tượng  tòa tháp đang cháy. Một trong những sự thất vọng của thời khắc đó là việc chỉ có một số rất nhỏ trong chúng tôi đã có thể làm được điều gì đó cho người khác.

Những con đường trong khu phố thương mại đã trống rỗng ngoại trừ những xe cứu hộ khẩn cấp. Phía đông và phía tây của Greenwich Villages từ đường số 14 đến  đường Houston được cách ly thành hai khu riêng biệt. Những người khách bộ hành phải xuất trình giấy tờ chứng tỏ là mình sống hoặc làm việc ở đó mới được đi vào. Đống chướng ngại vật  được dựng bằng những con ngựa gỗ sơn xanh của cảnh sát và những xe tải không đánh dấu ném qua khu Laguardia Place. Ở sau chúng là một vài cảnh sát, nhân viên an ninh và một hai gã mặc đồ dân sự có đính phù hiệu trên áo. Tất cả bọn họ trông đều mệt mỏi và lãnh đạm.

Trước đống chướng ngại vật là một đám đông nhỏ: những người giống như tôi đang đợi bè bạn từ vùng lân cận tới phía nam, những người không có giấy tờ hợp lệ đang đứng chờ  xác nhận để  có thể  tiếp tục vào Soho; những người chỉ muốn ở bên  ngoài gần  gũi những người khác trong những ngày nắng và choáng váng này. Thỉnh thoảng mỗi người trong số chúng tôi lại  nhìn lên những cột khói đang lơ lửng trên bầu trời khu phố và quay đi.

Một gia đình tiến đến gần viên cảnh sát trung niên. Đôi vợ chồng ấy bế trên tay cậu con trai và dắt theo một bé gái nữa. Tất cả đều tóc vàng, mặc quần soóc và áo thường. Đôi vợ chồng trông có vẻ thân thiện nhưng đứng đắn trong lứa tuổi ngoài ba mươi của họ. Họ có lẽ là những khách du lịch. Nhưng trong ngày đó thành phố trống rỗng chẳng có người khách du lịch nào. Người đàn ông nói gì đó và tôi nghe thấy viên cảnh sát hỏi rất lớn: “Anh  muốn đi đâu?”

“ Xuống kia”, người đàn ông chỉ tay vào những chiếc cột. Anh ta chỉ lũ trẻ “ Chúng tôi muốn chúng thấy”. Nó có vẻ như thể anh ta không nghĩ được rằng yêu cầu này không thể đáp ứng được.

Tất cả mọi người đều nhìn chằm chằm gìa đình này. “ Không có giấy tờ  thì không ai được qua hết”, viên cảnh sát đáp và quay lưng lại phía họ. Vẻ  thân thiện  trên khuôn mặt họ mờ dần. Họ trông thật phẫn nộ giống như vị  khách  sang trọng không tìm được phòng nơi khách sạn  dù đã đặt trước. Người mẹ dắt đứa bé và ông bố bế cậu bé quay về phía tây có lẽ là tìm một điểm kiểm soát khác.

“ Họ muốn những đứa nhỏ nhìn thấy Ground Zero[1]”, một người phụ nữ biết viên cảnh sát nói. “Ông đã gạt họ ra khỏi đầu chưa?”. “ Những kẻ cướp”, ông ta đáp. “Đấy là phỏng đoán của tôi thôi”. Ông ta cầm máy bộ đàm lên và gọi cho những trạm kiểm soát phía trên .

Mags xuất hiện ngay sau đó trông hơi nhàu nhĩ một chút. Khi bạn đã quen biết ai đó trong khoảng thời gian dài bằng khoảng thời gian tôi quen biết Mags thì  sẽ  có xu hướng là không nhìn vào những thay đổi mà nghĩ về việc cả hai các bạn vẫn như hồi còn là những đứa trẻ. Nhưng những đứa trẻ thì không có tóc muối tiêu và thân hình mập  như những thân hình đã bước vào cuối lứa tuổi năm mươi này. Những nụ hôn của chúng cũng không phải chỉ là sự qua loa, chiếu lệ. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi không có những cái lắc đầu nhẹ, cụt ngủn biểu thị cho những điều hai người đã hiểu. Chúng tôi đi bộ giữa đường vì chúng tôi  có thể làm được điều đó lúc này. “ Tối qua  anh không thể nào ngủ ngon được”, tôi nói. “ Bởi vì sự im lặng”, Mags đáp. “ Không có một chiếc máy bay nào. Em đã lắng nghe chờ chúng. Em đã không ngủ một chút nào cả. Em được mời đến tòa án ngày hôm nay. Nhưng tòa án đóng cửa cho đến khi có thông báo mới”. Tôi nói “ Hãy để ý xem tại sao chỉ những người sống ở đây mới được phép vào, có phải khu phía nam toàn là những người Ý và những kẻ híp-pi không?”

“ Giống như năm 1965 đang trở lại vậy”.

Mags và tôi đã quen biết nhau một thời gian dài chứ không phải là mới quen biết nhau chốc lát. Những kí ức về tình yêu và những thờ ơ chúng tôi chia sẻ cùng nhau đã làm cho tình bạn ấy thăng trầm trong suốt 30 năm qua.

Đầu năm 2001, cuối cùng tôi đã  ra khỏi căn hộ thuê  dài  hạn trả bằng tiền mặt và mua một căn hộ nhỏ trong South Village. Mags đã sống  nhiều năm trong căn nhà ọp ẹp nằm ở ven Soho.

Vì thế chúng tôi đã  gặp lại nhau . Tôi viết, hiển nhiên, nhưng Mags chưa bao giờ đọc những gì tôi đã in  cả, điều ấy đã làm tôi buồn phiền. Mặt khác Mags còn tham gia một số hoạt động cho những quỹ của cánh tả và tôi hầu như không quan tâm đến mấy chuyện đó.

Mags đang bị kẹt giữa vấn đề rắc rối về việc làm,  vấn đề muôn thuở của  New York và những rắc rối về nơi ăn chốn ở. Hiện giờ Mags  đang trong tình trạng thất nghiệp và ông chủ đất muốn bà rời căn hộ để ông ta có thể  sửa sang lại. Số tiền mà ông ta hỗ trợ không tồi nhưng bà muốn mọi thứ được giữ nguyên. Chúng gây cho tôi ấn tượng rằng những gì điển hình cho Mags  là việc Mags chưa bao giờ ổn định trong cuộc đời mình. Mags giờ vẫn còn đứng bên bờ mép.

Rất  nhiều những nhà hàng của Village không mở cửa. Những ông chủ cửa hàng đã không thể hoặc không vào thành phố. Nhưng cửa hàng của Angelian trên đường Thomson vẫn mở bởi vì Angelina chỉ sống cách đó có vài ngôi nhà. Cô ta đang bận rộn với việc phục vụ bàn vì những người hầu bàn  đã không thể đến làm việc.

Sau đó tôi đã có lí do để cố gắng và nhớ. Nơi này đông đúc nhưng im lặng. Mọi người thì thào với nhau giống như tôi và Mags làm . Không một ai tôi biết có mặt ở đây. Trên sân khấu  đang vang lên bản “Ancient airs and dances” của Resphigi[2] .

“ Giống  như một cuộc chiến tranh chớp nhoáng”,  ai đó nói.

“ Chẳng bao giờ giống như thế lần nữa”, một người ở bàn khác lên tiếng.

“ Thậm chí không có bất cứ cơ hội nào  cho những người tình nguyện cứu giúp”, người thứ ba nói.

Tôi đã bỏ uống rượu. Nhưng Mags, như tôi nhớ đã gọi một chai rượu vang.

Dịch vụ điện thoại hoạt động trở lại chưa ổn định nhưng mọi người vẫn cố gắng trao đổi những gì  đã thấy.

“ Bà Pirelli” tôi nói “Quý bà người Ý ở trên lầu chỗ anh . Người mà anh  đã nói với em  là bà ấy đã bị  đau tim khi  xem  những cột khói lửa trong ti vi. Con bà ấy làm việc trong tòa nhà trung tâm thương mại thế giới và bà ấy  nghĩ là cậu ta đã bị thiêu cháy trong đó.”

“ Không thể gọi được xe cứu thương vào buổi sáng ngày hôm qua. Nhưng những gã bù nhìn ở những trạm cứu hỏa nhỏ  phía góc đó vẫn đứng yên. Họ đang đợi để được gọi, anh  đoán thế. Họ đưa bà ấy  tới St. Vincent bằng chiếc xe của người chỉ huy. Ngay sau đó đứa con trai bà ấy  đến gần con đường. Chiếc áo comple kẻ sọc bị một vết cháy thủng ở trên vai, bồ hóng phủ đầy mặt và ánh mắt ngây dại. Nhưng cậu ta  vẫn còn sống. Họ nói ngày hôm nay bà ấy đã khá hơn”.

Tôi há hốc miệng và vặn vẹo ngón tay chờ đợi. Mags đã có một câu chuyện sâu sắc và đen tối hơn để kể, một sự ngập chìm vào trong tiềm thức. Trước khi tôi biết bà và cả  sau đó Mags đã có một chuỗi những chấn động tinh thần khủng khiếp. Đấy là sự trở lại  trường đại học, nơi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên, tôi đã ghen tị  với Mags và  tôi  ước có điều gì đó thật là sâu sắc xúc động để nói.

“ Em  đang nghĩ về những gì đã diễn ra tối qua”, Mags nói với tôi.

“ Chuông dưói cầu thang rung làm em  sợ. Nhưng vào lúc này  khi  dịch vụ điện thoại đang tồi tê, có thể đó là một người bạn, người đang cần nói chuyện. Em nhìn ra cửa sổ. Con đường trống rỗng, chết chóc như chưa bao giờ em  từng thấy.

“ Không có gì cả ngoài những tờ giấy đang bay xuống đường. Anh biết  đấy, anh có thể nhìn thấy những mảnh giấy đang rơi xuống từ trung tâm thương mại thế giới bao nhiêu lần? Trong giây lát em  nghĩ em  đã thấy thứ gì đó chuyển động nhưng sau đó khi nhìn lại thì chẳng thấy gì cả.

“ Em  đã không rung chuông  nhưng hình như ai đó đã làm điều đó vì em  đã nghe thấy tiếng động này, một tiếng huýt gió trong tòa nhà.

“ khi em  đi đến bên cửa và nâng lỗ quan sát lên. Một dáng người đứng đó trên mặt đất. Cô ta nhìn quanh như thể cô ta bị lạc đường. Cô ta mặc chiếc váy dài và rách rưới.Và một chiếc áo bờ-lu, những gì em  nhận ra là chiếc áo được cài phía trước tới thắt lưng. Bộ quần áo thật cũ kĩ. Khi cô ta quay về phía cửa, em  nhìn thấy khuôn mặt cô ta. Nó rách nát và đẫm máu. Như thể cô ta đã nhảy hoặc ngã xuống. Em há hốc miệng vì kinh ngạc, và sau đó cô ta bỏ đi”.

“ Và em  đã thức giấc phải không ?”

“ Không. Em  đã cố gắng gọi cho anh . Nhưng điện thoại không gọi được. Cô ấy đã ngã xuống nhưng không phải là từ toà nhà. Dù thế nào đi nữa giờ đây cô ấy đã không còn ở đây ”.

Mags đã uống cạn chai  rượu . Tôi nhớ rằng Mags đã gọi thêm sa-lát nhưng rồi  không hề đụng đến nó. Nhưng Agenlina đã mang đến một chai vang  mới. Tôi kể cho Mags nghe về gia đình ở chỗ trạm kiểm soát.

“ Có một lỗ thủng  trong thành phố”, Mags nói.

Tối đó, sau khi chúng tôi chia tay,  vào lúc tôi nằm trên giường xem ti vi nhưng không phải là xem những bộ phim cũ và cũng  tránh xem bất cứ kênh nào có phát bất cứ bản tin gì thì chuông cửa rung lên. Tôi nhảy ra khỏi giường và đi tới  nhìn vào màn hình . Trên con đường trống rỗng phía dưới cầu thang, một người đàn ông, với đôi mắt hoang dại, mái tóc rối bời đang nhìn chòng chọc giận giữ trực tiếp vào Camera.

Dịch vụ điện thoại thật  không đáng tin cậy. Chẳng có bằng chứng nào chứng tỏ cảnh sát đã có mặt ở khu vực lân cận ngay sau đó. Tôi đông cứng lại và không mời anh ta vào. Cho dù ở trong tòa nhà Mags một người khác nào đó  đã làm. Tôi cài chặt cửa, nhòm qua ô kính và lắng nghe bước chân chậm chạp , ngập ngừng. Khi đi đến tầng hai, anh ta nhìn quanh và nói bằng giọng khàn khàn: “ Xin chào? Xin lỗi nhưng tôi không thể nào tìm thấy chìa khóa nhà mẹ tôi”.

Đến lúc đó tôi mới mở cửa và hỏi anh ta xem tình hình mẹ anh, bà Pirelli như thế nào.

“Ổn cả”, anh nói “ mẹ tôi được chăm sóc tốt. Bệnh viện St. Vincent đã được tăng cường phục vụ cả   ngàn nạn nhân. Anh ta nhún vai: “ Dù sao chăng nữa mẹ tôi cũng cảm ơn tất cả mọi người, cả tôi cũng vậy”.

Trên thực tế chúng tôi không nói  gì nhiều. Chúng tôi chúc nhau ngủ ngon và anh ta lê bước chân lên tầng rồi phá cửa kính để vào chỗ mẹ anh ta ở.

Thứ 5 ngày 13 tháng 9.

Trước tháng 9 năm 2001 tôi  làm việc ở bộ phận lễ tân cho một thư viện trong trường đại học suốt  30 năm. Tôi sống ngay gần quảng trường Washington.  Và ngay trước 10 giờ sáng ngày thứ 5 tôi lên đường đi làm. Tiệm bán Souvlaki[3] của người Hồi giáo  trên đường vẫn đóng cửa. Chủ hiệu và những người làm việc ở đó đã ra đi từ sáng thứ ba. Tất cả những cửa hàng falafel[4] nhỏ ở South Village đều đóng cửa và tối om.

Trên đường tới nơi làm, tôi nhìn thấy một con chuột ba chân đang chạy rất nhanh xuống đường MacDougal. Tôi đã quyết định không nghĩ  về  những điềm gở và những gì thuộc về chủ nghĩa tượng trưng .

Những chiếc ti vi lớn đặt trong gian ngoài thư viện vẫn tiếp tục chiếu đi chiếu lại hình ảnh ngọn tháp đôi đổ xuống. Nhưng giờ đây nó cũng chiếu hình ảnh những người   đang đào bới trong đống đổ nát đang bốc khói trên nền đất.

Giống như ngày trước đó, tôi là người duy nhất trong phòng xem nó. Những nhân viên thư viện khác sống quá xa. Thậm chí Marco, cậu sinh viên giúp việc cũng không ở  quanh đó. Marco sống trong khu kí túc gần ngay trung tâm thương mại thế giới. Sinh viên ở đó đã được di tản với không một thứ đồ đạc gì khác ngoài một vài quyển sách và bộ quần áo họ đang mặc. Ngày thứ ba trông cậu bé thật đau khổ. Tôi đưa cho cậu bé  khăn giấy, bắt cậu bé  thở sâu và gọi điện cho mẹ ở California. Tôi thậm chí đã đi bộ cùng cậu bé  tới tận nhà thi đấu thể thao, nơi trường đại học đang công bố những sinh viên bị mất tích.

Vào buổi sáng thứ năm,  tất cả các máy tính đặt xung quanh bàn lễ tân bị chiếm dụng. Các sinh viên ngồi đó cắm cúi viết  email và ngấu nghiến đọc những tin nhắn gửi tới nhưng  những  cảm  xúc mãnh liệt đã chùng lại kể từ ngày 11 tháng 9. Các cô gái không còn sụt sịt chấm nước mắt khi đọc những dòng tin nhắn nữa. Những nam sinh viên không còn nhảy choàng lên và trở lại từ phòng vệ sinh với đôi mắt đỏ và nói rằng mình bị dị ứng nữa.

Tôi nói xin chào và ngồi xuống. Lũ trẻ đã không trò chuyện gì nhiều với tôi trong vài ngày trở lại đây và chúng  cũng không có gì để hỏi. Nhưng tất cả chốc chốc lại quay lại và liếc nhìn để đảm bảo rằng tôi vẫn còn ở đó. Nếu tôi đứng dậy và dời bàn chúng liền hỏi ngay là lúc nào thì tôi quay lại.

Một vài ô cửa sổ ở phía sau nhìn ra khu phố thương mại. Những cột khói chập chờn. Gió đang đổi chiều.

Chuông điện thoại reo. Hệ thống thông tin liên lạc đã được  cải thiện. Phần lớn các cuộc gọi đều được trơn tru. Khi tôi trả lời, một giọng nói sít, căng thẳng bật ra: “ Jennie Levine là người em  đã nhìn thấy. Cô ấy tròn  19 tuổi vào năm 1911, khi nhà máy Triangle Shirtwaist bị cháy. Cô ấy sống trong tòa nhà chỗ em với gia đình cô ấy 90 năm trước đây. Linh hồn cô ấy đã tìm thấy đường về nhà. Nhưng bên trong tòa nhà chỗ em đã thay đổi quá nhiều khiến cô ấy không thể nhận ra”.

“ Chào Mags”, tôi nói. “ Em có muốn lại đây và ăn trưa không?”

Một vài tiếng sau, chúng tôi đã ngồi trong  khu nhà ăn nhỏ vốn dùng cho những cán bộ trong các khoa  ở phía Tây. Trường đại học vốn có thực phẩm trong tay và không có đủ người để tiêu dùng nó nên  đã mở cửa căng tin và nhà ăn cho bất cứ ai với một tờ giấy chứng nhận của trường đại học. Thậm chí chúng tôi có thể đưa bạn bè tới đó nếu chúng tôi muốn.

Giờ đây tôi nhìn, Mags có vài vết quầng thâm lo lắng quanh mắt và mái tóc đã được làm lại. Nhưng cả hai chúng tôi đều   bơ phờ một chút trong những ngày này bởi thời thế  và nỗi sợ hãi. Mọi người vẫn tiếp tục liếc nhìn xuống khu phố thương mại cho dù họ đang ngồi trong phòng và không gần cửa sổ.

Người phụ nữ gốc  Ấn điều hành nhà ăn  chào chúng tôi và cám ơn chúng tôi đã đến đây. Tôi  có một đĩa xúp mướp tây thật ngon, món sa-lát lê tàu thật tươi và chiếc bánh pút-đinh mềm mại. Nơi này trống đến một nửa và một lần nữa những cuộc trò chuyện lại câm bặt.

Tôi nói với Mags về cậu con trai của bà Pirelli vào buổi tối trước đó. Mags ngẩng lên khỏi đĩa thức ăn, nghiêm nghị  nói: “ Em  không tưởng tượng ra Jennie Levine đâu” và khép lại chủ đề đó.

Sau đó Mags và tôi đứng trên quảng trường Washington trước tòa nhà trường đại học trước đó là nơi đã từng có nhà máy có tên gọi Triangle Shirtwaist. Ở cuối khối nhà, một đoàn xe tải xanh màu ô liu  đang lặng lẽ lăn bánh xuống Broadway.

Mags nói: “ một buổi chiều ngày 25 tháng 3 năm 1911, 146 phụ nữ trẻ đã bị thiêu cháy tại đây. Ngọn lửa bùng lên từ đống giẻ rách. Cửa thông lên mái đã bị khóa. Thang cứu hỏa không thể vươn đến tầng tám và những cô gái đã bị thiêu cháy”.

Giọng Mags sít lại, thì thầm: “ Họ nhảy và vỡ nát trên vỉa hè.  Phần lớn trong số họ sống ở ngay gần đây. Trong những căn hộ đã được cải tiến lại mà chúng ta đang sống bây giờ. Nó giống như những chiếc máy bay kia đã đục  một lỗ thủng trong thành phố và Jennie Levine đã trở lại qua lỗ thủng đó”.

“ Thôi nào, em yêu!Trường đại học sẽ có vài lời chia buồn ngắn ngủi. Anh nghĩ anh phải đi đây. Em có muốn thử xem là anh có thể đưa em vào đó không?”. Nó có vẻ ngu ngốc khi tôi nói những lời ấy. Chúng tôi rảo bước trở lại thư viện.

“ Có cả những người khác nữa”, Mags nói. “ Những đứa trẻ cháy đen và trương phềnh lên trong những bộ quần áo kiểu cũ. Em  đã thức dậy rất sớm sáng nay và không thể ngủ lại được. Em thức dậy đi dạo xung quanh và đến tận East Village”.

“ Lạy chúa”, tôi nói.

“ Geoff cũng đã trở lại”, em  biết điều đó”.

“ Mags. Thôi đi nào”. Đấy là những gì chúng tôi đã nói đến  trong một thời gian dài. Chúng tôi đã từng có ba người và Geoff là người thứ ba. Geoff  trẻ hơn chúng tôi một vài tuổi tại thời điểm ấy và đấy là điểm khác biệt chủ yếu.

Chúng tôi gọi cậu ta  là “Chúa” Geoff vì cậu  ta nói rằng chúng tôi tốt đẹp hơn thế giới xung quanh một chút. Chúng tôi đùa rằng cậu ta là con trai của chúng tôi. Một gia đình nhỏ gắn bó với nhau bởi dục vọng và ma túy.

Cả ba chúng tôi đều trẻ, vừa mới bỏ học và sống trong thành phố. Định kiến và những thực tế khó khăn của căn bệnh nghiện ngập đã chia rẽ chúng tôi. Mỗi người trong chúng tôi phải tự tìm lấy đường sinh tồn. Mags và tôi đã làm điều ấy. Hóa ra Geoff sinh ra không phải là để chịu đựng sự đổi thay đột ngột như thế. Cậu ta mới 21 tuổi. Chúng tôi vẫn chỉ là những đứa trẻ ngu ngốc và liều lĩnh.

Khi tôi tự bào chữa trong đầu, Mags nắm chặt tay tôi: “ Rồi cậu ấy sẽ tìm chúng ta”, Mags nói.

Rùng mình ớn lạnh, tôi nhìn Mags bước đi và tự hỏi Mags đã trở nên xa cách nhiều như vậy mà tại sao tôi đã không nhận ra.

Trở lại  chỗ làm, Marco đã đợi tôi. Cậu bé  là người gốc Philipin, luôn ăn mặc có vẻ sành điệu. Nhưng đấy là tuần trước. Hôm nay, cậu bé   là người tị nạn khốn khổ với đôi dép tông quá khổ, mặc chiếc áo phông đỏ và quần soóc thể thao. Cả hai thứ đấy có lẽ là thứ đồ sản xuất dành cho những người cao lớn và da sẫm hơn.

“ Tình hình ra sao?”

“ Chết tiệt! tất cả đồ đạc cháu để cả ở trong khu phố thương mại và cháu không biết liệu có thể lấy nó ra được không.Họ có những thùng trong nhà thi đấu chứa bàn chải, dao cạo, áo lót..Nhưng những thứ cháu  cần thì lại không có  và nếu có thì cũng chẳng vừa. Cháu đưa quần áo cho họ giặt nhưng họ không đưa trả lại. Và giờ đây trông cháu chẳng khác chi chú hề.”

“ Họ bắt chúng cháu ngủ trên sân bóng rổ. Cả tối qua cháu nằm ở đó và nhìn chằm chằm lên trần nhà cùng với hơn một trăm gã khác. Một vài gã trong số đó ngáy. Một gã thì thét lên trong lúc ngủ. Và cháu không muốn tắm khi có cả một lô một lốc nhìn chằm chằm cháu”.

Cậu bé  nói với tôi tất cả những điều ấy trong khi không nhìn tôi, nhưng tôi hiểu cậu  bé  đang muốn gì. Tôi nghĩ rằng điều ấy  có thể gây phiền phức. Nhưng căn cứ vào những gì dường như tôi đã không làm được gì nhiều cho Mags, tôi nghĩ nó có thể sẽ tốt hơn nếu tôi làm   một điều gì đó cho người khác.

“ Cháu muốn tắm ở chỗ bác và ngủ trên đi văng phải không?”

“ Có được không hả bác?”

Sau đó tôi nghỉ giải lao và đưa cậu bé về căn hộ của mình, trải khăn trải giường lên đi văng. Khi Marco tắm tôi trở lại chỗ làm.

Tối đó khi tôi trở về nhà, Marco   đã thức dậy. Khi chúng tôi ra ngoài đi dạo, cậu bé lẽo đẽo theo sau. Tôi  đứng lại chỗ trạm kiểm soát của cảnh sát chỗ đường Houston và Sixth Avenue và nhìn những chiếc xe chạy lại từ chỗ trung tâm thương mại thế giới. Một chiếc xe cứu thương với một bên sườn bị vỡ nát cùng với một chiếc xe quân sự bẹp nóc đang được một chiếc xe tải lớn sàn phẳng kéo lên đường 6th Avenue. Những chiếc xe của sở cảnh sát New York chất đầy những gã từ Ground Zero với nhưng đôi mắt sâu và bộ dạng dơ dáy.

Đám đông những người ở Greenwich tụ tập trên vỉa hè vỗ tay và gào lên : “ Hoan hô lính cứu hỏa! Hoan hô cảnh sát!”.

Trạm chữa cháy ở đường 6th  Avenue đã đưa đi rất nhiều nạn nhân khi tòa tháp đổ. Nơi này đã bị khóa và trống rỗng. Chúng tôi nhìn những bông hoa và vòng hoa trên cửa, những phù hiệu với khuôn mặt những người lính cứu hỏa đã không trở lại và dòng chữ “ Vô cùng biết ơn những con người dũng cảm, những người đã hi sinh để bảo vệ chúng ta”.

Những làn khói mỏng bốc lên từ khu phố thương mại xoay tròn bởi gió trong bóng tối chạng vạng. Những cơn gió nhẹ đi kèm với nó đã làm cho chúng tôi phải chịu đựng thứ khói hăng cay sè trong vài tuần sau đó.

Các viên chức bảo đó là mùi của bê tông bị đốt cháy.  Tôi và những người khác đều tin rằng những gì mà chúng tôi đang hít thở ấy chính là tro than của những người bị thiêu cháy vào ngày thứ 3.

Trời  bắt đầu mưa bụi. Marco bám gần tôi khi chúng tôi quay về. Những chàng trai trẻ  với độ tuổi hai mươi thông thường hiếm khi ra ngoài với một ông già hơn ba lần tuổi. Cậu bé này đang rất sợ hãi.

Đường Bleeker gần như là bị bỏ rơi với rất nhiều cửa hiệu và nhà hảng vẫn đóng cửa. Những nơi mở cửa thì cũng hầu như vắng khách vào lúc 9 giờ tối.

“ Nếu bác  mua cho cháu  két bia 6 lon, cháu  sẽ hứa là  uống hết phải không?”. Cậu ta ra dấu đồng ý.

Trở lại nhà, Marco xin gọi nhờ điện thoại. Cậu bé gọi cho những người cậu bé  biết trong trường đại học, tìm một phòng còn trống trong kí túc, và thì thầm với cô gái có tên Eloise. Giữa những cuộc gọi, cậu bé làm việc trên máy tính.

Tôi nghe một chút thánh ca , vài bản nhạc của Ray Charles[5] và Haydn[6],  rồi  dán mắt vào màn hình tivi. Tổng thống đã gạt bỏ nỗi hoảng sợ để tới New York vào ngày tới.

Ở phòng kế bên chuông điện thoại reo vang. “ Không. Cháu là Marco”,  tôi nghe thấy tiếng cậu  bé   đáp. “Bác ấy cho cháu trú tạm ở đây”. Tôi biết ai gọi trước khi cậu bé bước vào và  thì thầm: “ Bác ấy hỏi cháu có phải là Geoff không”.

“ Chào Mags” tôi nói. Mags đang gọi từ một nơi nào đó bằng máy bộ đàm và xung quanh là âm thanh của tiếng còi báo động.

“ Những đứa trẻ ấy em đã nhìn thấy ở quảng trường Astor”, Mags nói, giọng  rõ và cuồng lên.” Những đứa trẻ đã bị thiêu cháy và chết chìm phải không? Chúng đã ở General Slocum khi nó bắt lửa”.

“ Những đứa trẻ em nhìn thấy ở quảng trường Astor đã bị chết cháy và chết chìm?” tôi hỏi. Sau đó tôi nhớ lại cuộc nói chuyện của chúng tôi trước đấy.

“Ngày 15 tháng 6 năm 1904 đã xảy ra thảm họa lớn nhất trong lịch sử thành phố New York.  East Village đã từng được gọi là nước Đức thu nhỏ. Mười ngàn người Đức với những văn phòng, nhà thờ, tiệm bia của chính họ.

“ Họ đã có một buổi du ngoạn ngày chủ nhật chủ yếu dành cho lũ trẻ trên một chiếc tàu  hơi nước, chiếc General Slocum, một căn nhà bồng bềnh mà khi cháy sẽ khó tìm lối thoát. Khi nó nổ tung trong lửa không có một chiếc thuyền cứu sinh nào. Thủy thủ đoàn và thuyền trưởng vô cùng kinh hãi. Trước khi họ cập được bến, hơn một ngàn người đã chết. Chết cháy và chết đuối. Khi lỗ hổng trong thành phố bị thổi tung ra, họ trở lại và tìm kiếm những ngôi nhà của họ”.

Cuộc đối thoại tan ra trong im lặng.

“ Em đang ở đâu, Mags?”

“Ở Ground Zero. Mùi ở đây giống như mùi lưu huỳnh đang cháy. Anh đã gặp Geoff chưa?”, Mags  hét to qua điện thoại.

“ Geoff đã chết rồi, Mags. Đấy là tất cả nỗi kinh hoàng và căng thẳng đang giày vò em. Không có lỗ thủng  nào đâu….”

“ Cảnh sát, lính cứu hỏa và những người cứu hộ đang ở đây. Tất cả đều lấm lem, tơi tả và đang đi xuống đây”. Đúng lúc đó có tiếng còi báo động rít lên. Tiếng những người đàn ông la hét. Đường dây bị ngắt.

“ Mags, cho anh số điện thoại, gọi lại cho anh sau”, tôi hét lên. Nhưng sau đó không có gì cả ngoài im lặng và tiếng quay số mơ hồ. Tôi gác máy và đợi chuông reo lần nữa.

Giây lát sau tôi nhận ra Marco đang chăm chú nhìn tôi và tợp từng ngụm bia. “ Bác ấy đã nhìn thấy những đứa trẻ đó phải không? Cháu cũng trông thấy chúng. Tối thứ ba cháu quá bồn chồn đến nỗi khó có thể nằm yên trên giường. Cháu ra ngoài với cậu bạn Terry. Chúng cháu đi dạo vòng quanh. Lũ trẻ đã ở đó. Trong trang phục của ngày ấy phủ đầy bùn và rong rêu. Khuôn mặt chúng tối đen và hư ảo. Đấy là lí do tại sao cháu không ngủ được tối qua”.

“ Cháu sẽ nói với những người phụ  trách chứ?”, tôi hỏi.

Cậu bé uống cạn chai bia. “ Vâng, nhưng họ không muốn nghe những gì cháu nói đâu”.

“ Nhưng với bác thì….”

“ Bác thì thật khác. Bác hiểu được mọi chuyện”.

Sự tĩnh lặng bên ngoài bị phá vỡ bởi tiếng động cơ phản lực. Cả hai chúng tôi đền ngần ngại. Đã không có chiếc máy bay nào bay qua Manhattan kể từ khi ngọn tháp đôi bị xé tan vào sáng thứ ba.

Sau đó tôi nhận ra nó là gì.

“ Lực lượng không quân”, tôi nói. “họ kiểm tra độ an toàn cho tổng thống Bush đến đây”.

“ Ai là Mags và ai là Geoff thế hả bác?”

Vì thế tôi kể cho Marco nghe  đôi điều về những gì đã xảy ra ở nơi đầy mất mát đau thương ấy. Vào những năm 60 những người ngây thơ đã  chèo chống những con thuyền mỏng manh. Tôi miêu tả sự băn khoăn của chốn xa xôi ấy và cả mối quan hệ ràng buộc tay ba nữa. “ Rắc rối của bọn bác, bác nghĩ là việc thay vì một gia đình đích thực, thì mỗi thành viên lại bị ám ảnh bởi người kia”.

“ Vâng”, cậu bé nói. “Bác vẫn sống và Mags vẫn sống .
thế còn Geoff thì sao?”

“ Khi  sự việc vỡ lở, Geoff bị bắt trong một cuộc truy quét ma túy và bị kéo đằng sau   chiếc xe tải của cảnh sát xuống khu phố thương mại. Cậu ấy cắt cổ tay cho máu chảy đến  chết trước khi mọi người nhận ra.”

Điều đó đã ám ảnh tôi cũng như những cái chết của lũ trẻ đang ám ảnh cậu bé. Mỗi người chúng tôi đều nói về nỗi ám ảnh của mình   mà không phải nghĩ ngợi nhiều về những điều người kia nói.

Thứ sáu ngày 14 tháng 9

Vào buổi sáng ngày thứ sáu, khi tôi và Marco vừa bước ra khỏi cửa tòa nhà thì gặp hai gã đồng tính đang dắt chó đi dạo. Một gã nói: “ Cả Villlage mà chả có lấy một chiếc bánh sừng bò tươi nào cả. Nó thật giống như Siege ở Paris. Rồi có lẽ tất cả chúng ta sẽ phải ăn cả chuột thôi”.

Tôi lẩm bẩm: “Cái gã này đã quá lo xa. Lẽ ra trước hết hắn phải nghĩ đến việc tìm một chiếc bánh nướng xốp kiểu Anh thì hơn”.

“ Hoặc là chén thịt con chó  lắm lời của gã “, Marco phụ họa.

Lúc đó những nhà chức trách đã mở cửa East và west village giữa đường 14 và đường Houston đến phía ngoài. Tất cả mọi người có xe kẹt lại từ ngày thứ ba  bắt đầu  được phép đi vào vùng lân cận và lái xe đi. Những chiếc xe làm dịch vụ chuyển phát hàng hóa, bưu phẩm bắt đầu xuất hiện ở những con đường nhỏ hẹp.

Trong thư viện màn hình chiếc tivi khổng lồ đang chiếu những hoạt động trên Ground Zero, đấy là sự chuẩn bị cho cuộc viếng thăm của tổng thống. Cánh cửa thang máy mở ra làm lộ ra mấy cậu bé tị nạn trong bồ quần áo  thể thao bó sát.

Những chiếc máy tính xung quanh bàn lễ tân nơi tôi làm việc vẫn đang chật cứng những người nhưng mức độ căng thẳng đã giảm xuống. Thậm chí đã có một hai câu hỏi về sách và cơ sở dữ liệu. Tôi đã cố gọi lại cho Mags nhiều lần. Đáp lại tôi chỉ là tiếng trả lời tự động.

Trong một lời nhắn bằng giọng ngắt quãng có đoạn: “Tôi là Mags McConell .Có một lỗ thủng trong thành phố và tôi đã vừa chuyển nó thành trung tâm thông tin về những nạn nhân như Jennie Levine và Geoffrey Holbrun. Nếu ai đó có thông tin gì về hai nạn nhân trẻ này xin vui lòng thông báo sau tiếng” bíp”…”.

Tôi để lại lời nhắn yêu cầu Mags gọi lại. Sau đó cứ nửa giờ tôi lại gọi cho Mags hi vọng là Mags nhấc máy. Tôi gọi đến những người bạn của chúng tôi. Một vài người đi vắng, một vài người thì không thể liên lạc được. Số còn lại thì cũng đang bận chăm sóc nỗi buồn thương của chính họ. Không ai trong số họ nhìn thấy Mags gần đây.

****

Tối đó trong bóng đêm đang sẫm dần, những ngọn đèn chiếu sáng lung linh trên quảng trường Washington. Những ngọn nến được phân bố và được thắp lên bằng diêm, bằng bật lửa từng ngọn, từng ngọn một.

Rất đông linh mục, quan chức chính phủ, giáo sĩ do thái và pháp sư dẫn đầu giáo đòan mang theo vòng hoa và nến đi xuống đường và vào công viên nơi họ gia nhập vào đám đông sẽ thức thâu đêm để cầu nguyện.

Marco  đi cùng với cậu bạn Terry,  cậu bạn tinh nghịch, người cũng đã cùng ở với cậu bé   trong nhà thi đấu. Chúng tôi đã đến dự lễ cầu nguyện cho những nạn nhân ngày 11 tháng 9 cùng nhau. Mọi người đội vòng hoa và nói những lời ngẫu hứng. Cũng có những bài kinh và một vài bài hát. Sau đó do bản năng hay cũng có thể là theo kế hoạch lập trước mà tôi không  hay biết, mọi người ra khỏi công viên, chia thành từng nhóm đổ ra khắp các ngả đường. Chúng tôi tạm dừng lại tại những cột đèn đường trên đó có tấm biển với những bức ảnh chụp những gia đình mặc đồ Pajama trong phòng tập thể dục vào buôi sáng ngày lễ giáng sinh. Một khuôn mặt nào đó  sẽ được khoanh bởi một vòng tròn đỏ và sẽ có một lời nhắn đại loại: “Đây  là James Bolton chồng của Susan, cha của Jimmy, Anna và Sue, người đã dời nhà  ở Rockaway vào lúc 7giờ 30 phút sáng ngày 11 tháng 9”. Đi kèm theo đó là tên công ty, số thứ tự của tầng thứ mấy trong tòa tháp trung tâm thương mại thế giới nơi anh ta làm việc, số điện thoại, số fax, địa chỉ email và lời nhắn:”Nếu ai đó biết thông tin gì về James Bolton xin làm ơn liên hệ với chúng tôi”.

Tại mỗi tấm bỉển, một ai đó sẽ để lại một ngọn nến. Một vài người khác thì để lại hoa. Cánh  cửa của trạm cứu hỏa nhỏ gần đấy đã mở, những chiếc xe tải và xe chỉ huy đã ra đi. Ứng trực tại nơi này là những người lính cứu hỏa đã nghỉ hưu với khuôn mặt già nua như những diễn viên chuyên đóng các nhân vật người Ý hay người Ai-len.

Một bức ảnh lớn chụp người lính cứu hỏa đã chết treo bên cạnh cửa. Anh ta còn rất trẻ, khoảng độ ba mươi. Anh ta và vợ hoặc cũng có thể là người yêu đang mỉm cười trước túp lều của người da đỏ phủ tuyết. Tấm ảnh được viền bằng những bức vẽ của lũ trẻ về những người lính cứu hỏa, những chiếc xe cứu hỏa và ngọn lửa, với những lời chia buồi và lời kinh cầu nguyện.

Khi chúng tôi bước đi và bóng tối sẫm lại thì đoàn người bước dài ra. Chúng tôi nhìn thấy những hàng nến  phía trước dọc theo con đường. Đấy chính là  trên đường Great Jones và Bowery nơi đột nhiên chỉ có ba chúng tôi và không có một phương tiện giao thông nào. Khi tôi quay lại để nói rằng chúng tôi nên trở về nhà, tôi chợt nhìn thấy một gã cao lớn đang loạng choạng bước trên đường với khuôn mặt đỏ tía và đôi mắt đang lồi ra.

Sau đó anh ta đi khỏi.Một trong hai cậu bé Marco hoặc Terry thì thào: “ Chết tiệt! Anh ta đã chết ”. Và không ai trong chúng tôi nói một lời nào.

Tại một thời điểm nào đó vào tối ấy,  tôi đã nói với Terry rằng cậu ta có thể qua đêm trong căn hộ của tôi. Cậu ta không thể rời mắt khỏi Marco cho dù Marco dường như  không chú ý đến điều đó. Trên đường chúng tôi trở về nhà, con đường phía đông đường Bleeker, bên ngoài một quán bar cũ kĩ thậm chí nó đã cũ kĩ kể từ khi tôi lang thang ở đó khi còn là đứa trẻ, tôi nhìn thấy một tấm áp phích.

Nó giống như hàng tá những tấm khác tôi đã nhìn thấy tối đó ngoại trừ đấy  là bức ảnh đen trắng đã cũ chụp ba đứa trẻ  đầy tóc tai và điệu bộ tồi tệ: Mags, Geoffrey và tôi.

Mặt Geoffrey được khoanh tròn và bên dưới viết: “Đây là Geoffrey Holbrun. Nếu bạn nhìn thấy người này từ thứ ba ngày 11 tháng 9 hãy làm ơn liên lạc”và Mags đã để lại tên và số điện thoại.

Thậm chí trong tấm ảnh tôi nhìn Geoffrey người đang nhìn Mags còn Mags thì lại đang nhìn tôi. Tôi liếc nhìn giây lát trước khi dời đi. Nhưng tôi biết Marco đã nhận ra điều đó.

Thứ 7 ngày 15 tháng 9.

Căn hộ nhỏ của tôi thật là bừa bộn vào buổi sáng ngày thứ bảy. Tất cả những chiếc khăn mặt tôi có đều ẩm ướt, còn cốc chén thì đều bẩn cả. Mùi bốc lên giống như mùi ở vườn bách thú. Có vài mẩu bánh pi-za trong bồn rửa bát và vỏ lon bia trước cửa. Đêm trước đó không ai trong chúng tôi nói về những bóng ma. Marco và Terry thảo luận nghiêm túc về chuyện họ liệu có bị bắt quân dịch không hay sẽ tự nguyện gia nhập quân đội. Ý tưởng gia nhập quân đội của lũ trẻ không làm cho tôi cảm thấy an toàn hơn một chút nào.

Tôi vẫn phải làm việc vào ngày thứ bảy.

Đã chuẩn bị sẵn tinh thần, tôi nhủ thầm mình rằng rồi chuyện này cũng sẽ nhanh chóng trôi qua. Trường đại học đã tìm được phòng cho tất cả những sinh viên tị nạn trong trường.

Sau đó chuông rung và một cô gái trẻ với chiếc khuyên mũi, mái tóc quăn màu đỏ xuất hiện.

Eloise  cũng là một người tị nạn khác mặc dầu cô  đã được sắp xếp tốt hơn. Cô đem quần áo đã được giặt là đến cho những vị khách của tôi. Marco có vẻ vui khi nhìn thấy cô bé.

Buổi sáng hôm đó, tất cả các nhà hàng, tiệm xăm hình, tiệm mát-xa đều mở cửa. Thậm chí những chủ cửa hàng người Ả- rập  đã liều mạng đối mặt với những lời lăng mạ và đe dọa giết để đi tàu điện ngầm từ Queen đến mở cửa hàng.

Trong thư viện màn hình lớn bên hành lang đang được dỡ xuống. Một vài sinh viên đang mượn sách. Một hai sinh viên đã hỏi tôi những câu hỏi tham khảo được chuẩn bị kĩ lưỡng.

Cuối cùng khi tôi lấy hết can đảm để gọi cho Mags, tất cả những gì tôi nhận được là những lời nhắn như trước đó.

Marco xuất hiện với bộ quần áo của chính mình và trông có vẻ sạch sẽ, sáng sủa hơn. Cậu bé ôm chặt tôi. “ Bác thật tốt khi đã cho cháu trú nhờ”.

“ Không, chính cậu đã làm mình cảm thấy tốt hơn”, tôi đáp.

Cậu bé ngừng lại và hỏi: “ Chính là bác trong tấp áp phích tối qua có phải không ạ? Bác, Mags và Geoffrey phải không ạ?”. Cậu bé có vẻ tò mò chờ đợi câu trả lời.

Khi tôi gật đầu, cậu bé nói: “ Cám ơn bác đã nói ra điều ấy”.

……….

Tôi vội vàng khi thoát khỏi nghĩa vụ phải làm vào tối thứ bảy. Một người bạn đã gọi điện và mời tôi đến dự “ Bữa tiệc dành cho những người sống sót”. Vào những ngày cách mạng Pháp, những ngày kinh hoàng, người ta đã dùng cụm từ này để  gọi những buổi dạ hội, tại đó mọi người nhảy và uống suốt đêm rồi ra ngoài vào lúc rạng đông để xem xem tên ai trong số họ đã bị liệt vào danh sách phải lên máy chém.

Tại Sixth Avenue, hiệu bánh mì vốn bán thứ bánh mì nhỏ cực giòn đã mở cửa trở lại. Đại lộ tắc nghẹn bởi dòng xe cộ và tiếng còi inh ỏi. Vụ việc rắc rối ở hạ Manhattan  đã được giải quyết và mọi người đã được phép  lái đi những chiếc xe của mình vốn bị mắc kẹt ở đó. Tiệm bánh nằm ở phía bên kia đường đối diện với nhà thờ. Và vào buổi chiều ấy, ở nơi đó có  một lễ cưới đang diễn ra. Khi tôi đi ra với những chiếc bánh nướng nhỏ, cô dâu chú rể, không còn trẻ lắm, cũng không quyến rũ lắm nhưng thật sự hạnh phúc, bước ra khỏi cánh cửa và dừng lại trước bậc tam cấp để chụp ảnh. Xe cộ dừng hết cả lại. Mọi người bóp còi inh ỏi “Ồ, cô dâu chú rể kìa!”. Họ  thò đầu ra ngoài cửa sổ, hò reo tán thưởng.

Tất cả chúng tôi đã cảm thấy yên tâm khi nhìn thấy cái sự việc rất bình thường ấy.  Nó báo cho chúng tôi biết rằng mọi chuyện giờ đây đã trở lại bình thường.

Sau đó tôi nhìn thấy Mags ở phía bên kia đường Sixth Avenue. Mags đang nặng nề bước đi, mắt nhìn chăm chăm về phía trước, cổ bà có treo một tấm áp phích dán những tấm ảnh đen trắng. Đám đông phía trước cửa nhà thờ dồn ánh mắt  hướng về Mags. Những người khóc mướn cũng khó có thể cất tiếng khóc vào khoảnh khắc ấy.

Tôi thét to tên Mags và chạy băng qua đường. Nhưng sự cấm đường đã chấm dứt và  xe cộ bắt đầu chuyển thành dòng chảy. Tôi gắng bám theo Mags dọc theo phía bên này đường. Tôi muốn mời Mags đến bữa tiệc. Chủ nhân của bữa tiệc cũng quen biết Mags trước đó. Nhưng cả hai bên hè đường đều đông đúc. Khi tôi băng được sang bên kia đường thì Mags đã biến mất.

Vĩ thanh

 

Tối đó tôi từ bữa tiệc trở lại nhà và nhận ra rằng căn phòng đã được dọn dẹp sạch sẽ và tấm giấy viết mấy dòng cảm ơn của ba đứa trẻ dán trên cửa tủ lạnh. Và tôi cho dù cảm thấy yên tâm vẫn dội lên trong lòng cảm xúc mất mát.

“Bữa tiệc dành cho những người sống sót” được tổ chức ở Lower East Side. Trên đường trở lại nhà tôi đi qua East Village và đi bộ lên đường số mười. Mọi người đều đã gượng dậy được sau cơn chấn động. Các quầy ba đều đang mở cửa kinh doanh. Nhưng vẫn hầu như không có phương tiện giao thông nào và các khối nhà thì im lìm.

Kia là tòa nhà  nơi ba chúng tôi đã sống trong sự dơ dáy và căng thẳng ngày một tăng dần  trong suốt 35 năm trước khi  câu chuyện đi đến hồi kết. Tôi đứng lặng bên này đường ngắm nhìn. Có  thể tôi có ý mong cậu ta xuất hiện.

Geoff đứng đó trong tầm mắt tôi với khuôn mặt trắng nhợt và đôi mắt nhìn chằm chằm không chớp vào ánh sáng ở nơi đã từng là khung cửa sổ của chúng tôi. Tôi quay về phía cậu  ta và cậu ta biến mất. Tôi liếc sang một bên và cậu ta vẫn ở đó trông thật đau đớn  và cô đơn. Hai ống tay áo của cậu ta đẫm máu.

Và tôi nhớ lại những lúc chúng tôi ngồi cạnh nhau, chuyền tay  ống xi-lanh  để đưa vào máu thứ chất lỏng vốn được coi  như vật làm tin để chúng tôi dính chặt vào nhau chừng nào chúng tôi còn sống. Khi ấy Geoof còn đế thêm: “ thậm chí cả sau khi chết nữa”. Và tôi nhớ lại rất rõ tôi đã chằm chằm nhìn cậu ta như thế nào khi cậu ta nhìn Mags còn ánh mắt Mags lại đang nhìn  tôi. Ba cạnh của một tam giác.

Ngày tiếp theo, ngày chủ nhật, tôi đi xuống khu nhà Mags ở. Tôi thực sự muốn gặp và nói chuyện với Mags. Tôi bấm chuông hết lần này đến lần khác. Không có tín hiệu đáp lời.

Tôi bấm chuông căn hộ người quản lí khu nhà ở cạnh đó.

Bà ta là một người đồng tính trạc tuổi tôi. Tôi hỏi bà ta về Mags.

“ Bà ấy đã biến mất. Lần cuối người ta nhìn thấy bà ấy là vào ngày thứ bảy, ngày 9/9. mọi người trong tòa nhà đã kiểm tra để chắc rằng mọi người đều không sao. Ngoại trừ không có một tín hiệu nào của bà ấy cả. Tôi đã dán một cái băng dính vào lỗ khóa của bà ấy vào ngày thứ tư và nó vẫn ở nguyên đấy”.

“Tôi vừa nhìn thấy bà ấy ngày hôm qua thôi”.

“ Hả?”, bà ta nhìn tôi với ánh mắt nghi ngờ.

“Ồ, tên bà ấy nằm trong danh sách những người có thể bị mất tích trong vụ cháy tòa nhà trung tâm thương mại thế giới. Ông cần hỏi hỏi họ về điều  đó”.

Điều đó với tôi giống như bà chủ nhà đang cố gắng từ bỏ Mags.

Tuần tiếp theo, tôi gọi cho Mags mỗi ngày vài lần. Đôi lần tiếng trả lời tự động của máy im bặt. Tôi kiểm tra khu nhà Mags ở thường xuyên. Không có dấu hiệu nào của Mags cả. Tôi hỏi Angelina xem liệu rằng cô ta có nhớ được tôi đã ăn tối cùng với Mags ở cửa tiệm cô ta vào thứ tư ngày 12 tháng 9 không.”

“ Cháu quá bận nên cháu cũng không để ý. Cháu nhớ  bác có đến  và đoán bác  đi cùng ai đó. Nhưng thực sự cháu không nhớ được đấy là ai”.

Sau đó tôi gọi Marco xem cậu bé  có nhớ cuộc điện thoại không. Cậu bé  có nhớ nhưng sau đó  lại bận rộn với Terry và Eloise nên không chú tâm lắm.

Xung quanh thời điểm đó tôi nhìn thấy đôi vợ chồng người đã muốn đưa bọn trẻ xuống Ground Zero. Họ đang đi bộ lên đường Sixth Avenue, lũ trẻ trông thật xộc xệch và mệt mỏi còn đôi vợ chồng thì trông rất buồn bã. Giống như thể người ta đã lấy đi của họ tất cả niềm vui thú vậy.

Cuộc sống đã khép lại xung quanh tôi. Tập truyện ngắn của tôi đang được xuất bản đúng vào thời điểm thật lạc lõng. Và tôi cần phải làm một vài động tác quảng cáo. Tôi đã  gặp lại người hâm mộ cũ  khi anh ta trở lại  New York với tư cách là cố vấn cho một công ty đã mất hết văn phòng và một rất nhiều  nhân viên khi tòa tháp phía bắc bị  đổ.

Bà Pirelli không trở về nhà từ bệnh viện mà tới sống với con trai tại Connecticut. Thỉnh thoảng tôi ghé thăm  cửa hàng của người Ả-rập và lắng nghe những người chủ cửa hàng phàn nàn họ cảm thấy tồi tệ như thế nào về những điều đã xảy ra và họ mỉm cười khi cho tôi xem những tấm hình chụp những đứa con đội mũ lưỡi trai kiểu Mĩ và mặc áo phông.

Chính vào cuối tuần tiếp theo tôi lại nhìn thấy Mags lần nữa. Trường đại học đã cho phép sinh viên trở lại khu kí túc xá trong khu phố thương mại để lấy đồ đạc ra. Marco, Terry và Eloise đến thư viện và rủ tôi cùng đi. Và thế là tôi chuyển qua bộ phận vận tải của trường đại học và  đi cùng lũ trẻ.

Vào khoảng buổi trưa chủ nhật ngày 23 tháng 9, tôi và hàng tá lũ trẻ khác được nhồi lên chiếc xe buýt của trường đại học do Roger, một người Jamaica đã làm việc cho trường đại học tương đối dài chẳng kém gì tôi  lái.

“ Trước ngày 11 tháng 9 lũ trẻ chả muốn mấy “ cụ khốt” đi cùng chúng đâu”,  Roger nói với tôi. “ Thế rồi sau đấy tất cả bọn trẻ đều muốn gần bố”. Roger dẫn đoàn xe buýt và xe tải đi xuống FDR Drive và băng qua những con đường ngày chủ nhật vắng vẻ và sau đó vượt qua những chiếc xe tải lớn và xe xây dựng.

Chúng tôi dừng lại trước một trạm kiểm soát của cảnh sát. Một viên cảnh sát nhòm vào trong và vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi qua. Tại kí túc, một viên cảnh sát khác bảo lũ trẻ rằng chúng có một giờ để thu dọn mọi thứ và ra khỏi đây. “Phải chuẩn bị sẵn tinh thần là khi tôi bảo các cậu phải biến khỏi đây ngay”, viên cảnh sát nói.

Tôi và Roser là kẻ già cả nên ở lại bên xe. Không khí thật là bẩn thỉu, dơ dáy. Mắt chúng tôi chảy nước. Phía trên con đường khoảng vài trăm feet một đám  khói vẫn bốc lên từ đống đổ nát của tòa nhà trung tâm thương mại thế giới. Những đống rác vẫn âm ỉ cháy. Giữa chúng tôi và đống đổ nát ấy là dòng xe cứu hỏa và xe cảnh sát với những ngọn đèn đỏ nhấp nháy trên nóc.

Phía sau chúng tôi, lũ trẻ đang hối hả mang vác những chiếc hộp.  Tôi bắt chúng viết tên mình lên từng chiếc hộp và  đánh số  chiếc xe tải nào sẽ chở chúng. Tôi ngạc nhiên thậm chí cảm thấy xúc động trước một số lượng lớn những con thú nhồi bông đang được chuyển đi.

“ Chừng ấy năm chúng ta đã làm những điều kì quái chỉ để kiếm lấy khoản lương hưu”, tôi nói với Roger.

“ Giống như tình nguyện đi đến cánh cửa địa ngục phải không nào?”

Khi Roger nói điều đó, những ngọn lửa từ đống rác bốc lên, những người lính cứu hỏa hét lên và cố sức dập tắt ngọn lửa.  Một chiếc xe cứu hỏa sử dụng hóa chất xoay tròn và những người lính cứu hỏa bắt đầu lắp những chiếc vòi dài.

Trong số những bóng đồng phục tôi nhìn thấy một thường dân, một người phụ nữ trung niên mặc áo len dài tay và quần jeans mang theo một tấm biển. Mags đang tiến đến phía đống lửa. Tôi muốn gào lên “ Hãy ngăn bà ấy lại” . Nhưng sau đó tôi nhận ra rằng không có viên cảnh sát hay người lính cứu hỏa nào có vẻ nhận ra Mags cả cho dù Mags đang bước đi sát ngay bên cạnh họ.

Khi Mags làm thế, tôi nhìn thấy một bóng khác, gầy, tái xanh mặc áo khoác da lộn, quần ống loe. Anh ta giơ ra hai cánh tay đẫm máu và họ cùng nhau bước xuyên qua những ngọn lửa và đám khói đi vào lỗ thủng trong thành phố.

“ Có phải họ đấy không, bác?”, Marco đã đứng bên cạnh tôi lúc nào.

Tôi quay lại phía cậu bé. Terry đứng sau chiếc xe buýt nhìn từng cử động của Marco. Eloise đang nhìn chằm chằm Terry.

“ Thật  là hoàn hảo  hơn bộ ba các bác nhiều”, tôi nói.

Và Marco đáp “ Vâng, chắc chắn là như thế rổi” với giọng tự tin chưa từng có trên thế giới.

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

 

[1]. Vốn là từ chỉ vùng đất  bị hủy diệt hoàn toàn ngay  chỗ quả bom nguyên tử phát nổ, sau ngày 11/9/2001 người Mĩ dùng nó để  ám chỉ nền đất xây dựng  tòa nhà trung tâm thương mại thế giới.

[2] . Ottonio Respighi ( 1879-1936), nhạc sĩ người Ý.

[3] Một món ăn của người Hilạp thành phần là thịt, rau  được xiên và nướng chín.

[4] Một món ăn của người Ả-rập làm từ đậu xanh có dạng viên tròn.

[5] Ray Charles (1930-2004), nhạc sĩ,  nhạc công piano người Mĩ.

[6] Franz  Joseph Haydn ( 1732-1809) nhạc sĩ người Áo.


Cũ hơn Mới hơn