Trung Quốc và Người Trung Quốc ở nước ngoài (III)

Chính sách dưới triều vua Yung-lo (Vĩnh Lạc).

Người sáng lập vương triều đã đặt xuống cái khung chính sách đối ngoại cho những người kế vị và đã định rõ chi tiết những việc họ phải làm để tiến hành các mối quan hệ đối ngoại mong muốn gắn chặt với những lời chỉ dạy của ông nhưng điều này đã không xảy ra. Người kế vị hoàng đế đầu tiên và là cháu ông ta là hoàng đế Kiến Văn (Chien-wen) đã bị chú lật đổ.  Hoàng đế Vĩnh Lạc, một kẻ tiếm quyền,  đã cảm thấy cần thiết phải hợp pháp hóa sự lên ngôi triệt để như là cha ông đã từng có bao gồm cả việc thi hành chính sách đối ngoại hiếu chiến đối với tất cả các phía. Những chính sách phân biệt sắc tộc của ông ta có liên quan tới mối quan hệ với Đông Nam Á và các quốc gia lân cận ở Ấn Độ Dương.  Chính sách nổi tiếng nhất của ông ta là  tiến hành các cuộc viễn chinh trên biển đầy xuất sắc dưới sự chỉ huy của đô đốc hoạn quan Trịnh Hòa.  Trong suốt triều vua Vĩnh Lạc, mối quan hệ căng thẳng giữa Việt Nam và Champa bị lu mờ bởi sự căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thậm chí mối quan hệ với các nước Shan-Lao-Tai phía nam của Vân Nam cũng bị ảnh hưởng bởi chính sách hiếu chiến nhằm thống trị Việt Nam  của triều đình trong khi tất cả các mối quan hệ với các nước khác bị lu mờ bởi các sứ thần xuất chúng tới Biển Tây. Những sự phát triển xảy ra trong triều vua này có thể được hiểu rõ nhất bằng việc quan tâm trước hết tới cuộc xâm lược Việt Nam và sau đó là các cuộc viễn chinh trên biển của Trịnh Hòa và ảnh hưởng lan rộng của chúng.

Xét trên bề mặt, hoàng đế Vĩnh Lạc chỉ đơn giản xác nhận lại chính sách của cha mình: không liên lạc tư nhân với người nước ngoài, không buôn bán tư nhân, và không buôn bán,  quan hệ với nước ngoài ngoại trừ hệ thống triều cống được quy định cẩn thận. Trong phong tục này, ông ta đã đòi hỏi khắt khe hơn, hiếu chiến hơn và nhiều tham vọng hơn cha ông trong việc can thiệp và đe dọa một khi mọi người (cả các nhà thám hiểm Trung Quốc hay các ông vua nước ngoài) không làm những gì ông ta mong đợi. Tình trạng giao tranh có lẽ là kết quả của sự thiếu tự tin của ông ta đối với các nước lân bang của triều đình do ông là một kẻ tiếm quyền vẫn mang trong mình mặc cảm. Nó cũng có thể đến từ thái độ ưa dùng bạo lực của ông. Ông là một người lính vĩ đại và tin rằng nhiều vấn đề có thể được giải quyết bằng quân sự. Mối quan hệ của ông với Việt Nam minh chứng rất tốt điều này. Khi vua mới của Việt Nam, người đã thất bại trong việc tìm kiếm sự công nhận từ cháu của hoàng đế Vĩnh Lạc năm 1400, tiếp tục cầu phong và muốn được công nhận như là người thừa kế hợp pháp của nhà Trần, hoàng đế đã đáp lại bằng lời quở trách. Cha ông ta đã không bằng lòng với hàng loạt các cuộc tiếm quyền xảy ra từ năm 1370, không một ông vua nào kể từ đó đáp ứng được các yêu cầu của viên chức nhà Minh về tính hợp pháp của họ.

Việt Nam

Hoàng đế Vĩnh Lạc (Yung-lo) theo sau chính sách của cha mình trong việc tìm kiếm xác nhận tính hợp pháp của vua Việt Nam. Khi viên chức của ông ta quả quyết với ông ta rằng ông vua đó là họ hàng của nhà Trần, người đã được chọn để làm vua mới, ông đã bằng lòng công nhận ông ta là “vua” của An-nam. Sau đó một vài tháng, ông vô cùng tức giận khi biết rằng người đàn ông đó thực ra là một kẻ tiếm ngôi và phạm tội giết vua. Điều tương tự đã xảy ra 30 năm trước đó khi cha ông ta bị đánh lừa và bị điều khiển trong mối quan tâm tới chính trị triều đình Việt Nam. Hoàng đế Vĩnh Lạc cũng khăng khăng xác minh lại sự đòi hỏi của vua mới ở Việt Nam và lại bị lừa lần nữa. Hậu duệ duy nhất của dòng dõi nhà Trần được tìm thấy và được đưa trở về Việt Nam để làm vua nhưng bị giết chết trên đường tới Việt Nam. Hoàng đế Vĩnh Lạc trước đó  đã thề ủng hộ nhà Trần đã mất. Sự xúc phạm gây ra bởi kẻ phản bội tiếm quyền ở Việt Nam đối với ông là quá lớn đến độ ngay lập tức ông ra lệnh tiến hành một cuộc tổng tiến công xâm lược Việt Nam. Ông hoàn toàn nhận thức được rằng Việt Nam nằm trong danh sách những nước “không bao giờ bị xâm lược” của cha ông ta nhưng ông ta tin rằng sự khiêu khích nói trên đã đủ để vượt ra khỏi Huấn từ của tổ tiên (Ancestral Injunctions). Đơn giản là kẻ tiếm quyền không thể không bị trừng phạt. Có lẽ ông ta cũng nhận thức được rằng vẫn có những câu hỏi về tính hợp pháp về chính ngôi vị của ông ta. Chắc chắn ông ta không thể cho phép sự việc đó nói lên rằng ông ta không đủ mạnh để ủng hộ vương triều hợp pháp.

Một đội quân viễn chinh lớn bao gồm các đơn vị từ hơn 10 tỉnh được phái tới Việt Nam. Cuộc viễn chinh này có thể so sánh với những đội quân do bố hoàng đế Vĩnh Lạc phái tới Vân Nam 25 năm trước. Đội quân chính  băng qua Quảng Tây, một đội quân xuôi xuống sông Hồng từ Vân Nam và những đơn vị khác  được phái đi bằng đường biển. Những thành công ban đầu của chiến dịch đã đến rất nhanh. Sự khác biệt chủ yếu giữa sự xâm chiếm Vân Nam và chiến dịch này là việc Việt Nam trong khoảng thời gian này đã trở thành một nhà nước tương đối thống nhất với hệ thống quản lý phức tạp dựa trên mô hình Trung Quốc. Việt Nam có bản sắc văn hóa khác biệt và nguồn lực để chống lại sự sáp nhập vào đế chế Trung Hoa15.

Sự tương đồng ở bề mặt bên ngoài giữa Việt Nam và Trung Quốc đã khiến cho hoàng đế đưa ra một quyết định đầy rủi ro.  Không chấp nhận việc lật đổ kẻ tiếm quyền, ông ta quyết định rằng Việt Nam có đủ điều kiện thích hợp để được Trung Quốc công nhận như là một tỉnh của Trung Quốc. Nhà Trần đã không có nguyên đơn hợp pháp và hoàng đế Trung Hoa nghĩ ông ta có thể thiết lập chủ quyền lãnh thổ lịch sử dựa trên nền tảng đường biên giới được tạo ra dưới triều Hán cách đó  gần 1500 năm trước. Do vậy ông ta đã đi đến quyết định định mệnh là tiêu diệt vương quốc này và quản lý nó từ trung tâm Nam Kinh.

Một lý do khác đằng sau chính sách này là việc Việt Nam tuyên bố rằng họ là đế chế ngang bằng với Minh. Khi kinh đô của Việt Nam bị chiếm và các tư liệu, sổ sách của “hoàng đế” Việt Nam được tìm thấy, chúng đã được lấy đi như là bằng chứng chi tiết về sự ngạo mạn và sự ăn ở hai lòng của Việt Nam. Trong khi hoàng đế Vĩnh Lạc hài lòng vì tin rằng người Việt Nam đã quen với sự cai trị kiểu hoàng đế Trung Quốc, ông ta đã sai lầm khi nhận ra rằng những giả định văn hóa của ông đã bị đối chọi bởi thứ giống như là chủ nghĩa dân tộc về văn hóa. Thực tế việc diễn đạt chủ nghĩa dân tộc này bằng các khái niệm văn hóa Trung Hoa đã gây ra nhiều ngộ nhận lầm lạc.

Chiến tranh ở Việt Nam đã thất bại sau 20 năm chiến trận và chiếm đóng.  Sự thành công đáng kinh ngạc của sách lược chiến tranh du kích của Lê Lợi đã hoàn toàn thuộc về lịch sử  Trung Quốc và Việt Nam và chúng ta không cần phải quan tâm chi tiết ở đây16. Những gì liên quan là sự thất bại của Trung Quốc ở Việt Nam có ý nghĩa như thế nào đối với mối quan hệ của nó với các nước khác ở Đông Nam Á. Hai quốc gia lân bang của Việt Nam đã bị lôi kéo vào cuộc chiến. Champa, kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam và là một đồng minh trung thành của Trung Quốc vốn dựa vào Trung Quốc để nắm giữ phía sau Việt Nam,  đã nhận ra rằng việc có Minh-Trung Quốc như một láng giềng thậm chí còn khó chịu hơn nhiều so với việc có một vương quốc người Việt nhỏ hơn làm hàng xóm. Các vua Chăm bị ép gửi quân đội và cung cấp lương thực ủng hộ sự chiếm đóng của quân Minh nhưng họ sớm nhận ra rằng các viên chức Minh khăng khăng đưa ra những đòi hỏi với Việt Nam cũng  giống như những gì họ đưa ra với Champa. Một khi Minh chiếm được lãnh thổ thì Champa sẽ không có đường lui.

Điều ấn tượng hơn nữa là kết quả cuối cùng của chiến tranh. Trước khi hoàng đế Vĩnh Lạc ra lệnh xâm lược Việt Nam, nhà chức trách Trung Quốc được hậu thuẫn bởi một lực lượng quân đội lớn, điều mà người Việt không hề mong muốn. Sự nhắc nhở từ hoàng đế nhà Minh là  một sự ngăn chặn hữu ích.  Nhưng sau khi chiến tranh trở nên tồi tệ sau những chiến thắng ban đầu và khi quân đội Minh liên tiếp thất bại trong việc tiêu diệt “quân phiến loạn” người Việt, nhà chức trách Trung Quốc đã mất đi lực lượng ngăn chặn của mình. Champa đã rơi vào thế cùng bởi ba diễn biến: sự tức giận của chính họ đối với sự tham lam của binh lính và viên chức Trung Quốc, sự kính trọng dành cho cuộc kháng chiến của Lê Lợi ngày càng tăng và cuối cùng là sự báo động về thất bại của Trung Quốc và sự trỗi dậy của quốc gia Việt Nam thống nhất và hùng mạnh hơn. Kết quả cuối cùng, sự suy yếu của nhà chức trách Minh ở Việt Nam trong việc duy trì vương triều đã đóng dấu chấm hết cho số phận của Champa. Những nỗ lực của Champa để duy trì tình trạng khi trước, khi nó có sức mạnh ngang bằng Việt Nam, thật là bất hạnh và không có một ai ở triều Minh hô hào ngăn chặn Việt Nam khi cơ hội tiêu diệt Champa đến ở thời điểm một vài thập kỉ sau đó17.

Sự xâm lược Việt Nam cũng  đã có ảnh hưởng tới các dân tộc khác ở Đông Nam Á lục địa. Người Chăm, được khuyến khích bởi sự xâm lược và chiếm đóng của Trung Quốc đối với cựu thù của họ là Việt Nam, đã tấn công Cam-pu-chia. Cam-pu-chia trong cùng một thời gian đã bị đe dọa từ hai mặt bởi vì Ayuthia (Xiêm) ở phía tây cũng  tiếp tục mở rộng bằng vũ lực. Và duy nhất trong thời gian dưới triều Minh, Cam-pu-chia đã thành công trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ của Trung Quốc để ngăn chặn người Chăm. Nhưng sau khi người Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, chính Việt Nam chứ không phải Trung Quốc đã ngăn chặn và cuối cùng tiêu diệt Champa.

Thú vị hơn là vai trò của Lào trong thời gian Minh chiếm đóng Việt Nam. Nó là một trong số rất nhiều các công quốc Shan-Lao-Tai tương tự ở phía nam Vân Nam và vua của nó là viên khâm sai bình định trung thành, người đã được hoàng đế Vĩnh Lạc xác nhận vị trí. Lào đã nổi lên như là kết quả của những cố gắng của người Khmer duy trì các  tù trưởng Thái trong chia rẽ để ngăn chặn sự bành trướng của Ayuthia. Chính sách của Minh, do nhiều lý do khác nhau, đã hậu thuẫn sự vỡ ra từng mảnh dọc theo biên giới tây nam của đế chế và triều Minh đã công nhận Lào trong cách thức tương tự mà nó đã làm để công nhận Ch’e-li (Sibsong Banna), Pa-pai (Chiengmai), Lu-ch’uan (the Maw Shans) và nhiều công quốc khác.

Lào chấp nhận sống sót thông qua ngoại giao, đối phó với Cam-pu-chia ở phía Nam, Việt Nam ở phía tây và Trung Quốc ở xa và xa hơn là các liên minh bộ lạc thiểu số ở phía bắc. Nhưng khi Việt Nam nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc, vị trí của Lào trở nên thiếu an toàn. Lực lượng người Việt bị đánh bại do không muốn trốn xuống phía Nam để tìm kiếm sự giúp đỡ từ kẻ thù truyền kiếp ở Champa nên đã sơ tán sang Lào. Vua ở Lào chưa hề chuẩn bị cho việc đứng về phe nào trong cuộc chiến. Ông ta không hề mong muốn có hàng xóm là nhà Minh và có lẽ đã thông cảm với lòng căm thù lan rộng của người Việt nhắm vào sự cai trị của Trung Quốc. Đồng thời ông ta cũng không muốn chọc giận triều Minh. Do đó khi bị yêu cầu không được giúp đỡ người Việt, ông ta đã ngăn cản “những kẻ phiến loạn” người Việt biến Lào thành căn cứ kháng Minh nhưng có lẽ ông ta cũng thấy trước được rằng quốc gia của ông ta sẽ phải sống lâu dài với người Việt vì thế mà ông ta đã không thức dậy lòng căm thù của người Việt đối với Lào.

Tất cả các nhà nước có đường biên giới với Vân Nam đều cảm thấy ảnh hưởng của cuộc xâm lược Việt Nam. Tỉnh này cung cấp một lực lượng quân đội lớn cho chiến dịch, không chỉ cho cuộc xâm lược ban đầu mà còn cho các cố gắng tiêu diệt cuộc kháng chiến của người Việt. Khoảng năm 1428, cuộc phản công của người Việt ngược sông  Hồng tới biên giới Vân Nam đã chỉ rõ hạn chế của sức mạnh Trung Quốc ở đông nam Vân Nam. Một số lượng nhỏ các thành viên bộ lạc trong vùng đó  khiếp hãi bởi cả hai lực lượng và đã qui phục bất cứ ai mạnh hơn trong vùng lân cận của họ. Nhưng cả hai công quốc lớn (Lào và Sibsong Banna) vốn có chung đường biên giới với những người giữ vai chính tác động tới tương lai của họ giữa những quyền lực và đặc biệt quan tâm tới việc duy trì quyền lực của mình. Chắc chắc chừng nào hoàng đế Vĩnh Lạc còn tại vị và bày tỏ mong muốn dùng sức mạnh thì tất cả các nhà nước lân bang ở Vân Nam nhận ra rằng họ cần phải sáng suốt để duy trì nền hòa bình của mình.

Tất nhiên hoàng đế Vĩnh Lạc không hoàn toàn dựa vào sự đe dọa và lực lượng quân đội. Ông ta đã tiếp tục một cách có hệ thống chính sách của người tiền nhiệm trong việc làm  tan vỡ những nhà nước có khả năng hùng mạnh ở phía tây nam và  chỉ định ít nhất là 5 khâm sai bình định, chủ yếu là để bẻ gãy sức mạnh của Maw Shans ở Lu-chuan và kiểm soát sự lớn mạnh trong tương lai của quyền lực người Miến. Và ông ta đã theo đuổi hai chính sách khác nhau đối với Aythia (Xiêm): trên biển, ông ta kiềm chế sự bành trướng xuống phía nam tới bán đảo Malay rồi Malacca; tuy nhiên trên bộ ông ta không phản đối các hành động quân sự hướng tới phía bắc đánh các nhà nước người Miến, Cam-pu-chia và Shan-Lao-Tai. Tóm lại cuộc xâm lược Việt Nam cảnh báo tất cả các nhà nước tiếp giáp với biên giới phía nam nhà Minh Trung Quốc rằng Trung Quốc đã sẵn sàng sử dụng vũ lực. Nhưng có lẽ quan trọng hơn về lâu dài, nó chỉ ra rằng Trung Quốc không có mong muốn hay không có khả năng chiếm đóng và duy trì lãnh thổ phía nam. Sự thất bại của Trung Quốc ở Việt Nam và kĩ năng ngoại giao của nhà Lê đã ngăn chặn Trung Quốc và đó là bài học dành cho tất cả các nước khác ở Đông Nam Á lục địa. Trường hợp của Việt Nam chứng minh rằng Việt Nam có khả năng làm hài lòng sự tự tôn của người Trung Quốc trong khi vẫn duy trì được độc lập về chính trị.

Nguyễn Quốc Vương dịch


15 Wang Gungwu, “China and Southeast Asia,  1402-1424”, trong Jerome Chen  và Nicolas Tarling, Studies in the Social History of China and Southeast Asia: essays in Memory of Victor Purcell (Cambridge, 1970), trang 381-383; Wang Gungwu, “Chang Fu” và “Huang Fu” trong DMB, trang 64-67, 653-656. Đồng thời xem thêm C.P FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People (New York, 1972), về sự bàn luận sâu hơn đối với bản sắc dân tộc Việt Nam trong sự đối sánh với các dân tộc của Nanchao và Đại Lí ở Vân Nam.

 

16 Xem John K. Whitmore, Vietnam, Hồ Quý Ly and the Ming (1371-1421) (New Heaven, 1985) và  The Cambridge History of China, Vol.7. part I, trang 229-31, 289-91.

 

17 Về lịch sử Champa, xem G.Maspero, Le Royaume de Champa (Paris, 1928), đồng thời xem MS, 324, trang 8383-8339.


Cũ hơn Mới hơn