Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa(1)




Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

1. Giáo dục quốc dân và toàn cầu hóa

 Khi chúng ta học lịch sử bằng sách SGK ở trường học thì  lịch sử đó được truyền đạt tới người học với tư cách là một trong những “sự thật”. Tri thức được đem đến cho chúng ta là thứ về “điều đã xảy ra” và thêm nữa nó đã được tinh lọc và hệ thống hóa nhằm giúp cho người học nắm được dòng chảy một loạt những điều ấy. Vì vậy, lịch sử đối với các cá nhân trở thành thứ được nắm bắt với tư cách là vật có tính xác định và nằm ở bên ngoài. Tuy nhiên, khi bản thân nhìn vào SGK không thuộc thời kì mình là người học thì có thể sẽ nhận ra rằng ấn tượng về “sự thật” được đưa ra thật khác biệt. Bản thân SGK là sản phẩm mang tính xã hội do đó thông tin và cách kể nhằm truyền đạt lịch sử thường bị giới hạn bởi thời đại.

Mục đích của chương này là vừa xem xét sức mạnh có tính xã hội tác động đến SGK vừa  phân tích sự biến đổi về lý luận thống nhất dân tộc từ sự biến đổi của nội dung và cách kể của SGK lịch sử nửa sau thế kỉ XX. Đặc biệt, xác định trọng tâm là ảnh hưởng của toàn cầu hóa tới kiểu giáo dục lịch sử và so sánh trường hợp của Nhật Bản và Mĩ. Bằng việc này, sẽ không chỉ lấy ra các ví dụ cá biệt một cách đơn giản mà sẽ chỉ ra kết quả của toàn cầu hóa đối với xã hội hiện đại. Tức là chủ đề của chương sẽ là bàn luận về ảnh hưởng mà toàn cầu hóa tác động đến lô-gic thống nhất quốc dân được biểu hiện trong SGK.

Khi tiến hành xem xét điều này, chúng tôi muốn tham khảo lý luận của Benedict Anderson lý giải rằng “dân tộc”  là “cộng đồng tưởng tượng”.

Theo lý luận của  Anderson thì sự tập hợp con người là “dân tộc” không phải là hiện tượng bất biến trong lịch sử nhân loại mà là hiện tượng có khả năng thay đổi tùy theo phương tiện văn hóa hiện đại phong phú. Những người vốn  cách biệt nhau với khoảng cách không ngờ tới và thuộc về các tập đoàn khác nhau nhưng thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại như các xuất bản phẩm, báo chí mà lần đầu tiên cùng sở hữu quan niệm “cùng dân tộc”. Và quan niệm này nhờ vào hệ thống trường học và tính giai cấp tạo nên cơ cấu lý giải lịch sử của mọi người mà trở thành thứ mang tính dân tộc. Cho dẫu vậy tùy theo SGK mang tính một chiều và các giáo tài khác mà mọi người có nhận thức chung về việc lý giải những thông tin nào với tư cách là lịch sử, và hệ thống hóa chúng như thế nào, thêm nữa bằng việc chương trình được quy định theo lứa tuổi mà nhận thức chung về lịch sử đã trở nên chặt chẽ ở phạm vi rộng. Và vì vậy, từng cá nhân có suy nghĩ về lịch sử dân tộc mình khác với các dân tộc khác và biên giới hay chủ quyền đã tiếp tục trở thành nền tảng. Sự tập hợp  có tên “dân tộc” là sự thực thi trong thực tế với tư cách là kết quả của tác dụng tương hỗ giữa các cá nhân như trên.

Do vậy,  giáo dục lịch sử trong trường học hiện dại về cơ bản nó có tính chất là giáo dục lịch sử dân tộc truyền đạt lô-gic nhằm thống nhất dân tộc nhưng sự tồn tại của dân tộc với tư cách là sản phẩm của tính hiện đại lại được quyết định bởi mối quan hệ với môi trường.

Như Anderson đã chỉ ra “Việc biến sự tưởng tượng về cộng đồng này thành khả năng là  tác dụng qua lại giữa  tính tất yếu và sự ngẫu nhiên nhưng bộc phát của   lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (tư bản chủ nghĩa), kĩ thuật thông tin liên lạc (in ấn, xuất bản), sự đa dạng ngôn ngữ. ..” . Vì vậy ví dụ như có sự biến đổi kĩ thuật thông tin liên lạc có khả năng sử dụng thì có thể đoán được sự thay đổi ở gốc rễ của tính thống nhất của dân tộc.

Công việc xem xét trong chương này nằm ở ý nghĩa của việc bàn luận về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với  lô-gic thống nhất dân tộc được thể hiện trong SGK lịch sử. Trong thời đại gọi là hiện đại,  có thể thấy rõ sự tiến triển nhanh chóng, phân nhánh và đa dạng hóa  của các phương tiện giao thông, vận chuyển liên lạc đặc biệt từ nửa sau thế kỉ XX trở đi quan  niệm xã hội về con người và hoạt động xã hội đã vượt qua biên giới quốc gia và lan rộng. Quả thật ở phương diện “lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, kĩ thuật thông tin liên lạc”, môi trường khác với thời kì tạo nên nguyên lý dân tộc đã ra đời và trong chương này sẽ nắm bắt tình hình lý luận của sự thống nhất dưới môi trường đó.

Thêm nữa từ sự xác định vấn đề như trên, sẽ đưa ra sự di động vượt biên giới và hoạt động truyền thông sẽ được đưa ra như là ví dụ chủ yếu và cụ thể về hiện tượng “toàn cầu hóa”. Giống như Jan Aart đã nói, với tư cách là đặc điểm của “toàn cầu hóa”, cần phải nắm vững sự “phi lĩnh vực hóa” (deterritorialization). Các thuật ngữ như “quốc tế hóa”, “tự do hóa”, “phổ thông hóa”, “Tây Âu hóa” thực tế là sự tồn tại của “toàn cầu hóa” trong cuộc sống hàng ngày nhưng trong các lĩnh vực khác cũng có thể được biểu hiện như quan hiện về tính xã hội của con người và các hoạt động xã hội là những động thái vượt ra ngoài giới hạn của tài nguyên địa lý. Trong chương này sẽ lý giải những đặc trưng của sự trần thuật lịch sử trong thời đại toàn cầu hóa từ góc độ nói trên.

(còn tiếp)


Cũ hơn Mới hơn