Quan hệ triều cống Trung-Xiêm (IV)

Các quy định và phong tục tiếp đón sứ giả tại triều đình Xiêm.

Cả phong tục của Ấn Độ và Trung Hoa đều có ảnh hưởng tới sự ra đời và phát triển của các lễ nghi của triều đình Xiêm trong đón tiếp sứ giả nước ngoài. Ban đầu, các nghi lễ triều đình bị ảnh hưởng nặng bởi văn minh Ấn Độ. Về sau, sự trao đổi sứ giả giữa Xiêm và Trung Quốc sau thời kì Sukhothai dần dần đã ảnh hưởng đến lề lối và phong cách đón tiếp sứ giả, một thực tế thú vị sẽ được đề cập đến ở phần sau[1].

Ngay khi sứ giả nước ngoài tới cửa sông Cawphraja (Menam), ông ta phải neo thuyền ở đó[2]. Sau đó ông ta phải thông báo cho các quan chức Xiêm về mục đích của mình và chờ đợi câu trả lời từ kinh đô, thứ thường mất nhiều ngày. Nếu đi cùng ông ta có sứ giả của Xiêm trở về từ nước ngoài thì sứ giả Xiêm này sẽ phải thông báo tới vua sự trở về của họ trước sau đó mới tâu lên chuyện sứ giả  nước ngoài[3]. Thêm nữa, họ buộc phải giải giáp tất cả các khẩu đại bác trên tàu và trong vài trường hợp họ còn phải rời bỏ các khẩu súng nhỏ và đạn dược nữa[4].  Biện pháp này nhằm mục đích đảm bảo an ninh của quốc gia.

Sau  khi nhận được sự cho phép từ nhà vua, sứ giả nước ngoài có thể ngược sông lên kinh đô. Tuy nhiên, trên đường tới kinh đô, ông ta phải dừng lại lần nữa tại nhà hải quan đầu tiên (khanqn), được đặt tại nơi mà ngày nay là Bangkok[5]. Ông ta cũng bị yêu cầu phải khai toàn bộ hàng hóa nếu có và danh sách các món quà dành cho vua để kiểm tra. Lá thư của hoàng gia cũng sẽ được dịch. Đồng thời, tại kinh đô Ayuthaya của Xiêm, sự chuẩn bị tiếp đón sứ giả được chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ. Khi mọi thứ sẵn sàng, sứ giả sẽ được phép tiếp tục tiến lên. H.G.Q. Wales miêu tả cách thức đón tiếp của người Xiêm như sau:

Một đoàn thuyền rồng của quốc gia được gửi tới để đón nhận lá thư* và sứ giả. Lá thư của hoàng gia được đặt trong một chiếc đế vàng** và được đặt trên đầu của một người Xiêm như là dấu hiệu của sự kính trọng; sau đó nó được chuyển đi dưới tán lọng hoàng gia tới thuyền rồng có ngai vàng và được lắp vào vật hình tháp chóp. Các sứ giả đi theo sau trên những chiếc thuyền rồng kém lộng lẫy hơn…[6].

 

Thông thường, trong thời kì Ayutthaya sứ giả nước ngoài lên bờ tại cảng sông có tên Pratu Chaj (Khải hoàn môn) nằm đối diện ngay tu viện có tên Phudthajsawan. Chiếc đế đựng lá thư hoàng gia được chuyển tới chiếc xe ngựa hoàng gia; sứ giả ngồi trên kiệu hoặc trên ngựa tùy theo thứ bậc của ông ta[7].

Trong thời gian ông ta ở Xiêm, sứ giả sẽ nhận được những gì tốt nhất mà Xiêm có thể đáp ứng như nhà trọ,  thức ăn, phương tiện đi lại…Chỉ sau khi trình quốc thư lên vua và truyền đạt thông điệp của nhà vua, sứ giả mới được tham gia vào các hoạt động thương mại[8].  Trước khi tiếp kiến hoàng gia, sứ giả bị yêu cầu trình lên quốc thư và trình bày về mục đích của chuyến đi tới Phra Khlang tại dinh thự của ông ta. Cuộc gặp với Phra Khlang diễn ra nhiều lần trước khi sứ giả được phép yết kiến vua. Các cuộc gặp này thường được tổ chức tại dinh thự của Phra Khlang bởi vì  nghi thức không cho phép Phra Khlang gặp sứ giả nước ngoài trước khi có phép của hoàng gia. Tuy nhiên, sứ giả bị nghiêm cấm đi tới bất cứ nơi nào ở kinh đô cho tới  khi tiếp kiến hoàng gia.

Theo N. Gervaise, sự đón tiếp của người Xiêm dành cho lá thư của hoàng gia nước ngoài có hai kiểu khác nhau tùy thuộc vào việc nó được gửi tới bởi chính thể có thứ bậc tương đương hay được gửi tới bởi nước chư hầu.  Các lá thư hoàng gia từ Trung Quốc, Ấn Độ và Ba-tư được tiếp đón với “nghi lễ long trọng hơn nhiều” so với những lá thư đến từ các nước chư hầu. Trong trường hợp thư đến từ các nước chư hầu, Gervaise nói với chúng ta rằng:

… Ông ta (vua Xiêm) đối xử với họ kém trang trọng hơn và mặc dù ông ta không tạo ra lý do gì khiến cho sứ giả phàn nàn, ông ta vẫn làm cho họ cảm thấy sự khác biệt tồn tại giữa vua của Xiêm và những ông vua cử họ tới. Trước khi được ban đặc ân tiếp kiến nhà vua,  họ buộc phải  đặt lá thư lên tay của Barcalon và trình bày với ông ta những vấn đề mà sứ đoàn đã được trao, chúng được kiểm tra và nhà vua đưa ra tuyên bố về các vấn đề đó đồng thời đồng ý tiếp họ hay không. Vào ngày tiếp kiến lá thư, một bản đã được dịch ra tiếng Xiêm, được đưa tới một ngôi nhà nhỏ  xây bên ngoài kinh thành có dạng kim tự tháp. Nó được giữ ở đó cho tới khi nhà vua ủy nhiệm cho vài viên quan lớn chấp thuận nó với sự trang trọng giống như dành cho bản thân nhà vua người đã viết ra nó. Họ cầm lá thư một cách trang trọng dưới chiếc lọng lộng lẫy cắm trên một trong số những chiếc thuyền rồng quốc gia và khi đến cung điện họ trình lá thư lên nhà vua, người sẽ đọc nó và sau đó trả lại cho họ để đặt nó vào văn khố của vương quốc nơi lưu trữ  cẩn thận tất cả các lá thư nhận được từ các ông vua nước ngoài từ trước tới nay. Một chiếc thuyền rồng quốc gia khác đồng thời được phái đi  để đưa sứ giả tới vị vua mà ông ta được phép tiếp kiến. Sứ giả tới đó mà không có tùy tùng nào theo ngoài những người đồng hương đã đi theo ông ta trong chuyến hành trình hoặc những người đã sống ở Xiêm. Nhà vua tiếp đón sứ giả ở một căn phòng bên ngoài cung điện và đôi khi là ở ngoài sân điện nơi gần dinh thự của vua nhất; đối với người Xiêm họ thường có một câu cách ngôn cửa miệng rằng: các ông vua láng giềng không xứng đáng đặt đầu của họ vào nơi vua Xiêm nghỉ chân. Nhưng sứ giả tội nghiệp này bị bắt buộc để chân trần  giống như một công dân thông thường khi ông ta tiến tới cánh cửa đầu tiên của sân triều và tiến lên phía trước một mình để yết kiến theo sự hướng dẫn của một vài viên quan. Ngay khi nhà vua xuất hiện, ông ta chào nhà vua như những người khác với ba lần phủ phục thật sâu và trình bày với Barcalon, thông qua sự phiên dịch của ông ta, mục đích của sứ đoàn và  công việc mà nhà vua giao phó muốn được trình lên vua Xiêm. Barcalon sau đó nhắc lại điều này tới vua Xiêm và nói lại với sứ giả câu trả lời của vua Xiêm. Ngay khi sứ giả nhận được câu trả lời qua miệng Barcalon, ông ta  phủ phục hơn ba lần để cảm ơn nhà vua. Sau đó ông ta được tặng trầu đựng trong cơi bằng vàng, một chiếc áo khoác hay những thứ quý hiếm khác và ông ta sẽ phải từ biệt vua ngay từ lần tiếp kiến đầu tiên bởi vì nó hiếm và trên thực tế nó sẽ trở thành vấn đề rất khó khăn nếu như nhà vua không thể kết thúc nó và điều rất quan trọng là nhà vua sẽ cho phép tiếp kiến lần thứ hai[9].

Trái lại,các sứ giả  mang theo thư hoàng gia từ Trung Quốc, Ấn Độ và Ba-tư, những nơi được coi như có thứ bậc ngang bằng với vua Xiêm lại nhận được sự tiếp đãi rất khác. N. Gervaise miêu tả điều này trong cuốn sách của ông:

Ông ta (vua Xiêm) không đối xử bằng cung cách tương tự  đối với các sứ giả của các hoàng đế đứng ngang hàng với nhà vua. Ngay khi biết được họ đã tới vương quốc, vài chiếc thuyền rồng của quốc gia được phái tới để gặp họ. Họ sẽ tự mình mang thư  tới cung điện và đưa cho Barcalon với sự có mặt của vua để trình nó lên nhà vua. Những con đường dọc theo nơi họ đi qua được xếp hàng bởi những người lính gác có vũ trang và những thớt voi cùng những chiếc lọng lộng lẫy và một số lượng lớn các quan lại mặc những bộ quần áo đẹp nhất có các nô lệ đi theo hầu, họ đi trước các sứ giả và đi cùng với họ đến nơi tiếp kiến. Nhà vua tiếp sứ giả tại cung điện của mình,  ở đó nhà vua tiếp đãi họ rất vương giả và không bao giờ nhà vua tiễn họ khi chưa tặng họ những món quà lộng lẫy – thứ đủ để cho họ hiểu sự tôn kính cao thể hiện bằng sự vĩ đại và tráng lệ…[10]

Thủ tục được dẫn ra ở trên được dùng trong buổi đón tiếp  các sứ giả Pháp Chevallier  de Chaumont và Simon de La Loubere vào cuối thế kỉ 17 dưới triều vua Naraj. Trái lại, sứ giả John Crawfurd của Anh đến Bangkok dưới triều vua Rama II (1809-1824) đã được đón tiếp giống như là sứ giả của nước chư hầu. Trên thực tế lá thư của ông ta thậm chí còn “không được đưa ra trong buổi tiếp kiến và chỉ có bản dịch của nó được đọc và những người phiên dịch thuộc sứ đoàn cũng không được phép làm việc này”[11]. Lý do chính của sự đối xử khác biệt này nằm ở thực tế các lá thư của nước Pháp được gửi tới  từ vua Louis XIV trong khi lá thư mà Crawfurd mang tới là lấy từ Thống đốc Anh ở Ấn Độ.

Ngay khi sứ giả tới sân triều đầu tiên, ông ta phải tháo giày ra. Trước khi bước vào khoảng sân thứ hai, ông ta phải đặt tất cả vũ khí xuống. Luật lệ này không hề được xóa bỏ cho tới triều vua Rama IV khi ông cho phép các viên chức trong sứ đoàn của John Bowring đeo gươm. Tuy nhiên, không có thành viên tùy tùng nào của sứ giả được phép bước vào nơi tiếp kiến.

Theo La Loubere, phòng tiếp kiến tại Ayutthaya được mô phỏng theo mô hình của Trung Quốc*. Nhà vua tiếp sứ giả qua một cửa sổ đối mặt với tòa nhà và cao khoảng 9 feet so với sàn nhà[12].  Với kiểu bố trí như vậy, không ai có thể nhìn thấy vương miện và vào lúc cuối buổi tiếp kiến nó được “kéo kín bởi bàn tay vô hình và cánh cửa đóng lại”[13].  Trong thời kì Bangkok, phòng tiếp kiến là sự mô phỏng phòng tiếp kiến ở Ayutthaya ngoại trừ rèm cửa và vương miện mạ vàng được thêm vào dưới triều vua Rama II[14]. Đối với những sự sắp xếp khác bên trong phòng và nghi thức tại buổi tiếp kiến H.G.Q Wales đã miêu tả như sau:

       Ở mỗi bên cánh cửa tiếp kiến có đặt một chiếc lọng bảy tầng và bên trên nó được xếp thành chín tầng bậc. Các viên quan của Xiêm được sắp xếp nghiêm ngặt trong phòng tiếp kiến sao cho phù hợp với thứ bậc của họ, người gần nhất cách cửa sổ khoảng 20 bước chân và tất nhiên tất cả bọn họ đều quỳ phủ phục trong suốt quá trình tiếp kiến. Những sứ giả, trong thế kỉ 17 những nhà truyền giáo người Pháp – những người cũng được phép có mặt để đóng vai trò như là những người phiên dịch, được bố trí vào bất cứ nơi nào mà nhà vua nghĩ là thích hợp với thứ bậc của họ và họ được phép ngồi hoặc đứng tùy theo sự  nới lỏng của luật lệ mà nhà vua đã bị thuyết phục để cho phép nhưng phải ở  vị trí đặc biệt để giữ chân và phần dưới thân thể họ dấu kín. Khi nhà vua xuất hiện, tất cả bày tỏ sự tôn kính bằng việc chắp tay và cúi đầu ba lần cho tới khi trán chạm đất nhưng cử chỉ cúi đầu này không nhất thiết phải áp dụng cho người châu Âu. Sự chào hỏi tương tự cũng sẽ kết thúc thủ tục này[15].

Tài liệu của La Loubere miêu tả sự sắp xếp phòng tiếp kiến khá thú vị. Ông đã phác thảo sơ đồ của căn phòng và giải thích chi tiết*. Ông viết:

 A. Ba bậc thang** được đặt dưới cửa sổ nơi vua Xiêm có mặt giúp nâng tôi đủ cao để đưa lá thư của vua tới tay ông ta.

B. Có ba chiếc lọng

C. Có hai cầu thang dẫn vào cung điện nơi vua Xiêm ngự.

D. Có hai chiếc bàn phủ thảm thêu, trên đó có đặt quà tặng của vua.

E. Con trai của ông Ceberet đứng và cầm lá thư của nhà vua đựng trong một chiếc đế bằng vàng ba tầng.

F. có hai chiếc bàn vuông nhỏ và ghế thấp, mỗi chiếc đều được phủ thảm để cho sứ giả ngồi. Monsieur de Chaumont có một chiếc như thế.

G. Giám mục xứ Metellopolis là Apostolick Vicar ngồi bắt chéo chân.

H. Monsieur Constance phủ phục ở phía tay phải tôi ở phía sau để làm người phiên dịch cho tôi.

I. Cha Tachart ngồi bắt chéo chân.

K. 50 vị quan quỳ phủ phục.

L. Các quý ông người Pháp đều ngồi bắt chéo chân.

M. Có một đôi cầu thang nhỏ làm bằng gạch dẫn lên phòng tiếp kiến.

N. Hai cầu thang này được cố định vào bức tường[16].

Một cuộc tiếp kiến hoàng gia thường ngắn và trang trọng. Trước tiên, một viên thư lại quỳ phủ phục sẽ đọc danh sách các món quà tặng của vương triều nước ngoài dâng lên vua. Một vài món nhỏ được đặt lên chiếc bàn trước cửa sổ (xem hình vẽ trang 35.D). Sau đó đến màn trình lên lá thư đã được miêu tả. Phra Khlang đọc bản dịch lá thư cho vua nghe, sau đó sự trao đổi sẽ diễn ra qua phiên dịch. Thông thường nhà vua sẽ hỏi sứ giả những câu hỏi sau:

Vua và hoàng gia có khỏe không? Sứ giả đã có một chuyến đi thú vị hay không? Chuyến đi kéo dài bao lâu? Sứ giả có vừa lòng với những trận mưa rào vào mùa mưa ở quốc gia này hay không và dân chúng có giàu có hay không?[17].

Nhà vua sau đó sẽ yêu cầu sứ giả trả lời qua Phra Khlang. Câu trả lời phải ngắn gọn vì câu trả lời mà càng dài thì sứ giả càng ít nhận được sự trọng vọng. Lý do ông ta chỉ là người đưa tin vì thế không nên nói những điều không được hỏi. Sau câu trả lời của sứ giả, nhà vua tặng ông ta một món quà nhỏ là cơi trầu[18]. Trong thời gian sứ giả ở kinh đô, người  ta mong đợi sứ giả mặc trang phục kiểu Thái, một sự đòi hỏi có lẽ chịu ảnh hưởng từ phong tục Trung Hoa, vì vậy một tấm vải Thái và một chiếc ô được cấp cho sứ giả. Buổi tiếp kiến kết thúc bằng ba lần quỳ lạy và sau đó nhà vua rút lui vào trong phòng riêng của mình. Về sau, có thể có nhiều cuộc gặp riêng và không trang trọng được dành cho sứ giả và sứ giả được dẫn đi thưởng ngoạn cảnh đẹp xung quanh kinh thành. Cuối cùng, một buổi tiếp kiến trang trọng của hoàng gia sẽ được tiến hành nhằm đánh dấu sự kết thúc tất cả các công việc của cả hai bên. Sau buổi tiếp kiến cuối cùng này sứ giả lại bị đặt trong sự cách ly nghiêm ngặt và người ta mong sứ giả lên đường càng sớm càng tốt[19].

Từ tất cả các quy định, thủ tục của nghi thức ngoại giao người Xiêm nói trên, kết luận chung có thể rút ra là tất cả chúng ban đầu là nhắm tới phục vụ mối quan hệ với Ấn Độ và Trung Quốc bao gồm cả những quốc gia lân bang chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, Trung Quốc hoặc là cả hai. Về phần mình, các sứ giả châu Âu nhận thấy rằng phong tục của Xiêm rất khó hiểu và  rắc rối giống như các quốc gia khác ở phương Đông.  Họ cảm thấy bực mình vì sự buồn tẻ và thiếu vắng sự giao tiếp. Cũng cần phải nói thêm rằng vua Xiêm cũng giống như các vương triều phương Đông khác coi việc đón tiếp sứ giả nước ngoài như một sự danh giá lớn. Càng tiếp đón nhiều sứ giả nước ngoài, vương triều càng có uy tín lớn. Tuy nhiên đối với việc gửi sứ giả ra nước ngoài thì Xiêm lại cố gắng hạn chế ở mức ít nhất có thể. Do đó, số lượng sứ giả  của Xiêm được nước ngoài đón tiếp ít nhiều phản ánh mức độ mối quan hệ của nước đó với Xiêm.

Sự diễn giải mối quan hệ của Xiêm với Trung Quốc.

Hiểu được bản chất thực sự của các sứ đoàn triều cống Trung Quốc từ nhiều quốc gia không phải là chuyện dễ dàng do sự thiếu vắng thông tin. Một số tư liệu ngắn ngủi về các sứ đoàn này được ghi lại trong lịch sử các vương triều Trung Quốc thường không đầy đủ và không đáp ứng được mong đợi. Xuất phát từ thực tế rằng Trung Quốc luôn tuyên bố tất cả các sứ giả từ nước ngoài đều là những người thực thi triều cống, chúng ta cần thiết phải nghiên cứu mục đích chính của các sứ đoàn này. Xiêm, nơi bị Trung Quốc xếp vào hạng các nước chư hầu sẽ cho chúng ta một “case study” thú vị. Bất chấp thực tế rằng Xiêm gửi sứ giả tới Trung Quốc một cách đều đặn, Xiêm luôn phủ nhận lời tuyên bố về cương vị chúa tể của Trung Quốc. Cần phải ghi nhớ rằng ở Đông Á những ông vua có quyền lực hơn thường có xu hướng tuyên bố sự phụ thuộc của các ông vua nhỏ hơn, thậm chí cả trong trường hợp các ông vua lớn này không hề kiểm soát hay có thẩm quyền gì đối với các nước nhỏ hơn. Sự tuyên bố của Trung Quốc đối với Xiêm là theo mô hình này. Các sử gia, những người có sự quan tâm về mặt giả thuyết chịu ảnh hưởng bởi sự nhấn mạnh truyền thống về vai trò nổi trội của Trung Quốc ở châu Á đã chia sẻ ý kiến rằng Xiêm là nhà nước triều cống Trung Quốc. Họ đã không mấy cố gắng, nếu có, để tìm ra quan điểm của Xiêm về mối quan hệ này. Quá nhấn mạnh về một phía của câu chuyện có thể sẽ dẫn tới lầm lạc hoặc ít nhất cũng đem lại cho người đọc một sự miêu tả thiên lệch. Việc kết luận các món quà gửi tới Trung Quốc là “triều cống” và các sứ giả là “người triều cống” là quá dễ dãi bởi vì thậm chí tư tưởng của Trung Quốc về hệ thống triều cống theo lời của John K. Fairbank là “không chính xác như những gì nó có”[20]. Bản thân hệ thống này có liên quan đến cả ngoại giao và thương mại quốc tế, thứ được tiến hành trong cùng một cái khung. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Xiêm chắc chắn chưa được định nghĩa rõ ràng. Nó cũng nhập nhằng như bản chất của các sứ đoàn đến từ các nước khác. Việc phân biệt và phân ly động cơ kinh tế khỏi động cơ chính trị là điều không thể. Ở bất cứ tỉ lệ nào thật dễ dàng để rút ra kết luận rằng các sứ giả được gửi tới Trung Quốc đều mang theo hai mục đích là kinh tế và chính trị. Và tất nhiên những sứ giả  xuất phát từ Xiêm cũng không phải là ngoại lệ. Câu hỏi còn lại là quyết định gửi sứ giả đi của Xiêm  với những món quà thích hợp cho dù được phía Trung Quốc diễn dịch là triều cống để đổi lại những lợi ích về kinh tế và chính trị có phải là sự chuyển đổi từ một nước độc lập sang một nước phụ thuộc hay không. Do đó cần thiết phải đưa ra và thảo luận một vài tư liệu tiếng Xiêm – thứ có thể soi rọi đặc điểm đích thực của mối quan hệ Trung-Xiêm.

Xuyên suốt các tư liệu lịch sử tiếng Xiêm, sự tuyên bố của Trung Quốc về quyền bá chủ đối với Xiêm chưa bao giờ được đề cập một cách nghiêm túc. Tuy nhiên, chúng ta biết được từ nguồn tương tự rằng các sứ giả  được gửi tương đối đều đặn tới Trung Quốc. Những sứ đoàn này, trong quan điểm của Xiêm, nhằm mục đích lấy lòng Trung Quốc và do đó tạo ra các phương tiện phục vụ buôn bán đặc biệt là đối với những món đem lại lợi nhuận.

Mặc dù chúng ta không tìm thấy nhiều bằng chứng tiếng Xiêm, thứ có thể bị phá hủy khi Ayutthaya sụp đổ bởi người Miến Điện vào năm 1767, việc quan tâm tới sự diễn giải của Xiêm trong mối quan hệ của nó với Trung Quốc trong thời kì Sukhothai và Ayutthaya lại cho chúng ta khả năng tái cấu trúc lại quan điểm của Xiêm từ các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao diễn ra giữa hai quốc gia trong thời gian đó. Thêm nữa, cả nguồn tư liệu tiếng Trung ghi chép về các sứ giả  Xiêm và biên niên sử tiếng Xiêm sẽ cung cấp đủ thông tin cho chúng ta trong việc khám phá động cơ của Xiêm trong việc phái sứ giả tới Trung Quốc. Đối với thời kì Bangkok nguồn tư liệu tiếng Xiêm về vấn đề này có đầy đủ hơn.

Có đầy đủ bằng chứng để nói rằng vương quốc Sukhothai và Ayutthaya không coi việc gửi các sứ đoàn tới Trung Quốc như là biểu tượng của nhà nước chư hầu. Luận cứ này được củng cố bởi thực tế rằng Trung Quốc chưa bao giờ tấn công Xiêm bằng quân sự. Mặc dù Trung Quốc đã thể hiện sự đe dọa bằng quân sự vào đầu thời Sukhothai khi quân đội Khubilai đang tiến hành chiến dịch tại Miến Điện và Annam, nó không thể hiện chút tham vọng nào trong việc xâm lược Sukhothai. Trong sự vắng mặt của mối nguy cơ về quân sự thực sự từ Trung Quốc, thứ có mặt trong trường hợp của Miến Điện (Burma), Annam, Triều Tiên,  tại sao Xiêm lại tự coi mình như là một nước chư hầu của Trung Quốc? Sứ giả Sukhothai đầu tiên được gửi đến triều Nguyên bởi vua Rama Khamhaeng vào năm 1292 được bố trí chủ yếu để nghe ngóng động thái của Khubilai đối với Sukhothai[21]. Khi nó trở nên rõ ràng hơn rằng Khubilai không có ý định tấn công Khukhothai, Rama Khamhaeng tiếp tục chính sách bành trướng xuống phía nam. Mối quan hệ của Sukhothai với nhà Nguyên Trung Quốc do đó là mối quan hệ ngoại giao. Từ thời gian này về sau, Xiêm không hề có một khoảnh khắc nào phải lo sợ về sự xâm lấn bằng quân sự từ phía Trung Quốc. Một nhân tố giúp Xiêm tránh khỏi sự đe dọa của Trung Quốc là lợi thế về địa lý. Không giống như Miến Điện, Annam và Triều Tiên, Xiêm không có đường biên giới với Trung Quốc. Do đó Trung Quốc không có lý do gì để lo lắng về Xiêm. Bởi thế, sự hiển diện của đe dọa bằng quân đội thứ trong phần lớn trường hợp nhằm ép buộc các quốc gia nhỏ phục tùng nước lớn không có trong trường hợp của Xiêm và không phải là nhân tố trong mối quan hệ Trung-Xiêm.

Một phần chính quan trọng khác của bằng chứng minh họa sự quả quyết của Xiêm trong sự tự trị của mình là thực tế rằng tất cả những sự giao tiếp với Trung Quốc đều đặt dưới sự phán quyết của Bộ trưởng bộ tài chính-ngân khố: Phra Khlang, người kiểm soát tất cả các chi nhánh ngoại thương. Điều này có nghĩa rằng mối quan hệ với Trung Quốc trong cái nhìn của Xiêm là nhằm mục đích thương mại.

Từ lập trường văn hóa, Xiêm – nơi chịu ảnh hưởng nặng bởi tư tưởng Ấn Độ – đã không chia sẻ những tư tưởng cơ bản của Nho giáo Trung Hoa. Kết quả là Xiêm diễn giải mối quan hệ của mình với Trung Quốc khác với quan điểm Nho giáo[22]. Trong khi Trung Quốc coi sứ giả Xiêm như là biểu tượng của thần phục thì ngược lại Xiêm coi đó là sự viếng thăm lịch sự xã giao để đạt được những đặc quyền về kinh tế.

Trong suốt thời kì Bangkok, nguồn tư liệu về sự diễn giải của Xiêm đối với mối quan hệ của nó với Trung Quốc đầy đủ hơn. Người đầu tiên bảo vệ chủ quyền của Xiêm là vua Mongkut hay Rama IV (1851-1868) của vương triều Cagkri. Ông đã đưa ra hai lí do chủ yếu để bác bỏ sự tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc đối với Xiêm[23]. Trước tiên ông biện luận rằng Xiêm đã duy trì mối quan hệ với Trung Quốc trong nhiều thế kỉ chủ yếu là vì những lợi ích thương mại. Thứ hai, những trở ngại về giao tiếp đã gây ra sự hiểu lầm liên quan đến nội dung của của các bức thông điệp của hoàng gia. Về điểm này vua Mongkut giải thích rằng người Xiêm và người Trung Quốc đều chẳng biết gì về ngôn ngữ của nhau  vì thế phải phụ thuộc vào các thương nhân Trung Quốc những người buôn bán với Xiêm và coi họ – những người chắc chắn đã nhìn nhận mối quan hệ Xiêm – Trung theo quan điểm Khổng giáo như người phiên dịch. Do đó, những người phiên dịch này đã dịch thông điệp của hoàng gia Xiêm bằng cách sử dụng từ Hán như “triều cống” (kung-cống) cho từ “tặng” trong tiếng Xiêm. Thêm nữa, vua Mongkut nghi nghờ rằng những phiên dịch viên người Trung Quốc này cố ý tạo ra ấn tượng rằng sứ đoàn Xiêm tới triều cống Trung Quốc vì thế mà họ được ban các đặc quyền thương mại từ hoàng đế Trung Hoa dựa trên sự cho rằng các sứ đoàn của Xiêm tới Trung Quốc là thể hiện sự phục tùng của Xiêm.

Vua Mongkut đã ngày một quan tâm tới sự tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc. Tin rằng uy tín và chủ quyền của Xiêm phải được tôn trọng, ông đã có một hành động quyết liệt để xóa bỏ sự hiểu lầm này. Việc chấm dứt các sứ đoàn là cách hiệu quả duy nhất để làm mất uy tín sự tuyên bố của Trung Quốc. Kết quả là không có sứ đoàn triều cống nào tới Trung Quốc trong thời gian ông trị vì[24].

Hoàng tử Damrong Rajanubhab, được biết đến rộng rãi như là một sử gia và chính khách Xiêm, đã ủng hộ sự diễn giải và phản ứng của vua Mongkut một cách mạnh mẽ. Ông đã giải thích sâu hơn rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Xiêm  luôn luôn thân thiện và hoàn toàn khác mối quan hệ xuất phát từ Miến Điện và Annam. Trung Quốc đã xâm chiếm cả hai nước này và buộc họ phải triều cống theo lịch trình cố định, một thực tế không được áp dụng cho Xiêm[25]. Trung Quốc chưa bao giờ có xung đột vũ trang với Xiêm và không có sự xâm lược, chiếm đóng của Trung Quốc đối với Xiêm. Thêm nữa, không nên quá coi trọng những sự trình bày trong các tư liệu Trung Quốc bởi vì người Trung Quốc có thói quen coi tất cả các sứ giả  nước ngoài là người mang triều cống tới nhằm phô bày sự ưu việt của nước họ. Các sứ giả Xiêm, giống như các sứ giả  đến từ các quốc gia khác bị lúng túng bởi vì họ không biết tiếng Trung Quốc. Do đó họ không thể biết được thực tế rằng họ đã bị người Trung Quốc lợi dụng. Hoàng tử Damrong dẫn ra một ví dụ để củng cố lý luận của mình. Bên lề thất bại trước quân đội Anh-Pháp năm 1860, các quan chức Trung Quốc làm cho người dân của họ tin rằng những người lính nước ngoài này tới để triều cống và họ đang diễu hành về phía Bắc Kinh. Cú lừa này quá đơn giản,  họ tặng cho đội quân Anh-Pháp một lá cờ trên đó có dòng chữ tiếng Trung có nghĩa “đội quân mang đồ triều cống”. Không nhận ra ý nghĩa của lá cờ, đội quân đã diễu hành sau nó hướng về Bắc Kinh. Phương pháp lừa đảo này tất nhiên đã giữ thể diện cho các quan chức Trung Quốc chỉ trong vài ngày nhưng nó đã thể hiện rõ ràng cảm quan của họ về sự ưu việt.

Mặc dù Xiêm nhận ra bản chất của các sứ giả của mình trong cái nhìn truyền thống của người Trung Quốc, phản ứng của Xiêm lại không dứt khoát. Thực tế các quy định của người Trung Quốc yêu cầu triều cống trước khi ban tặng bất cứ đặc quyền thương mại nào đã làm cho Xiêm không có lựa chọn nào khác. Thương mại hưng thịnh với Trung Quốc quan trọng hơn nhiều so với những gì Trung Quốc tuyên bố xuất phát từ những sứ đoàn của Xiêm[26]. Do đó Xiêm tiếp tục gửi các sứ giả tới Trung Quốc. Quyết định được chứng minh như là một sự thiết thực. Lệnh cấm của nhà Minh đối với ngoại thương đã có ảnh hưởng rất nhỏ tới thương mại Trung-Xiêm bởi  Xiêm được coi như là nước triều cống vì thế vẫn có thể đến buôn bán hàng năm. Sự miễn thuế đã giúp đề cao Xiêm như là một trung tâm thương mại nơi có thể mua hàng hóa Trung Quốc một cách dễ dàng[27]. Quyết định của Xiêm trong việc duy trì mối quan hệ triều cống chủ yếu nhằm đạt được lợi ích thương mại phù hợp với thực tế rằng khi thương mại với Trung Quốc không còn quan trọng nữa, số lượng các sứ đoàn từ Xiêm tới Trung Quốc đã giảm xuống. Vào giữa thế kỉ 19, thương mại Xiêm-Phương Tây dần dần thay thế vị trí của thương mại Trung Quốc trước đó. Kết quả là các sứ đoàn của Xiêm tới Trung Quốc giảm mạnh và cuối cùng tạm dừng dưới triều vua Rama IV[28]. Hoàng tử Damrong cho chúng ta biết rằng từ đó về sau Xiêm đã liên tục lờ đi sự nhắc nhở của các quan chức Quảng Đông yêu cầu triều cống[29]. Vua Chulalongkorn hay Rama V (1868-1910) bực mình vì sự lặp đi lặp lại những lời nhắc này nên đã đưa vấn đề ra bàn thảo tại hội đồng nhà nước. Quyết định sau đó được đưa ra với nội dung không tái khởi động các sứ đoàn theo quan niệm cũ[30]. Hội đồng khuyên nhà vua rằng Trung Quốc phải cho phép sứ giả của Xiêm tới Bắc Kinh qua Thiên Tân nếu họ muốn có các sứ đoàn từ Xiêm tiếp theo. Điều này nhằm nâng cao vị trí của Xiêm trong con mắt Trung Quốc lên cao ngang với các quốc gia phương Tây.  Đúng như dự đoán, Trung Quốc từ chối yêu cầu này. Hoàng tử Damrong cho rằng  việc từ “tặng” được dịch như thế nào đã đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra sự hiểu lầm của các sử gia. Theo truyền thống của Xiêm, quà tặng biểu đạt lòng hữu hảo, tình bạn và được trao tự nguyện. Không có số lượng hay thời gian biểu cố định. Ông coi chiếu chỉ của vua Hồng Vũ cố định ngày tiếp đón sứ giả Xiêm ba năm một lần không phải là một sự nhân từ nhằm làm giảm bớt gánh nặng cho Xiêm mà là một cố gắng nhằm đưa Xiêm vào hệ thống triều cống[31]. Tuy nhiên, Xiêm tiếp tục không để ý đến quy định này và tiếp tục gửi sứ giả đến bất cứ khi nào thích hợp[32].  Sự thường xuyên của các sứ đoàn bị giảm đi khi vua trị vị ốm yếu hoặc tình hình trong nước hay quốc tế gây trở ngại. Một ví dụ tiêu biểu thể hiện Xiêm  không quan tâm tới quy định của Trung Quốc là việc gửi sứ giả tới Trung Quốc dưới triều vua Khang Hi năm 1669. Sau khi họ điều tra danh sách các món đồ do sứ giả Xiêm mang đến, các viên chức tại Quảng Đông nói với người Xiêm rằng thiếu một số vật phẩm theo danh mục quy định và họ phải mang đến vào lần sau.  Phát biểu này về sau đã bị hoàng đế bác bỏ[33].

Một sử gia người Xiêm khác là hoàng tử Narit cho rằng các thương nhân Trung Quốc, những người muốn làm cho hoàng đế hài lòng để có được lợi ích cho bản thân bằng việc thay đổi nội dung các lá thư của hoàng gia phải chịu trách nhiệm cho những diễn giải sai lệch này[34]. Một sử gia người Xiêm nổi tiếng khác là hoàng tử Chakrabongse đã bàn về quan hệ Trung-Xiêm như sau:

Các món triều cống được gửi (từ Xiêm) thực ra  là mưu mẹo để qua được các nghi thức của người Trung Quốc và các giới hạn do nhà chức trách Trung Quốc đặt ra tại các cảng. Bằng chứng nằm ở thực tế rằng bất chấp thứ được gọi là quyền bá chủ Trung Hoa kéo dài từ thời Sukhothai tới năm 1854, Trung Quốc chưa bao giờ can thiệp vào các sự kiện đối  nội hay đối ngoại của Xiêm[35].

Tất cả các tư liệu đã đề cập đều diễn tả cái nhìn của người Xiêm thống nhất trong việc bảo vệ quyền độc lập của mình. Lý luận của họ xứng đáng được thảo luận thêm. Nói chung, các học giả Xiêm tập trung lý lẽ vào sự phiên dịch lá thư hoàng gia, sự chân thực của các tư liệu Trung Quốc, mục đích chính của các sứ giả, sự độc lập trong đối nội, đối ngoại của Xiêm và sự diễn giải của bản thân từ “tặng quà”.

Vương quốc Sukhothai gửi sứ giả đầu tiên với lá thư hoàng gia, có lẽ cũng kèm theo cả bản dịch, tới triều Mongol năm 1292 đáp lại lời kêu gọi thiết lập tình hữu nghị của Khubilai[36]. Trên thực tế, trong tư liệu Trung Quốc, nhà nước Xiêm ở vùng phía Nam tại U-thqng hay Lo-hu đã gửi hai đoàn sứ giả tới Trung Quốc vào năm 1289 và năm 1291[37].

Tuy nhiên do vương quốc U-thqng, tại thời điểm cụ thể này, là nước chư hầu trên danh nghĩa của Sukhothai cho nên sứ đoàn của nó không thể được coi như là đại diện của Xiêm trong thời kì này. Cũng không rõ tại sao Khubilai lại tìm kiếm quan hệ hữu nghị với Sukhothai trong khi cùng vào thời gian đó ông ta thể hiện sự hiếu chiến đối với Miến Điện và Champa. Tuy nhiên dù sao cũng cần phải lưu ý rằng Ho Tsu-chih (Hà Dự Chí) được phái tới Sukhothai với tư cách là sứ giả vào năm 1282[38], chỉ một năm trước khi Khubilai thành công trong chiến dịch đánh Miến Điện năm 1283. Trong thời kì này, vua Rama Khamhaeng của Sukhothai là một trong những vương triều có quyền lực và năng lực nhất ở Đông Nam Á lục địa. Sẽ là hợp lý khi cho rằng Khubilai,  người có quân đội vấp phải sự chống trả ngoan cường của người Miến Điện muốn ngăn ngừa vua Rama Khamhaeng giúp đỡ kẻ địch của ông ta. Mặt khác, vua Rama Khamhaeng  đã mở rộng lãnh thổ Xiêm nhờ vào sự suy yếu của người Khơ-me và sự trung lập của Khubilai. Rõ ràng cả Trung Quốc và Sukhothai đều hưởng lợi từ tình bạn này. Do vậy, cũng là lô-gic khi cho rằng lá thư hoàng gia thứ nhất đi cùng với sứ giả Sukhothai tới Trung Quốc có chứa đựng những phát biểu về tình hữu nghị. Xét về hoàn cảnh tại thời điểm đó, sứ đoàn Sukhothai thứ nhất này đã không  lên đường tới Trung Quốc cho tới năm 1292, 10 năm sau khi Hà Dự Chí tới Sukhothai. Sự trì hoãn này nói  lên rằng sứ đoàn không được coi như là biểu tượng của thần phục xét từ quan điểm của người Xiêm. Hiếm khi Xiêm bày tỏ sự phụ thuộc vào Trung Quốc cho dù  việc hoãn phái sứ giả tới 10 năm sẽ có thể chuốc lấy sự trừng phạt của Trung Quốc giống như trường hợp của Miến Điện và Champa. Quyết định phái sứ giả của Sukhothai có thể được giải thích như một cố gắng nhằm “tìm kiếm sự thỏa hiệp với quyền lực nổi trội bên ngoài ở trong khu vực”[39]. Tuy nhiên, việc thực sự hiểu được chức năng thật sự của sứ đoàn đầu tiên của Xiêm là điều không thể nếu như không so sánh với nội dung của các lá thư hoàng gia Xiêm trong các tư liệu Trung Quốc. Bởi vì không có những bản sao tiếng Xiêm tồn tại, chúng tôi buộc phải dựa vào nguồn tư liệu Trung Quốc. Tuy nhiên sự trình bày trong các tư liệu Trung Quốc lại không đem đến những thông tin phù hợp về sứ đoàn. Chúng thường là những cấu trúc truyền thống diễn tả vị trí ưu việt của Trung Quốc và không nói gì về động cơ của sứ đoàn. Câu hỏi là liệu những phát biểu này của người Trung Quốc có nghiêm túc hay không? Wang Gung-Wu chỉ ra rằng  các bản dịch của những bản tấu trình lên hoàng đế khiến người ta tin rằng sứ đoàn đến không phải là để triều cống. Theo Wang Gung-wu thì những bản dịch này “quá kiểu cách và cổ điển trong giọng điệu như thể chúng dựa trên một vài công thức được vẽ ra từ trước bởi “ban phiên dịch”[40]. Luận cứ này khiến lời tuyên bố của Trung Quốc về Xiêm trở thành điều nghi vấn và chứng minh lý lẽ của Xiêm về chuyện những lá thư hoàng gia đã bị bóp méo về nội dung.

Mặc dù sứ đoàn đầu tiên của Xiêm được thúc đẩy bởi các mục đích chính trị, người Xiêm sớm khám phá ra rằng  những món quà họ tặng hoàng đế Trung Quốc được lại quả bằng những sản phẩm Trung Hoa có giá trị hơn. Dần dần, động cơ chính trong việc phái sứ giả tới Trung Quốc thay đổi từ chính trị sang kinh tế. Các sứ giả Xiêm không chỉ tiếp tục duy trì mà còn tăng thêm về cường độ. Theo John K. Fairbank, lợi nhuận tăng lên trong thương mại đã trực tiếp ảnh hưởng tới việc tăng tiến nhanh chóng các sứ đoàn Xiêm[41]. Theo quan điểm của Xiêm, các sứ đoàn đóng vai trò thứ yếu trong mối liên hệ Trung-Xiêm mà có chức năng như là phương tiện vận tải tài tình phục vụ thương mại. Sự diễn giải này thực sự trùng khít với phong tục ngoại giao của khu vực vào thời điểm đó. Ở các quốc gia châu Á có phong tục làm thân với vị vua của quốc gia mà họ muốn buôn bán bằng việc làm ông ta vui lòng với những món quà tặng có giá trị[42]. Áp dụng nguyên tắc tương tự với Trung Quốc, người Xiêm coi các mối quan hệ thương mại đem lại lợi nhuận quan trọng hơn nhiều so với mối quan hệ ngoại giao chính thức[43]. Nói một cách khác, người Xiêm duy trì mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc chỉ vì nó là phương tiện tạo thuận lợi cho thương mại. Thực tế này được chỉ ra rõ ràng trong phát biểu của viên thư lại phục vụ quan nhiếp chính Xiêm vài năm sau sự cai trị của vua Rama IV của vương triều Cagkri.  Lời phát biểu đó như sau:

Tặng quà không đi ra ngoài mong muốn đảm bảo những thuận lợi về thương mại và nó được tiến hành cho mục đích duy nhất đó[44].

Một ấn phẩm bán chính thức tiếng Xiêm khác ở Bangkok cũng coi thương mại là mục đích quan trọng. Nó bảo vệ chủ quyền của Xiêm bằng việc phát biểu rằng:

Burmah và Cochin-China là triều cống, đúng thế! Và cả hai đã cố gắng ném bỏ lòng trung thành của mình nhưng thất bại. Nhưng Xiêm chưa bao giờ va chạm với Trung Quốc và chưa bao giờ có cơ hội để triều cống. Tất cả những gì đã xảy ra đơn giản là như vậy. Trong năm 1350, nhà vua đã chuyển kinh đô về Ayuthia  (ở Meinam) và thuyền Trung Quốc đã đến đây buôn bán. Người Xiêm mong muốn tham gia thương mại và nhà vua sau đó đã gửi một sứ giả tới để thiết lập tình bạn với Trung Quốc. Hoàng đế ưng thuận và mở cảng Quảng Đông nhưng người Trung Quốc đã đánh thuế nặng khiến cho các thương nhân Xiêm bị lỗ. Nhà vua sau đó đã phái một sứ giả khác mang theo lá thư trong đó nói sẽ tặng quà hàng năm cho Trung Quốc để đổi lấy sự đảm bảo về thuế. Yêu cầu này được chấp thuận. Một sứ giả sẽ được phép tới Trung Quốc ba năm một lần và người Xiêm có được những đặc quyền đối với những chiếc thuyền đi cùng ông ta… Hoàng đế đã đáp lại một số lượng lớn  quà tặng  và người Xiêm nhận thấy đây là một món hời và tiếp tục gửi tới các món quà tặng như là một tập tục bất biến nhưng họ làm vậy là để mong muốn đảm bảo những sự thuận lợi cho thương mại và chỉ vì mục đích đó[45].

Những lý luận nói trên là hợp lý trong quan điểm phát triển sau này. Vào giữa thế kỉ 19, các hoạt động thương mại Xiêm-phương Tây dần tăng lên  đến độ người Xiêm không còn hứng khởi với việc phái sứ giả tới Trung Quốc nữa. Tần suất của các sứ đoàn giảm và cuối cùng chấm dứt dưới triều vua Rama IV[46]. Thực tế này củng cố tuyên bố của Xiêm rằng các sứ giả của nó tới Trung Quốc chỉ là nghi thức đổi lấy các thỏa hiệp thương mại.

Sự độc lập của Xiêm trong đối nội và đối ngoại là một bằng chứng về tính độc lập. Trong lịch sử suốt một thời gian dài của mối quan hệ Trung-Xiêm, Trung Quốc chưa bao giờ có sự kiểm soát chính trị đối với Xiêm. Chúng ta phải ghi nhớ rằng tất cả các quốc gia trên trái đất đều đã từng bị coi là chư hầu của Trung Quốc. Một sự tuyên bố không hề phù hợp với thực tế lịch sử. Sự tuyên bố của Trung Quốc đối với Xiêm là mờ ám và không đáng coi là nghiêm túc[47]. Một sử gia khác khẳng định rằng Xiêm chưa bao giờ thừa nhận quyền bá chủ của Trung Quốc và luôn luôn coi sự trao đổi sứ giả và quà tặng giữa hai quốc gia là dựa trên bầu không khí hữu hảo, thân thiện[48].

See Chong-su cho rằng tuyên bố của Trung Quốc là mập mờ và không có giá trị. Ông nói:

Cái gọi là  sứ đoàn “chuyên chở triều cống” (giống như được viết trong các tư liệu Trung Quốc)…, chủ yếu là là sự trao đổi lịch thiệp giữa hai quốc gia hữu nghị. Sự xuất phát của các sứ giả như vậy không hề liên quan tới quyền bá chủ hay chư hầu thể hiện bằng bởi những người mang đồ triều cống[49].

Trên thực tế thậm chí một vài biểu tượng nghi thức mà các hoàng đế Trung Quốc thi thoảng tặng cho vua Xiêm về bản chất chỉ là danh nghĩa hơn là thể hiện ảnh hưởng của Trung Quốc. Ví dụ như sự sắc phong chẳng qua cũng chỉ là sự xác nhận thực tế cai trị của vua Xiêm[50]. Khấu đầu cũng là một ví dụ khác. Xiêm coi khấu đầu  chẳng qua cũng chỉ là ‘nghi thức tốt đẹp” bởi vì bản thân hoàng đế cũng cúi đầu vái lạy trời và tổ tiên của ông ta[51] .

Trung Quốc chưa bao giờ cố gắng can thiệp trực tiếp vào người kế vị của Xiêm.  Mặc dù phần lớn các vua Xiêm ngồi lên ngai vàng bằng vũ lực, nỗ lực của họ trong việc tìm kiếm sự sắc phong của Trung Quốc không thể được diễn giải như là cố gắng đảm bảo quyền lực của họ như G.W. Skinner phát biểu[52].  Điểm yếu nghiêm trọng trong luận văn của Skinner là việc ông quá nhấn mạnh mục đích chính trị của các sứ đoàn Xiêm. Thực tế là Trung Quốc có rất ít hoặc không có ảnh hưởng chính trị thực sự ở Xiêm. Do đó Trung Quốc không thể tăng cường hay làm suy yếu quyền lực của các vua Xiêm.  Nó giống như là một sự xác nhận vị trí hợp pháp của các vua Xiêm, thứ cần thiết cho việc duy trì mối quan hệ thương mại với Trung Quốc mà nhờ chúng các vua Xiêm thu được rất nhiều thuế và lợi nhuận. Như đã từng đề cập người Trung Quốc coi các món quà như đồ triều cống trong khi Xiêm tách biệt chúng khỏi đồ triều cống. Sự diễn giải khác biệt này là do sự hiểu lầm. Xiêm khẳng định rằng mọi thứ sứ giả mang đi cùng tặng cho hoàng đế chỉ là quà chứ không phải là đồ triều cống. Lý luận của Xiêm cũng phù hợp với mô hình của mối quan hệ ngoại giao phương Đông ngoại trừ với Trung Quốc. Phong tục tặng quà là phổ biến trong vùng và đặc biệt có thể thấy trong tất cả các sứ đoàn từ nước này tới nước khác. Chính người Trung Quốc đã “khéo léo chuyển ý tưởng này thành sự ca ngợi chính mình, bằng việc coi tất cả các món “quà tặng” là “đồ triều cống”, do vậy việc ra vẻ ưu việt nhờ  điều đó có lẽ đã có cơ sở mỏng manh nhất”[53].

Từ tất cả những điều nói trên chúng ta có thể kết luận rằng từ quan hệ  “chư hầu” là không thích hợp đối với mối quan hệ Trung-Xiêm. Không có bất kì sự bảo vệ hay giúp đỡ nào từ các hoàng đế Trung Hoa dành cho các vua Xiêm trong việc chống lại kẻ địch bên ngoài hoặc bên trong. Các hoàng đế Trung Hoa về phần mình cũng không đưa ra yêu cầu phụng sự gì, không thu thuế, hiếm khi đưa ra yêu cầu và vô cùng khoan dung bất cứ khi nào các vua Xiêm vi phạm quy định triều cống.

Nguyễn Quốc Vương dịch


[1] Ibid., trang 18 và 179.

[2] La Loubere, Simon de, op. cit., 108.

[3] Ibid.

[4] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 181.

[5] Records of the Relations…, op. cit., I, 83.

*   Để biết ví dụ về sự đón tiếp sứ giả nước ngoài của người Xiêm mời xem các bức hình minh họa trong H.G.Q. Wales, Siamese State…, loc. Cit.; đồng thời xem thêm trong La Loubere, Simon de, op. cit., I, 40.

** Theo H.G.Q Wales, chiếc đế vàng gồm “ba tầng. Nó phù hợp với phong tục ở đó  ba tầng được coi là thích hợp để đón nhận lá thư từ vị vua ngang hàng với vua Xiêm. Chiếc chỉ có hai tầng được dành cho các ông vua có địa vị thấp hơn”. Xem H.G.Q. Wales, op. cit., 184.

[6] H.G.Q. Wales, Siamese Satate…, op.cit., 181.

[7] Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit.

[8]  La Loubere , Simon de, op. cit., 108.

[9] Nicolas Gervaise, The Natural and Political  History of Siam, A.D. 1688 ( H.S. O’Neill dịch từ tiếng Pháp) (Bangkok: n.p., 1928), 127-128.

[10]  Ibid., 128.

[11]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 182.

* Xem hình vẽ trang 32.

[12]  La Loubere, Simon de, op. cit., 99.

[13] H. G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 182.

[14] Ibid., 182-183.

[15]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 183.

* Xem hình vẽ trang 35.

** Ba bậc thang này được thêm vào ở thời điểm sứ đoàn của La Loubere tới để tránh những cảnh  thất thố như  đã từng xảy ra với các vị sứ giả Pháp trước đó như Chevalier de Chaumont, người gặp vua Naraj. De Chaumont được yêu cầu  trình lên lá thư  tới vua bằng cách giữ  chiếc đế nhưng trái lại ông ta đã nắm lấy chiếc bình chứ không phải đế buộc nhà vua phải cúi xuống nhấc lấy lá thư.

[16] La Loubere, Simon de, op.cit., 111.

[17]  Damrong Rajanubhab, Prince, Siamese Embassies To Europe, 16, như đã trích dẫn trong H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 184.

[18]  La Loubere, op.cit., 109.

[19]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 185.

[20] J.K. Fairbank, “Tributary Trade and China’Relations with the West,” The Far Eastern Quarterly, I, no.2 (Febuary 1942), 129.

[21] Để biết thêm chi tiết mời xem trang 49-50, 126-129.

[22] Để biết thêm chi tiết mời xem trang 80-82.

[23]  Mongkut, King of Thailand, “The Sending of Royal Letters and Siamese Embassies to China in Ancient Times” in Interesting Topics in Siamese History (Bangkok: Thammasat U. Press. 1954(, 73-104 E.

[24] Mongkut, King of Thailand, op. cit., 104 E.

[25]  Damrong Rajanubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign…, op.cit., II, 110-111

[26] Damrong Rajanubhab, Prince, Preface of Collection of the Chronicles (Bangkok: Sygsaphan, 1963), V, 39-41.

[27] Ibid., 41.

[28] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op.cit., XVI, 216.

[29]  Hoàng tử Damrong nghi ngờ rằng những viên chức Quảng Đông này đã tự ý đưa ra quyết định chứ khải quyết định của hoàng đế.

[30] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op.cit., XVI, 125.

[31] Collection of the Chronicles ( Prachumphongsavadan) (tiếng Xiêm), V(concerning Sino-Siamese relations since ancient times) (Bangkok: Sygsaphan, 1963), 60, n.1;61, n..1.

[32] Ibid., 92, n.2.

[33] Collection of the Chronicles, op. cit., V, 92-93.

[34] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op. cit., XVI, 126.

[35] Chula Chakrabongse, Prince, Lords of Life (London: Alvin Redman, 1960), 58.

[36] Nguyên Sử ( The history of the Yuan Dynasty) by Sung Lien, 1310-1381 (60 vols. In 6 cases, 1956 reproduction of the original), ch, 17, 13b.

[37] Nguyên Sử, ch.15, 15a;ch.16, 13a; đồng thời xem Collection of the Chronicles, op.cit., 52

[38] Nguyên Sử, ch. 12, 6b; ch.210 (phần về  Chan-cheng Cổ thành), 7a, 9a; xem thêm Collection of the Chronicles, op.cit., 51. ,

[39] J.F. Cady, Southeast Asia: Its Historical Development (New York: McGraw-Hill Book Co., 1964), 594.

[40] Wang Gung-wu, “The Nanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea”, JRASMB, XXXI, pt. 2(June 1958), 119.

[41] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op. cit., 171.

[42] W.P. Groeneveldt, Historical Notes on Indonesia and Malaya (Djakarta: C.U. Bharatara, 1960), 4.

[43] W.F. Vella, Siam under Rama III. 1824-1851 (New York: J.J. Augustin, 1957), 113.

[44] Lá thư của S. Bateman, 10/3/1870, được trích dẫn trong The Siamese Repository, II (April 1870), 298-299,  cũng được trích dẫn trong W.F. Vella, ibid., 113, n.24.

[45]  Như được trích dẫn trong R.S. Gundry, China and Her Neighbors ( London: Chapman and Hall, 1893), 144-145.

[46] W.F. Vella, op.cit., 113.

[47]  W.A.R. Wood, A History of Siam (2nd ed.; Bankok: The Siam Barnakich Press, 1933), 47-48.

[48] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 15.

[49] See Chong-su, The Foreign Trade of China (New York: Columbia U. Press, 1919), 16.

[50] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 29.

[51] W.W. Rockhill, China’ Intercourse with Korea from the Fifteenth Century to 1895 (London: Luzac& Co., 1905), 4.

[52]  G.W. Skinner, Chinese Society in Thailand: An Analytical History (Ithaca: Cornell U. Press, 1957), 12, n. 66.

[53]  R.M. Martin, China: Political, Commercial, and Social. I (London: James Madden, 1847), 265.


Cũ hơn Mới hơn