NHỮNG THÁCH THỨC LỚN CỦA GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI

                                           Nguyễn Quốc Vương

Cho dù còn cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa về mọi mặt để hòa nhập với thế giới và rút ngắn khoảng cách phát triển, sau hơn 30 năm đổi mới, mức sống nói chung của người dân Việt Nam đã được nâng lên. Nhiều gia đình đã sống với mức sống giàu có. Kinh tế khá giả tạo điều kiện cho các gia đình có đời sống phong phú, tiếp cận các dịch vụ hiện đại, văn minh. Tuy nhiên, đây cũng là lúc các gia đình trong xã hội hiện đại phải đối mặt với nhiều thách thức lớn.

Sự tan vỡ của mô hình gia đình truyền thống

Đông con nhiều cháu, nhiều thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng làm cùng ăn với mối quan hệ “trên kính dưới nhường”, “anh em như thể tay chân” đã từng là đặc trưng có tính hình mẫu của những gia đình hạnh phúc theo quan niệm truyền thống. Ở Việt Nam những gia đình như vậy đã tồn tại trong một thời gian dài. Điểm tựa của những gia đình nhiều thế hệ cùng chung sống này là các thành viên về cơ bản làm chung một nghề hoặc nhóm nghề có liên quan, địa bàn hoạt động kinh tế gói gọn ở một phạm vi hẹp và hợp tác cùng nhau trong lao động. Họ có thể cùng làm ruộng, cùng làm một nghề thủ công nào đó của gia đình. Với mối quan hệ gắn bó về huyết thống và hôn nhân cùng với hợp tác trong lao động sản xuất, sống chung trong một không gian, sự liên hệ, gắn bó về mặt xã hội giữa các thành viên trong gia đình rất bền chặt.

Trong môi trường đó, trẻ em không chỉ xã hội hóa bản thân, học hỏi các tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm của cha mẹ để trưởng thành, trở thành thành viên của xã hội mà còn học hỏi được từ thế hệ đi trước như ông bà và những người ở xunh quanh như hàng xóm và họ hàng. Câu ngạn ngữ ở châu Phi gần đây hay dược nhắc tới “cần cả ngôi làng để dạy trẻ” thực ra chính là thực tế của cuộc sống nước ta đã từng có. Những gia đình sống trên cùng một làng, xã đã có mối liên hệ chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động kinh tế, sinh hoạt cộng đồng từ đó tạo ra một không gian sinh hoạt  công cộng nuôi dưỡng đời sống tinh thần của trẻ em.

Tuy nhiên khi đất nước công nghiệp hóa và mở cửa các khu công nghiệp mọc lên, quá trình đô thị hóa  diễn ra nhanh chóng, di động dân số cơ học mạnh thì các gia đình truyền thống đã dần dần nhường chỗ cho gia đình hạt nhân (bao gồm bố mẹ và con). Làng quê đã biến đổi sâu sắc với lực lượng lao động trẻ thoát li nông nghiệp lao động trong các nhà máy. Các đô thị mở rộng và nhiều đô thị mới mọc lên. Trẻ con lớn lên trong một cộng đồng cũ bị phá vỡ trong khi cộng đồng mới chưa hình thành. Văn hóa làng xã mất đi trong khi văn hóa thị dân chưa kịp trưởng thành.

Sự truyền dạy tri thức từ các thế hệ khác nhau và những người xung quanh biến mất. Xung quanh trẻ, ngoài quan hệ với cha mẹ tất cả là quan hệ với “người lạ”. Trẻ  được học nhiều hơn ở trường về tri thức nhưng thiếu giao tiếp và trải nghiệm xã hội đang là một thực tế. Khó có thể nói những đứa trẻ như vậy khi lớn lên, trưởng thành có thể gánh vác được vai trò công dân hiện đại.

Chức năng giáo dục của gia đình suy giảm

Cùng với sự chuyển đổi mô hình gia đình từ truyền thống sang gia đình hạt nhân và sự thay đổi môi trường sống của trẻ em, một số chức năng của gia đình như chức năng giáo dục cũng bị suy yếu. Trước kia, đặc biệt trước khi có hệ thống giáo dục quốc dân hoàn thiện, việc nuôi dạy trẻ được tiến hành trực tiếp trong gia đình với sự tham gia của ông bà, anh chị đi trước và bố mẹ. Trẻ em thông qua sự chỉ dạy trực tiếp của cha mẹ, trải nghiệm đời sống gia đình và nhìn vào tấm gương của cha mẹ mà có được tri thức, kĩ năng, phẩm chất, giá trị quan của bản thân. Tuy nhiên, cùng với sự tiến triển của công nghiệp hóa, hệ thống giáo dục quốc dân ngày càng hoàn thiện, do ảnh hưởng của chủ nghĩa bằng cấp, trường học dần dần chạy nước rút trong cuộc đua thi cử và thành tích, cuốn toàn bộ các gia đình có người đi học vào vòng quay khổng lồ của nó. Bên cạnh đó, nền sản xuất lớn với các khu công nghiệp mọc lên cùng các khu cao ốc văn phòng, các khu công nghệ cao đã làm cho nhịp sống trở nên nhanh hơn bao giờ hết. Bố mẹ quay cuồng, bận rộn với công việc. Họ đi làm từ sớm để tránh tắc đường và đi làm về muộn vì họp hành, công việc, tiệc tùng giao tiêp với khách hàng, cấp trên, đồng nghiệp. Hệ quả của nó là chức năng giáo dục con cái vốn là đặc quyền chủ yếu thuộc về gia đình trước đó đã dần dần được cha mẹ đẩy ra bên ngoài và từ bỏ trong vô thức. Khi con cái còn nhỏ, công việc nuôi dạy con được các gia đình được phó thác cho người giúp việc (thường hay được gọi là osin). Khi con lớn một chút thì gửi cho nhà trẻ, trường mầm non và xu hướng gửi thêm giờ, kéo dài thời gian ở trường, gửi thêm cả ngày thứ bảy rất rõ. Nhìn vào mật độ các trường tư thục mọc lên trong các khu chung cư, các khu phố và khu đô thị mới ta có thể suy luận được rất nhiều điều ở phía sau. Từ khi con vào tiểu học trở đi trẻ dành phần lớn thời gian ở trường bao gồm cả thời gian ăn trưa. Trẻ chỉ có thời gian cuối tuần được nghỉ học ở trường nhưng xu hướng các gia đình cho con học thêm ở nhà giáo viên, trung tâm, trường học để luyện thi vào cấp học cao hơn hay vào đại học này càng trở nên phổ biến. Kết quả là đời sống của trẻ xoay quanh trường học. Ngay cả khi ở trong nhà mình, thời gian cha mẹ dành cho con cũng không nhiều nữa. Sự thống trị của tivi, điện thoại, ipad, internet cùng sự phân chia thành các phòng riêng tư trong các căn hộ, ngôi nhà hiện đại cũng làm cho thời gian bên nhau, chia sẻ thông tin và giao tiếp không còn nhiều nữa. Các cá nhân có xu hướng bị “cô lập” ngay từ chính trong gia đình mình trong vô thức.

Sự tan vỡ của gia đình

Tất cả các yếu tố đã phân tích ở trên cùng với sự thay đổi lớn lao về giá trị quan, lối sống của xã hội hiện đại đã đặt gia đình hiện đại trước nhiều nguy cơ trong đó có nguy cơ đổ vỡ. Số liệu ở Nhật Bản cho biết tỷ lệ ly hôn ở đây (được tính theo công thức số vụ ly hôn/số vụ kết hôn x 100%) là khoảng 35% (Điều tra của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản năm 2015). Điều này có nghĩa rằng cứ 10 đôi yêu nhau, đưa nhau đến nhà thờ, đền thờ Thần đạo làm lễ cưới thì có 3, 5 đôi gặp nhau tại tòa để hoàn tất thủ tục ly hôn. Tính trên 1000 dân, tỷ lệ ly hôn ở Nhật Bản là 1,7 (2018).

Ở nước ta, tỷ lệ ly hôn là bao nhiêu? Kết quả tổng điều tra dân số năm 2019 cho biết 2,1% dân số đang trong tình trạng ly thân và ly hôn. Trước đó, trong một nghiên cứu khác TS Nguyễn Minh Hòa (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP HCM) công bố năm 2008 cho biết tỷ lệ ly hôn tính theo công thức của Nhật Bản phía trên là 31-40%. Như vậy là cứ 10 cặp kết hôn sẽ có khoảng 3 cặp tan vỡ. Một tỷ lệ rất đáng suy nghĩ. Nên nhớ rằng nếu như Nhật Bản đã có lịch sử công nghiệp hóa hơn 100 năm và đã gánh chịu tình trạng dân số già nhiều thập kỉ qua thì nước ta còn chưa thực sự trở thành nước công nghiệp hóa. Điều gì sẽ xảy ra khi Việt Nam trở thành một nước có lối sống công nghiệp như Nhật Bản?

Số liệu công bố công khai trên báo chí gần đây (tháng 9/2020) cũng cho biết trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 600.000 vụ ly hôn, trong đó 70% các vụ ly hôn là do phụ nữ đệ đơn. Một con số rất lớn.

Những số liệu trên rất khớp với trải nghiệm của chúng ta trong cuộc sống hàng ngày khi chứng kiến bạn bè, người thân tan vỡ trong hôn nhân. Trong một cuộc nói chuyện, giao lưu khuyến đọc với bạn đọc của thư viện một tỉnh phía bắc (tháng 8/2020), một cán bộ phụ trách phòng công tác chính trị ở Sở giáo dục và đào tạo đã kể cho tôi biết một chuyện đáng kinh ngạc. Anh kể rằng trong một lần điều tra khảo sát thực tế ở  cơ sở anh phát hiện có một lớp ở trường học nọ có tới 16 em có bố mẹ sống ly thân hoặc ly hôn trong tổng số 40 học sinh.

Đại dịch Covi19 đã khiến cho nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam phải thực hiện giãn cách xã hội trong thời gian dài. Các hoạt động từ làm việc đến vui chơi, giải trí đều phải rút lui vào bên trong gia đình. Các chức năng mà trước kia gia đình đã từ bỏ trong vô thức hoặc đẩy ra bên ngoài như chăm sóc, dạy dỗ con cái đã chuyển lại về gia đình đột ngột. Thời gian gia đình bên nhau cũng nhiều lên. Lẽ ra nó phải làm cho gia đình hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, các kết quả công bố cho thấy ở  nước Anh yêu cầu tư vấn pháp lý về thủ tục ly hôn tăng 95% kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát. Số vụ ly hôn cũng gia tăng ở nhiều nước khác như Trung Quốc và Mĩ. Ở Việt Nam Ngân hàng thế giới cũng tiến hành khảo sát qua điện thoại với các hộ gia đình ở nhiều địa phương để tìm hiểu tác động của đại dịch tới đời sống. Kết quả công bố cho biết thu nhập hộ gia đình tháng 1/2021 thấp hơn khoảng 11-22% so với mức thu nhập tháng 6/2020. Ở Việt Nam, cho dù không có số liệu công bố công khai về tỷ lệ ly hôn tăng cao trong đại dịch covid, nhưng chắc chắn rằng thất nghiệp, thu nhập giảm, cộng với sự căng thẳng khi cả gia đình phải “cố thủ” trong nhà sẽ gây ra và làm sâu sắc thêm  những mâu thuẫn bất hòa làm rạn nứt quan hệ gia đình.

Gia đình thường được coi là tế bào của xã hội. Khi gia đình suy yếu, tan vỡ hay gặp vấn đề tất yếu xã hội sẽ khó có thể phát triển lành mạnh và bền vững. Hơn nữa, nhìn từ góc độ cá nhân, hạnh phúc của mỗi người đầu tiên và phần lớn sẽ được cảm nhận, trải nghiệm trong chính gia đình. Khi gia đình tan vỡ hay gặp vấn đề cá nhân sẽ bị chịu ảnh hưởng nặng nề đặc biệt là trẻ em. Để vượt qua các thách thức nói trên sẽ cần tới các chính sách vĩ mô như phát triển kinh tế theo vùng hợp lý để hạn chế di động dân số cơ học đảm bảo gia đình bố mẹ có thể sống cùng với con cái, tạo ra một mạng lưới dịch vụ xã hội chuyên nghiệp và hợp lý để hỗ trợ gia đình (chăm sóc sức khỏe, tư vấn tâm lý, đối phó với bạo hành gia đình), giáo dục, truyền thông để nâng cao nhận thức toàn dân về vai trò của đời sống gia đình. Đối với từng gia đình, từng cha mẹ việc học hỏi, tái nhận thức lại vai trò của gia đình trong đời sống hiện đại và nỗ lực cho sự bền vững, hạnh phúc của gia đình trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Dành thời gian cho gia đình chẳng hạn như ăn tối cùng nhau vốn là một việc đương nhiên giờ đây đã trở thành kết quả của nỗ lực. Cuộc “Điều tra so sánh quốc tế về giáo dục gia đình” do Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản tiến hành năm 2004-2005 cho biết người Hàn Quốc đứng đầu bảng về chuyện ít ăn tối cùng gia đình (4.1 lần/tuần), Nhật Bản đứng thứ nhì với 4.4 lần/tuần, trong khi một nước có nền kinh tế kém xa hai nước này là Thái Lan là 6.3 lần/tuần. Thực tế ấy là một sự cảnh báo nghiêm khắc cho các gia đình trong xã hội hiện đại. Nó giống như một chuyện tức cười, chúng ta quá bận đi kiếm tìm mọi thứ và không có thời gian để xây đắp hạnh phúc cho chính gia đình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Cũ hơn Mới hơn