HỌC TẬP ĐỊA CHÍ-HỌC TẬP HỆ THỐNG

1. Học tập địa lý

 

Giáo tài của học tập địa lý là các hiện tượng liên quan đến  tự nhiên và xã hội nhìn thấy ở Nhật Bản hoặc thế giới vì vậy việc nhắm đến tìm kiếm đặc trưng không gian của chúng là học tập địa lý.

 

Đặc trưng không gian này không phải là thành quả nghiên cứu của các môn khoa học mà là thứ được làm rõ nhờ vào thành quả học thuật của nghiên cứu địa lý học. Vì vậy với tư cách là học tập địa lý và là phương pháp chỉ đạo học tập nhằm làm cho học sinh lý giải được đặc trưng không gian của các hiện tượng mà phương pháp nghiên cứu địa lý học đã được sử dụng. Phương pháp này gồm phương pháp địa lý học hệ thống và  phương pháp địa chí học.

Thêm nữa, khi xây dựng cấu tạo giáo tài địa lý thì cũng có các quan điểm khác biệt như coi trọng tài liệu khách quan  về các hiện tượng và địa phương, lấy bối cảnh là địa lý học thực chứng chủ nghĩa hay coi trọng việc con người tri giác không gian địa phương như thế nào và hình thành trật tự đó thế nào lấy bối cảnh là địa lý học nhân văn chủ nghĩa?

 

2. Học tập hệ thống

 

Học tập hệ thống được nói tới ở đây là phương pháp nghiên cứu địa lý học hệ thống và nội dung học tập được tổ chức dựa trên nó. Phương pháp này chỉ việc tìm kiếm sự khác biệt có tính địa phương (khu vực) của các hiện tượng trong số các hiện tượng trên trái đất và nguyên nhân của chúng. Dựa vào các hiện tượng được đưa ra mà chia thành Địa lý học tự nhiên và Địa lý học nhân văn.  Địa lý học tự nhiên được chia thành Địa hình học, Khí hậu học, Thủy văn học…; Địa lý học nhân văn chia thành Địa lý học dân số, Địa lý học kinh tế  xã hội, Địa lý học lịch sử…

 

Trong số đó, Địa lý học lịch sử được cho là một dạng Địa lý học có tính hệ thống đặc biệt. Trong Địa lý học hệ thống có đặc trưng là các hiện tượng được cấu tạo phức hợp với tư cách là đặc trưng của địa phương được đưa ra phân tích. Tức là phương pháp xem xét xem các hiện tượng cấu thành nên địa phương phân bố như thế nào, có điểm gì chung và khác biệt mang tính địa phương không, thêm nữa tìm kiếm mối liên quan giữa các địa phương, làm rõ tính quy luật và tính phổ quát của chúng.

 

3. Học tập địa chí

Học tập địa chí dùng để chỉ phương pháp nghiên cứu địa chí học-một phương pháp của nghiên cứu địa lý học và nội dung học tập được tổ chức dựa trên phương pháp đó.

Phương pháp này lấy địa phương (khu vực) nhất định làm đối tượng và truy tìm đặc trưng tổng hợp của địa phương đó (còn gọi là tính địa phương). Trong trường hợp đó, sẽ phân  các hiện tượng sự vật của địa phương thành  các nội dung như tự nhiên (khí hâu, địa hình…), nhân văn (nông, lâm, thủy sản, công nghiệp, khai khoáng, giao thông liên lạc, văn hóa, chính trị…), mối quan hệ với các địa phương khác, bối cảnh lịch sử và làm rõ đặc trưng của địa phương bằng việc ghi chép một cách hệ thống và khoa học về chúng.  Đây thường được gọi là Địa chí kiểu tĩnh. Học tập địa chí dựa trên phương pháp này thường gây nên sự hiểu lầm rằng nó  mang tính chất la liệt, kiểu từ điển bách khoa và học sinh phải ghi nhớ dịa danh sản vật…

 

Đối nghịch với nó, là địa chí kiểu động vừa đề cập đến đặc trưng và sự biến đổi của địa phương, mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng vừa tiến hành ghi chép. Kiểu này hiện nay đang là dòng chảy chủ lưu.

 

4. Sự triển khai học tập địa chí và học tập hệ thống

 

Trong giáo dục trường học học tập địa chí và học tập hệ thống được tiến hành ở nhiều cơ hội khác nhau. Ví dụ trong kế hoạch chỉ đạo đi dã ngoại của nhà trường thì việc học tập trước đó về nơi đến là một loại học tập địa chí.

Ở các lớp bậc thấp tiểu học, môn Đời sống đã thay cho môn Xã hội. Ở đó các trải nghiệm khám phá các công trình trong nhà trường hay thám hiểm khu vực xung quanh trường học thường được tiến hành và đó cũng là một dạng của học tập địa chí.

 

Từ các lớp bậc trung tiểu học học tập môn Xã hội được bắt đầu và việc tiến hành học tập về địa phương, công nghiệp ở đó không phải là học tập địa chí hay học tập hệ thống. Tuy nhiên ở môn Xã hội cấp trung học cơ sở thì nó đã trở thành phân môn Địa lý và tính chất địa lý mạnh lên, ở trung học phổ thông trong môn Lịch sử-Địa lý học tập địa lý được thực thi vì vậy từ trung học cơ sở trở lên tính chất địa lý được thể hiện mạnh mẽ.

 

Học tập môn  Xã hội ở các lớp bậc trung tiểu học là học tập địa phương (khu vực) vì vậy mà có thể thấy tính chất địa chí học rất mạnh mẽ. Địa phương được mở rộng từ khu phố, thôn làng, thành phố gần gũi thành tỉnh và các sự vật, hiện tượng được đưa ra cùng những mối quan hệ giữa chúng trở nên phức tạp.  Ở đây người ta từ việc làm cho học sinh lý giải  cuộc sống của con người từ địa hình và tổ chức của địa phương, địa hình, sản xuất, mối quan hệ với các địa phương khác và nước ngoài mà làm sâu sắc tình hình thực tế của địa phương.

 

Ở lớp 5, học sinh được học về các đặc trưng của sản xuất và tự nhiên như sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, thông tin liên lạc và tính chất học tập hệ thống trở nên mạnh mẽ. Tuy nhiên, các sự vật hiện tượng đưa ra là địa phương sản xuất và địa phương tự nhiên vì vậy nó mang cả tính chất học tập địa chí.

 

Học tập về nước ngoài ở lớp 6 có tính chất học tập địa chí.

 

Trong phân môn (lĩnh vực) Địa lý  ở trung học cơ sở, nhận thức về lãnh thổ là mục đích chủ yếu vì vậy nó có cấu tạo là từ học tập các khu vực trên thế giới tới học tập các địa phương của Nhật Bản. Ở từng khu vực sẽ tìm hiểu về 5 mặt là vị trí và bối cảnh lịch sử, đặc trưng tự nhiên, dân cư và đời sống, tài nguyên và công nghiệp, sự biến đổi của khu vực tức là học tập về tính khu vực. Nói cách khác, tính chất học tập địa chí mạnh. Tuy nhiên, trong bản Hướng dẫn học tập năm 1998, việc học tập về Nhật Bản được tiến hành với tư cách như là một khu vực và việc học tập được tiến hành bằng phương pháp hệ thống về tự nhiên, dân số, tài nguyên, sản xuất…

 

Ở trung học phổ thông từ khi “Địa lý nhân văn” được khởi xướng, tính chất học tập hệ thống rất mạnh. Trong bản Hướng dẫn học tập năm 1968, tương ứng với hai phương pháp nghiên cứu địa lý học là hai môn học được đặt ra là “Đại lý A” (học tập hệ thống) và “Địa lý B” (học tập địa chí). Tuy nhiên trong bản Hướng dẫn học tập năm 1977 hai môn học này lại được tổng hợp lại và trở thành học tập nhằm “làm sâu sắc nhận thức địa lý về thế giới hiện đại). Vì vậy, 2/3 là học tập hệ thống còn lại là học tập địa chí.

 

Đến bản Hướng dẫn học tập năm 1989 thì có sự chuyển hướng coi học tập hệ thống là trung tâm, coi trọng cách nhìn, cách tư duy địa lý. Phương hướng này cũng được tăng cường trong bản Hướng dẫn học tập năm 1998 và ở phần nội dung học tập thì đề cập đến hai phương pháp lớn của nghiên cứu địa lý học là “khảo sát địa lý hệ thống” và “khảo sát địa chí”.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 


Cũ hơn Mới hơn