Trung Quốc và Người Trung Quốc ở nước ngoài (II)




Nhà Minh từ chối công nhận Nghệ Tông. Khi Nghệ Tông từ bỏ vương miện hai năm sau đó và nhường cho em trai là Duệ Tông, quan hệ triều cống được tái lập. Những mối quan hệ này giữ nguyên tốt đẹp chừng nào Nghệ Tông (Nghe-ton) nắm quyền phía sau bức màn và Duệ Tông (Due-ton) hay con trai ông ta là Phế Đế (Phe-de) tìm kiếm sắc phong từ tay hoàng đế nhà Minh. Khi Phế Đế bị đảo chính và bị giết bởi cậu là Lê Quý Ly, hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã trở nên ngờ  vực và thù địch. Khoảng năm 1393, ông ta đã lại từ chối sứ đoàn triều cống do triều đình Việt Nam phái tới. Những tranh chấp dọc biên giới đế chế với Việt Nam dẫn tới sự  tái tiếp tục các mối quan hệ ngoại giao trong ba năm cuối của triều vua Hồng Vũ (1396-98) và những mối quan hệ này cách rất xa sự thân thiện. Những gì hoàng đế tức giận nhất là việc một loạt sự tiếm quyền đã cười nhạo hành động công nhận và sắc phong của ông, thứ ông coi như là nền tảng đảm bảo mối quan hệ. Như ông đã sắp đặt, khi được thông báo về cái chết của Nghệ Tông vào năm 1396, hơn một năm sau sự kiện:

 Nếu chúng ta gửi đi một sứ đoàn để chỉ ra rằng chúng ta  chia sẻ sự mất mát người thân, điều đó sẽ ủng hộ các cuộc nổi loạn và thừa nhận những kẻ làm loạn. Khi những kẻ khác nghe được điều này sau đó,  họ sẽ làm theo ông ta và  sẽ có nhan nhản những tội ác phải không? Điều này không thích hợp với các nguyên tắc của Trung Quốc trong hành xử với nước ngoài6 .

Sự tái khởi động đơn phương mối quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1395 minh họa cho sự sẵn sàng của hoàng đế đầu tiên của triều Minh trong việc ứng phó nhanh chóng với những vấn đề biên giới. Khi những thành viên bộ lạc Lung-chou nổi loạn dọc biên giới phía nam của tỉnh Quảng Tây, hai sứ đoàn do các sứ giả cao tuổi dẫn đầu đã được phái tới Việt Nam. Nghi thức cầu kì của triều cống được bỏ qua một bên khi vấn đề được nhìn nhận là nghiêm trọng. Trái lại, một sự tranh chấp  trước đó năm 1381 dọc theo biên giới nói trên kém nghiêm trọng hơn; hoàng đế tức giận yêu cầu các nhà chức trách ở tỉnh Quảng Tây gửi trả lại tất cả các sứ đoàn của Việt Nam trong tương lai nhưng trên thực tế có một đoàn được chấp nhận và năm tiếp theo7.

Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh phân biệt rõ giữa sự cảnh báo về an ninh biên giới và sự can dự vào những rắc rối của các quốc gia láng giềng. Quan hệ của triều đình liên quan đến các cuộc tấn công và phản công giữa Việt Nam và Champa thật thú vị. Hoàng đế miễn cưỡng phải can dự vào cuộc tranh chấp cay đắng này, đã năm lần trong những năm 1370 ông ta kêu gọi cả hai bên ngừng chiến. Thậm chí khi Việt Nam đã nằm ngoài sự quý mến và Champa đã có sự tiếp cận thường xuyên đối với triều Minh, hoàng đế chưa bao giờ thay đổi nguyên tắc công bằng nghiêm khắc nói trên. Tuy nhiên, khi sự an toàn của đế chế được lưu tâm thì sự ứng phó lại khác. Khi quân nhà Minh cần ngũ cốc cung cấp cho chiến dịch ở Vân Nam năm 1384,  Việt Nam đã được trông đợi để cung cấp ngược theo sông Hồng lên biên giới. Và khi nguồn cung cấp lại trở nên cần thiết để  đập tan quân nổi loạn Lung-chou ở biên giới Quảng Tây năm 1395, Việt Nam được trông đợi cung cấp cho quân Minh đồn trú ở nơi gần nhất. Việt Nam không thể duy trì sự trung lập khi triều Minh tham gia vào các cuộc bình định ở vùng gần với biên giới Việt Nam.

Thậm chí nhạy cảm hơn là câu hỏi về mối quan hệ giữa các ông vua nước ngoài và các viên chức nhà Minh. Hai ví dụ sẽ  đủ để minh họa mối quan tâm của hoàng đế về chủ đề này. Ví dụ thứ nhất có liên quan đến Việt Nam, nơi một thời gian dài tỏ ra ngang ngạnh khi khẳng định quyền của mình ngang hàng với Trung Quốc và cũng là nơi tự hào vì thành tích chống lại được sự áp bức của người Mông Cổ. Trận đánh về ý chí được xác lập lúc ban đầu với việc hoàng đế nhà Minh quyết đình đòi sự ưu việt của mình và không cho phép bất cứ một sự thách thức nào đối với vị trí tối cao của ông ta trong vũ trụ hay mối quan hệ tôn ti thứ bậc mà ông ta có bổn phận phải duy trì.  Bản dự thảo hiệp ước nghiêm khắc nhất được khăng khăng duy trì. Khi viên chức được gửi tới để sắc phong cho vua Việt Nam nhận ra rằng nhà vua vừa qua đời, ông ta đã từ chối vào Việt Nam để sắc phong cho người thừa kế ông vua đã chết. Người Việt Nam buộc phải thông báo cái chết của vua và yêu cầu sự công nhận chính thức từ chính hoàng đế nhà Minh.

Sau khi có Việt Nam ở đúng vị trí, hoàng đế đã không tiếc lời ca ngợi các sứ giả nhà Minh, những người đã từ chối nhận bất cứ món quà nào từ vua Việt Nam, cho dù có nguy cơ xúc phạm ông ta. Việc này vừa  nhấn mạnh nguyên tắc rằng hoàng đế chứ không phải viên chức của ông ta điều hành các mối quan hệ đối ngoại vừa minh họa địa vị thấp kém hơn của Việt Nam, nơi chỉ có thể thực thi triều cống chứ không  phải là tặng quà cho dù là tặng cho các sứ giả của Trung Quốc. Thực vậy, sự quả quyết của Việt Nam trong việc khẳng định sự ngang bằng ở mức độ nào đó trong quan hệ đối ngoại là nguồn cơn căng thẳng với Trung Quốc trong các thập kỉ tiếp theo. Bộ Lễ đã đặt ra các nghi lễ cầu kì chưa từng có trong việc tiếp đón các sứ giả triều cống của Việt Nam tại triều Minh và đón tiếp sứ giả nhà Minh được phái tới Việt Nam. Việc này đã lên tới đỉnh điểm khi hoàng đế nhà Minh phải ngăn bộ Lễ không được đi quá xa. Cùng thời gian đó, Việt Nam bị ép buộc từ bỏ triều cống hàng năm mà tuân theo lệ triều cống 3 năm một lần giống như Champa, Campuchia và Xiêm.  Những tín hiệu về sự ghét bỏ của triều đình khác có thể được tìm thấy trong quyết định được đưa ra năm 1383 với nội dung gửi các thẻ bài chính thức được dùng để lập nên các quốc thư của sứ giả nhà Minh tới Champa, Cam-pu-chia nhưng không có Việt Nam8.


Ví dụ nổi tiếng thứ hai liên quan đến mối quan hệ với San-fo-ch’ikuo (Srivijaya) hay thế giới Malay xung quanh vùng phía đông và trung tâm Sumatra và bán đảo Malay. Giáo sư O. W. Wolters đã kiểm tra  bối cảnh đối với mối liên hệ  Malay này và đưa ra một sự giải thích mới về các sự kiện trong những năm 1370 và cuối những năm 1390, những sự kiện đã có ảnh hưởng tới mối quan hệ của nhà Minh với người Malay9. Sự giải thích của ông nhấn mạnh sự không quan tâm và sự thiếu quan tâm của hoàng đế đầu tiên nhà Minh đối với những điểm cầu kì trong chính trị ở Đông Nam Á trên biển. Nó cũng nhấn mạnh sự phức tạp của mối quan hệ giữa các tôn chủ và chư hầu trong khu vực, thứ triều Minh đã thất bại trong việc đánh giá đúng. Các cuộc đấu tranh địa phương tranh giành thương mại và tính hợp pháp này đã liên quan như thế nào đến các viên chức nhà Minh và việc chúng đã khiến cho hoàng đế đầu tiên của nhà Minh mắc sai lầm nhục nhã và gây ra cái chết của các sứ giả Minh như thế nào dưới tay người Java đã được giải thích một cách thuyết phục. Thậm chí cho dù các viên chức của nhà Minh không âm mưu với các ông vua nước ngoài đi nữa thì thất bại của họ trong việc bảo vệ hoàng đế tránh khỏi sai lầm đã làm tăng thêm mối nghi ngờ của ông ta đối với họ. Hoàng đế đặc biệt nghi ngờ tể tướng đầy quyền lực Hồ Duy Dung (Hu Wei-yung), người sau đó bị buộc tội đã có quan hệ bí mật với người Nhật và trách nhiệm trong việc để xảy ra nạn hải tặc dọc miền duyên hải Trung Quốc. Số phận của viên chỉ huy Ninh Ba Lin Hsien, bị buộc tội đóng vai trò liên lạc giữa Hồ Duy Dung và người Nhật xác nhận rằng sự nghi ngờ của hoàng đế đối với sự can dự của các viên chức trong quan hệ với nước ngoài. Những mối quan hệ với nước ngoài đã bị kiểm soát hoàn toàn chính thức và chặt chẽ10.

Rõ ràng từ con mắt của hoàng đế, mối quan hệ triều cống được tiến hành không phải là vì lợi nhuận. Những gì cần được nhấn mạnh là chính sách dứt khoát của hoàng đế trong việc kiềm chế chiến tranh với nước ngoài. Điều này tạo nên đặc trưng của  chính sách phòng thủ toàn diện  đối với các quốc gia phương nam và phía đông không cần phải quá nhấn mạnh. Nó không chỉ xác nhận phong tục cũ của đế chế Hán, Đường, Tống và từ chối các phong tục của  hoàng đế Mông Cổ Khubilai mà còn thiết lập một học thuyết quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhà Minh.

Ấn tượng hơn là thực tế rằng chính sách này đã được đề ra năm 1371 và sau đó được thể hiện trong Tsu hsun lu( huấn từ của tổ tiên) của hoàng đế ban bố năm 1373 và sau khi sửa đổi được tái xác nhận chi tiết trong phiên bản cuối cùng của Huang Ming Tsu hsun vào cuối triều đại của ông ta. Nó là một trong số ít chính sách cơ bản mà hoàng đế nhà Minh không bao giờ đi trệch ra khỏi nó. Sự tuyên bố đặc biệt về chính sách xứng đáng được trích dẫn đầy đủ. Đoạn chủ yếu được tìm thấy trong phiên bản năm 1373 trong phần huấn thị của ông đối với hậu duệ như sau:

 

  Các nước ngoài như An-nan (Việt Nam), Champa, Triều Tiên, Xiêm, Liu-ch’iu (quần đảo Lưu Cầu), các nước ở Biển Tây (Nam Ấn Độ) và Biển Đông (Nhật Bản) và rất nhiều các quốc gia nhỏ Nam Man (những người dã man) tách rời chúng ta bởi núi, biển và ở nơi rất xa. Đất đai của họ không đủ để sản xuất cho chúng ta duy trì chúng, người dân của họ sẽ không phụng sự chúng ta một cách hữu ích nếu sáp nhập (vào đế chế). Nếu họ không chân thật và làm kinh động biên giới của ta, đó sẽ là điều bất hạnh đối với họ. Nếu họ không gây rắc rối gì cho ta và chúng ta đưa quân tới đánh họ một cách không cần thiết thì đó sẽ là điều bất hạnh đối với chúng ta. Ta lo ngại rằng các thế hệ tương lai có thể sẽ lạm dụng sự giàu có và sức mạnh của Trung Quốc và sự khát khao  giây phút chiến thắng của quân đội để vô cớ đưa quân ra chiến trường và gây nên tổn thất. Họ phải ghi nhớ rằng đây là điều cấm kị. Về phần  những người dã man Hu và Jung, những người đe dọa Trung Quốc từ phía bắc, họ luôn là mối nguy hiểm dọc theo biên giới của ta. Thế hệ tiếp sau phải được tuyển lựa và quân lính phải được huấn luyện để phòng bị thận trọng chống lại họ11.

 

Đoạn văn trong phần mở đầu của Huấn từ của tổ tiên (Ancestral Injuntions) được giữ lại trong phiên bản cuối cùng năm 1395. Sự bổ sung và thay đổi đối với phiên bản sau đó của văn bản này rất thú vị và quan trọng. Trong các phiên bản trước đó, đoạn văn này nằm ở phần cuối trong khi ở phiên bản cuối cùng nó lại được đưa lên trước thuộc vị trí của lời huấn thị quan trọng thứ 4.

Thêm nữa, 15 quốc gia đã được chỉ định là quốc gia “không bị  xâm lược”. Cùng với  ba quốc gia ở Đông Nam Á được liệt kê phía trên, 7 quốc gia khác cũng được thêm vào là Cam-pu-chia, Samudra-Pasai (bắc Sumatra), Java, Pahang, Pai-hua (Battak hay tây Java), San-fo-ch’I (Srivijaya hay Palembang ở trung tâm và nam Sumatra) và Brunei (Borneo). Sự bao gồm bốn quốc gia cuối cùng rất ấn tượng. Tất cả bốn quốc gia này có lẽ đều là chư hầu của đế chế Majapahit của Java. Điều thú vị là việc hoàng đế đã nhận thức từ năm 1371 rằng Bru-nây là chư hầu của Java và có lẽ từ năm 1378 cả Srivjaya cũng thế. Nhưng ông ta khăng khăng giữ cả hai vương quốc trong danh sách tới tận năm 1395 và  không công khai thừa nhận Srivijaya như là chư hầu của Java tới tận năm 1397.


REPORT THIS AD

Ở phiên bản về sau, hoàng đế cũng phân biệt giữa các quốc gia này và diễn đạt rằng chỉ có Cam-pu-chia và Xiêm đã có mối quan hệ lành mạnh với đế chế Minh. Việt Nam không được sủng ái và bị giới hạn triều cống 3 năm một lần. Champa và các quốc gia phương nam còn lại đã lừa hoàng đế bằng việc chứa chấp những thương nhân cướp biển trong sứ đoàn triều cống của họ. Các sứ đoàn này đã nhiều lần  bị nhắc nhở chấm dứt những trò lừa đảo như vậy từ năm 1375 tới 1379 trước khi tục lệ chấm dứt. Rõ ràng là hoàng đế nhận thức được rằng thương mại là mục đích chính ẩn đằng sau việc phái các sứ đoàn tới Trung Quốc nhưng ông muốn các ông vua nước ngoài thận trọng về điều đó. Cuối cùng sự ám chỉ đặc biệt tới các quốc gia “nước ngoài” và sự đề cập đến “các quốc gia nhỏ Nam man” đã bị lơ là. Trong việc lập danh sách theo tên 15 quốc gia không bị xâm lược, phiên bản cuối cùng này tỉ mỉ hơn phiên bản trước đó mặc dù không cần thiết phải chính xác hơn trong việc phản ánh thực tế chính trị trong khu vực. Cũng không chắc sự bỏ sót “nước ngoài” là cố ý hay không nhưng sự bỏ sót này đã cho phép Triều Tiên và Việt Nam nằm trong danh sách và hoàng đế chắc chắn đã nhận thức được rằng cả hai quốc gia đều có thể bị xâm lược bằng đường bộ.

Triều Minh cũng thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia ở phía nam nơi có thể tiếp cận bằng đường bộ. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã biết về các quốc gia nước ngoài phía sau Vân Nam từ các tư liệu của nhà Nguyên. Năm 1371 khi ông ta gửi các sứ đoàn đi mọi ngả, có lẽ ông ta đã gửi một sứ đoàn tới Burma đi qua Việt Nam. Sứ đoàn này bị tắc giữa đường bởi cuộc tấn công xâm lược Champa của Việt Nam và không tới được Burma sau khi mất đến hơn hai năm ở Việt Nam. Trong thời gian này 3 trong số 4 sứ giả đã chết. Năm 1373, người sống sót duy nhất đã trở về12. Kết quả là không có cố gắng nào tiếp theo được tạo ra nhằm liên lạc với Burma cho dù hoàng đế nghĩ rằng Burma là quốc gia quyền lực nhất sau Việt Nam và có lẽ ông ta đã mong muốn kết đồng minh với Burma để chống lại người Mông Cổ khi ấy vẫn kiểm soát Vân Nam. Khó mà biết được liệu hoàng đế đầu tiên của nhà Minh có ý định sáp nhập Vân Nam vào đế chế  nếu nó không thuộc quyền kiểm soát của hoàng tử Mông Cổ ngang ngạnh hay không. Chắc chắn một điều rằng trên thực tế Vân Nam vẫn nằm dưới sự kiểm soát của người Mông Cổ và điều đó thúc giục hoàng đế sớm hay muộn cũng tấn công nó. Sau thành công của cuộc tấn công xâm lược năm 1382, chính sách chỉ định các viên chức trung ương tới cai trị các nhóm người thiểu số ở trong vùng của nhà Nguyên đã được sửa đổi. Hệ thống cơ quan thổ dân (T’u-ssu) được mở rộng sát đến biên giới đế chế và các ông vua địa phương hay các tù trưởng được công nhận như là người được ủy nhiệm của triều đình ở nhiều cấp độ để  thay mặt hoàng đế cai trị trên danh nghĩa. Bằng cách này, một hệ thống bổ nhiệm được xây dựng. Nó làm mờ đi sự khác biệt giữa chư hầu nước ngoài và khu vực tự trị, nơi cách xa sự kiểm soát trực tiếp của hoàng đế. Do đó, việc tạo ra một số lượng lớn các khu vực Shan-Lao-Tai đã dẫn tới tình hình kì lạ của việc có ông vua của Hsien-lo (Ayuthia hay Xiêm) được công nhận như là vua (kuo wang) nhưng không có bất kì ông vua nào của Shan-Lao-Tai, Burma hay Mon. Các tộc người này chủ yếu được trao danh hiệu quân sự như khâm sai bình định và được coi như là thuộc cấp trực tiếp của vua Minh13.

Sự thay đổi ấn tượng nhất trong chính sách đối ngoại trong thời kì này là quyết định của nhà Minh không công nhận Burma như là một vương quốc (kuo). Quyết định này là kết quả từ chính sách của nhà Minh khuyến khích sự cai trị gian tiếp, trong khi vẫn tiếp tục thu hẹp địa vị của các ông vua địa phương ở tây nam Trung Quốc. Sau khi xâm chiếm Vân Nam, chính sách này cũng được xác nhận đối với các lãnh thổ xa hơn ở phía nam. Năm 1393 sau khi liên lạc cuối cùng cũng được tái xác lập thông qua  công quốc Chiengmai (trên danh nghĩa là sự bình định của nhà Minh), Burma đã gửi một sứ giả tới Trung Quốc. Năm 1394 vua ở Ava được chỉ định làm khâm sai bình định trong lãnh thổ của ông ta. Không hề có sự bàn luận nào về việc tái lập Burma trở lại địa vị của một vương quốc. Triều Minh nhận ra rằng kể từ khi người Mông Cổ phá hủy vương quốc người Miến ở Pagan, nhiều nhà nước Shan đã được thành lập (thậm chí vương quốc Ava bị cai trị bởi một nhánh của hoàng gia Shan) và vương quốc vĩ đại của người Miến đã vỡ ra từng mảnh.

Triều Minh tiếp tục chính sách duy trì các nước này trong tình trạng yếu và bị chia rẽ. Như hoàng đế nhà Minh đã thấy, nhà nước Maw Shan của Lu-ch’uan là mạnh nhất và đáng sợ nhất trong số các công quốc này14. Nó nằm ở nơi cách xa Đại Lí và  kiểm soát những dải đất rộng lớn của vùng đất trên lưu vực sông Salween. Nó cũng đang cố gắng tiêu diệt Ava và thống nhất các nhà nước Shan khác dưới sự lãnh đạo của mình. Về sau, một vài năm sau khi xâm chiếm Vân Nam, hoàng đế đã hành động để kiềm chế nhà nước này và đập tan sức mạnh của nó. Triều Minh cũng đã thiết lập 3 Hội đồng bình định Shan-Tai, hai hội đồng kia là Ch’e-li (Sipsong Banna và các vùng ở Vân Nam, Burma và Lào cùng vùng xung quanh) và Chiengmai (Pa-pai). Chiengmai đã cung cấp  mối liên hệ ngoại giao đầu tiên với triều đình Burma tại Ava. Việc trao tặng danh hiệu cho vua Shan của Ava là một bước đi khác trong chính sách kiềm chế nhà nước Maw Shan. Sau năm 1402, công việc được dành cho con trai của hoàng đế, hoàng đế Vĩnh Lạc, để hoàn thành việc xé nhỏ vương quốc của người Miến cũ bằng việc nâng hai nhà nước Shan có đường biên giới với Lu-ch’uan lên địa vị là Hội đồng bình định. Nhưng hoàng đế Vĩnh Lạc lại là kiến trúc sư của chính sách hiếu chiến hơn điều mà cha ông ta đã không chấp nhận.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch



6  MSL, T’ai-tsu shih-lu, trang 244.

7 MS, 321, trang 8309-8311; xem thêm Chiu Ling-yeong et al, Ming shih-lu chung chih Tung-nan-ya shih-liao, vol.I(Hong Kong, 1968), trang 3, 7, 15, 17, 25, 28, 30, 35, 41, 48, 50-51, 56, 60-64.

 

8  Cái nhìn của nhà Minh về mối quan hệ được phác họa từ MSL và MS (xem chú thích 7 ở trên). Thật thú vị khi so sánh nó với cái nhìn của Việt Nam có mặt trong Đai Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Chen Ching-ho biên tập (Tokyo, 1984) Vol I, trang 436-470. Đồng thời xem John K. Whitmore, Vietnam, Hồ Quý Ly, and the Ming (1371-1421), Yale Southeast Asia Series, New Haven, 1985, trang 16-36.

9 Xem O.W. Wolters, The fall of Srivijaya in Malay History (Ithaca, 1970) và Early Indonesian Commerce: A study of the Origins ò Srivijaya (Ithaca, N.Y., 1967).

 

10 Về âm mưu của Hu Wei-yung, xem J.Langlois, “The Hung-Wu reign, 1368-1398” trong F.U. Mote và D.C.Twitchett (biên soạn), The Cambridge History of China, Vol. 7, The Ming Dynasty, Part 1 (Cambridge, 1988), trang 137-42.

 

11 Ming Tai-tsu, Huang Ming Tsu-hsun lu (1373), in lại trong Ming-ch’ao k’ai-kuo wen-hsien, III, trang 1686-1687. Phiên bản cuối cùng chỉnh sửa năm 1395, Tsu-hsun, III, trang 1588-1591. Chính sách  dứt khoát về “ các nước ngoài Man và Di ở trên biển tách khỏi chung ta bởi núi và biển và ở nơi rất xa” lần đầu tiên được nói ra vào ngày 30 tháng 10 năm 1371 (Hsin-wei vào tháng 9). Xem Tai-tsu pao-hsun ( lời giới thiệu năm 1418), được thu thập trong  Huang Ming pao-hsun do Lu Pen và những người khác biên soạn năm 1602, chương 6 “Yu I Ti”.

 

12 MSL, T’ai-tsu shih-lu, trang 86; Chiu Ling-yeong et al , Ming shih-lu chung  chih Tung-nan-ya shih-liao, vol. I. p.18.

 

13  MS, 313-315, chương về t’su-ssu vủa Vân Nam. Mặc dù ông vua tại Ava trở nên “khâm sai bình định Mien-tien” vào năm 1394, Ming T’ai-tsu, T’ai-tsu shih-lu, 242 và 244 vẫn nói về vua Mien, “vua của Miến” trong các năm 1395 và 1396. Trong tất cả các Shih-lu sau, Burma được gọi là “Miến Điện” và không bao giờ được coi là vương quốc.

 

14 Xem Chien Ku-hsun, Pai I Chuan,  được chú thích bởi Chiang Ying-liang (Côn Minh, 1980) cung cấp hồ sơ đầy đủ về nhà nước Maw Shan. Một phiên bẳn ngắn nằm trong MS, 314, trang 8111-8114.

 



Cũ hơn Mới hơn