Trung Quốc và Người Trung Quốc ở nước ngoài (I)

Tác giả: Wang Gungwu

Times Academic Press, 1991

Nguyễn Quốc Vương dịch

Chương 3.  Quan hệ ngoại giao của nhà Minh- Đông Nam Á

Các hoàng đế của nhà Minh Trung Quốc đã không công nhận khu vực ngày nay được biết tới như là Đông Nam Á (Xem bản đồ trang 72). Họ coi quần đảo phía đông của Bru-nây (thời hiện đại là Borneo) là một phần của Biển Đông trong khi tất cả các nhà nước duyên hải khác được coi là một phần của Biển Tây, nơi trong một thời gian dài bao gồm cả các quốc gia có đường biên giới với Ấn Độ Dương. Những nước nơi bao gồm Miến Điện, Lào và bắc Thái Lan  ngày nay được coi là một nhóm tương đối khác với phần còn lại.

Tất nhiên, cái nhìn từ kinh đô Nam Kinh hay Bắc Kinh luôn luôn là thứ lấy Trung Quốc làm trung tâm. Các quốc gia nước ngoài không có sự tồn tại có ý nghĩa nào trừ phi các ông vua ở đó có mối quan hệ với hoàng đế của Trung Quốc. Những nhân tố như khoảng cách giữa quốc gia với kinh đô, quốc gia đó có chung đường biên giới với đế chế hay không, nó có quan trọng đối với việc phòng thủ đế chế hay không cũng được đánh giá cao. Cũng có sự khác nhau mang tính kĩ thuật: những quốc gia gửi sứ đoàn tới Tuyền Châu ở Phúc Kiến được phân biệt khác với các quốc gia đi vào qua Quảng Đông và các sứ đoàn đi trên bộ qua các tỉnh như Quảng Tây và Vân Nam cũng có sự khác biệt. Mặc dù triều đình Trung Hoa liên tục nhấn mạnh những nguyên tắc chung của các mối quan hệ đối ngoại, những gì còn lại quan trọng nhất trong việc xác định chính sách ngoại giao đối với Đông Nam Á là tình hình chính trị, thứ đã thịnh hành tại nhiều thời điểm khác nhau trong suốt vương triều.

Trong suốt 60 năm đầu dưới triều nhà Minh, những bài học và tiền đề học từ chính sách của nhà Nguyên là quyết định trong việc hình thành chính sách đối ngoại; nó thể hiện thái độ và sự lo ngại của những kẻ cai trị Trung Nguyên, những người đã lập nên triều Minh, đặc biệt là sự dè chừng đối với Mông Cổ. Dọc theo bờ biển, những rắc rối liên quan đến cướp biển và buôn bán trên biển đã dẫn tới lệnh cấm đi lại. Cũng có những rắc rối đối với Việt Nam và Champa cũng như mối quan hệ giữa hai quốc gia này. Sự xâm chiếm Vân Nam (cho tới năm 1382 nó vẫn nằm dưới sự kiểm soát của hoàng tử Mông Cổ Liang)[1] và tình trạng lộn xộn dọc biên giới tây nam với Burma và Lào cũng góp phần định hình chính sách đối ngoại. Cuối cùng là các cuộc viễn chinh của viên đô đốc hoạn quan Trịnh Hòa (1371-1433) và ảnh hưởng mà chúng tạo ra đối với Đông Nam Á. Sau khoảng năm 1435, triều đình dần dần mất đi mối quan tâm đối với phía nam. Khi kinh đô được chuyển tới Bắc Kinh vào đầu thế kỉ 15, những mối liên hệ với các quốc gia ở Đông Nam Á và xa hơn đã trở nên hiếm hoi. Ngoại trừ một vài thập kỉ trong thế kỉ 16 khi người Nhật, với sự giúp sức của hải tặc Trung Quốc, cướp bóc dọc vùng duyên hải phía nam Trung Quốc, sự tập trung của chính sách đối ngoại hoàn toàn dành cho việc phòng thủ phía bắc. Sự xuất hiện của người châu Âu đã thêm vào một khía cạnh mới đối với thương mại biển nhưng nó ít tạo ra sự thay đổi thái độ đối với mối quan hệ đối ngoại dành cho các quốc gia ở phía  nam.

Các tư liệu nhà Minh phản ánh rất rõ sự tập trung của triều đình vào những mối quan hệ với Đông Nam Á cho tới giữa thế kỉ 15. Triều vua đầu tiên đã nhìn thấy sự  khích lệ của mối quan hệ triều cống chính thức nhưng cũng cố gắng giới hạn sự mở rộng liên lạc với nước ngoài. Tuy nhiên, dưới triều vua Vĩnh Lạc, một loạt các hoạt động mới đã được ghi lại. Văn học phái sinh cũng củng cố bức tranh này.

Học thuật hiện đại vào 60 năm đầu của vương triều đã được làm phong phú bởi mối quan tâm gần như là phổ biến đối với các cuộc viễn chinh trên biển của Trịnh Hòa xuyên qua Đông Nam Á tới duyên hải Ấn Độ Dương. Thêm nữa sự xâm lược và kiểm soát của nhà Minh ở Việt Nam trong 20 năm đã tạo ra thêm nhiều tư liệu gốc và văn học phái sinh. Tuy nhiên,  sau những năm 1430, nguồn tư liệu gốc hầu như là không viết gì về mối quan hệ với các vương quốc phương nam. Các nhà buôn và thương nhân ở bờ biển Trung Quốc đã tìm kiếm đối tác ở Quảng Đông và Phúc Kiến nhưng những liên lạc này chỉ thi thoảng được ghi lại khi họ đưa ra yêu sách lợi ích bất công bằng hay xâm phạm chính sách đã được đặt ra.

Các chính sách đầu triều Minh.

Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đặc biệt quan tâm tới những bài học học được từ chính sách của nhà Nguyên. Người Mông Cổ đã tấn công  vương quốc ở tây nam Đại Lí từ đông Tây Tạng và đã đe dọa Việt Nam như là một phần của công cuộc chuẩn bị xâm lược Nam Tống. Sau khi xâm chiếm Nam Tống, họ yêu cầu sự thần phục từ các vua của Việt Nam, Burma, Shan-Lao-Tai[2], Champa và thậm chí cả Java. Khi những ông vua này không đáp lời bằng  sự kính trọng, người Mông Cổ xâm lược quốc gia của họ. Mặc dù các chính sách hiếu chiến này bị từ bỏ sau cái chết của hoàng đế Khubilai (1260-94), chính sách khuyến khích thương mại biển của nhà Nguyên đã không hấp dẫn người sáng lập triều Minh. Thương mại tư nhân không bị kiểm soát và hòa trộn với thương mại triều cống của triều đình. Điều này, theo quan điểm của ông ta đã tạo ra sự hỗn loạn và không ổn định dọc theo biên giới duyên hải nơi ông thừa kế cùng vương miện.

Chính sách của nhà Nguyên đối với các vương quốc phía nam là dựa vào giả định rằng vương triều không phải đối mặt với mối đe dọa nào từ biên giới phía bắc. Các vua Nguyên không thể tiến hành đe dọa các ông vua ở phía nam và mở rộng quyền lực của mình chừng nào điều đó là khả thi. Ông vua sáng lập nhà Minh đã nhận ra bản thân ông đang ở vào vị trí ngược lại: ông phải đối mặt với mối nguy hiểm từ phía bắc. Ông ta cần phải đảm bảo an ninh phía nam và biên giới duyên hải để có thể tập trung vào việc bình định liên minh lớn Mông Cổ-Thổ Nhĩ Kì ở phía bắc và phòng thủ đường biên giới dài phía bắc giữa tây Mãn Châu và đông Tây Tạng. Ông ta không thể đồng thời tiến hành chiến tranh với các nước lân cận phía nam.

Từ quan điểm này, vị trí chiến lược của triều Minh có thể sánh được với triều Hán, Đường và Tống. Các cố vấn của hoàng đế đầu tiên nhà Minh khuyên ông xem xét các tư liệu lịch sử của các triều đại trước để tìm ra giải pháp. Ông đã bị thuyết phục để tìm kiếm quá khứ phục vụ cho hiện tại trong phần lớn các khía cạnh xây dựng đế chế của mình và chính sách của ông đối với phương nam cũng không phải là ngoại lệ. Ông đã làm sống lại thuật hùng biện coi Trung Quốc là trung tâm trước đó trong quan hệ đối ngoại và rất nhiều các nghi thức cổ mà  các vua Hán, Đường, Tống  trước kia đã dùng để tiếp đãi các sứ đoàn triều cống đến từ các nước chư hầu. Chính sách của ông rất khác so với chính sách của nhà Nguyên khi ông tránh phô bày vũ lực, yêu cầu thần phục và cố gắng khẳng định sự kiểm soát gián tiếp đối với các nước chư hầu. Sự nhấn mạnh của ông ta,  sự thừa nhận mang tính biểu tượng đối với vị trí trung tâm vũ trụ của Trung Quốc và sự kế vị phù hợp của ông ta đối với quyền lực.

Tuy nhiên, có một nhận thức rõ ràng rằng tình hình dưới triều Minh đã khác với tình hình ở các triều đại trước đó. Không giống như hoàng đế Cao Tổ (206-195 TCN) và Vũ Đế (140-87 TCN), hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã thừa kế nam Trung Quốc  nơi đã  trở nên đông dân và đang gặp phải những rắc rối trong phòng thủ bờ biển. Không giống như hoàng đế đầu tiên của triều Đường và con ông ta là Thái Tông (626-649), hoàng đế đầu tiên của triều Minh không phải là một võ sĩ chuyên nghiệp có dòng dõi quý tộc từ  vùng tây bắc, người di chuyển dễ dàng và đầy tự tin giữa những người đàn ông du mục từ đồng cỏ này tới đồng cỏ khác. Đối với ông ta đồng cỏ duy trì  sự xa lạ và thù địch. Và không giống như người thành lập vương triều Tống, ông ta đã kiểm soát được toàn bộ Vạn Lý Trường Thành. Triều Minh chưa bao giờ bị bất lợi như triều Tống đã từng nhờ vào việc kẻ địch đã bị ngăn lại trước lãnh thổ Trung Quốc. Do đó hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã không phụ thuộc hoàn toàn vào các mô hình cũ và đã phải đổi mới trong kế hoạch phòng thủ và chính sách đối ngoại thậm chí đối với cả vùng phía nam thanh bình của ông ta. Ông ta đã phải đánh giá phần lớn từ các nguyên tắc đầu tiên  làm thế nào để đối phó với các nước láng giềng trên bộ ở phía nam dưới Quảng Tây, Vân Nam và các quốc gia trên biển vốn có thuyền vào các cảng Quảng Đông và Phúc Kiến.

Sự liên lạc đầu tiên của ông ta với các vương quốc phương nam được tiến hành vào đầu năm 1369 và về cơ bản là các bản thông cáo về chiến thắng của ông ta đối với người Mông Cổ và về sự thành lập hợp pháp của vương triều4.  Điều đáng chú ý là tuyên bố này được gửi tới Triều Tiên và Việt Nam vào cùng một ngày và sau đó được gửi tới Champa, Java, Nam Ấn Độ và Nhật Bản một tháng sau đó. Vào thời gian đó, Champa đã phái sứ đoàn đầu tiên tới Trung Quốc và trở thành nhà nước đầu tiên ở Đông Nam Á làm như thế. Và nữa người ta cũng khám phá ra rằng sứ giả Nhật Bản cuối cùng  tới triều đình nhà Nguyên vẫn còn đang  ở Phúc Kiến khi nhà Nguyên sụp đổ và sứ giả nhà Minh tới Java đã hộ tống ông ta trở lại nhà. Việt Nam trả lời nhanh chóng nhưng vua của Việt Nam chết chẳng bao lâu sau khi cử sứ đoàn tới triều Minh. Hoàng đế rất quan tâm và sau khi quan sát lễ tang đã xác nhận cháu của ông vua qua đời làm người kế nhiệm.

Trong tất cả các trường hợp, sự căng thẳng là truyền thống và mối quan hệ bình thường được tái lập  sau một thế kỉ lầm lạc dưới sự cai trị của triều Mông-Nguyên. Đặc điểm quan trọng của chính sách đối ngoại của nhà Minh trong thời kì này là việc sử dụng sự tu từ mang tính quy ước và sự phục hồi các nghi thức thích hợp: những điều này bao gồm cả việc tặng quà triều cống và trao quà của hoàng đế đáp lại, sắc phong cho các ông vua nước ngoài và thậm chí là tặng cho họ các cuốn lịch của nhà Minh. Các nghi thức rất phức tạp nhưng không đòi hỏi sự thần phục thực sự đối với sự kiểm soát của triều đình. Mức độ của sự thần phục mang tính biểu tượng sau đó sẽ được miêu tả chi tiết nhưng các văn bản này chủ yếu cũng chỉ tập trung vào các quy định tiếp nhận và phái đi các đoàn sứ thần. Nhưng ít nhất cũng có một đặc điểm mới đi xa hơn phong tục của Đường, Tống ở Đông Nam Á. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã đưa phong tục đăng kí các con sông, ngọn núi của Việt Nam và Champa (cùng với sông núi ở Triều Tiên) và thờ cúng thần linh của chúng cùng với thần linh của những con sông, ngọn núi ở Trung Quốc và phong tục này sau đó đã được mở rộng xa hơn tới vùng phía nam của Đông Nam Á và sau đó tới phía tây tận Srilanka. Mặc dù  nó mang tính biểu tượng và được dùng để thể hiện sự nhân từ trong việc cầu chúc cho sự trường thọ và an toàn của các vị vua,  sự thịnh vượng của vùng đất của họ, sự đăng kí và cầu cúng này có ngụ ý như một phương tiện diễn đạt sự tuyên bố trách nhiệm của triều đình đối với toàn bộ đất đai trong thiên hạ, thứ chưa bao giờ được tuyên bố rõ ràng trước đó5.

Tuy nhiên đằng sau các nghi thức là sự thực khác biệt với thuật tu từ hùng biện về sư hòa thuận và thịnh vượng.  Vẫn tiếp tục có cuộc chiến giữa Việt Nam và Champa, vẫn có sự cai trị của hoàng tử Mông cổ đối với Vân Nam và sự căng thẳng đáng kể giữa  các công quốc bộ lạc dọc theo biên giới của nó và vẫn có  các cuộc chính biến giữa các quốc gia trong vùng biển Java và eo biển Malacca. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh nhanh chóng khám phá ra rằng ông ta đã trở nên có can dự vào cuộc chiến thứ nhất và thứ hai trong số các cuộc chiến này đế chế của ông cuối cùng đã bị phân chia bởi cuộc chiến thứ ba.

Quả thật, trong phần còn lại của thời nhà Minh, khu vực hiện nay được gọi là Đông Nam Á đã đặt ra ít nhất bốn vấn đề khác nhau đối với triều Minh, mỗi vấn đề trong số đó đã xác định các khía cạnh nhất định của mối quan hệ giữa triều đình với các nước ở phương nam. Chúng có thể được tóm tắt ở dưới đây.

Trước hết, mối quan hệ giữa Việt Nam và Champa, thứ kết thúc bằng việc Việt Nam xâm chiếm Champa, đã phát triển thành mối quan hệ thù địch với Cam-pu-chia và sau đó là sự kình định với Thái Lan. Mặc dù các cuộc tranh chấp diễn ra rất xa khỏi biên giới Việt Nam-Trung Quốc nhưng nó đã có ảnh hưởng tới chính sách của triều Minh đối với nước ngoài.

Thứ hai, có các vấn đề đặc biệt trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Những vấn đề này có liên quan đến vấn đề thứ nhất nhưng phần lớn là liên quan đến biên giới giữa hai quốc gia cũng như chính sách của Việt Nam đối với các lãnh thổ bộ tộc ở phía tây Việt Nam và phía nam của nhà Minh. Thất bại trong việc hấp thụ Việt Nam vào đế chế là sự kiện ấn tượng nhất trong lịch sử Đông Nam Á lục địa.

Thứ ba, các hoạt động trên biển của đế chế Minh, cả quân sự và thương mại có liên quan đến các nhà nước duyên hải ở biển Nam Trung Hoa từ Luzon tới Thái Lan và các cảng Champa, nhưng chúng cũng có  liên quan tới các quốc gia xa hơn eo biển Malacca và trong một thời gian ngắn trong thế kỉ 15, nó đã đem các nhà nước có đường biên giới với Ấn Độ Dương  và xa hơn tới Ả Rập và Đông Phi vào mối liên lạc gần gũi. Sự kết nối này cũng mang các thương nhân Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư tới Trung Quốc như là một phần của các sứ đoàn chính thức và sau đó đã mở ra con đường cho các hoạt động thương mại và chính trị mới của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan dọc theo bờ biển phía nam.

Thứ tư, triều đình nhà Minh tuyên bố cai trị các nhà nước phía tây nam mà ngày nay là Miến Điện và Lào khi họ cai quản tỉnh Vân Nam thông qua các cơ quan bản xứ (Tu-ssu). Hệ thống cai trị này là một di sản của triều Nguyên, thứ được thành lập khi người Mông Cổ sáp nhập vương quốc Nam Chiếu ( Nanchao) của Đại Lí vào đế chế của họ như là một tỉnh của đế chế. Một sự phát triển đã xảy ra ngay trước khi triều Minh được thành lập rất ấn tượng. Cùng với Việt Nam và Burma, tổ tiên của người Thái hiện đại đã mở rộng xuống phía nam. Vương quốc Ayuthia được thành lập năm 1350. Nó mở rộng xuống thung lũng Menam và kết hợp nhà nước Hsien (Syam hay Sukhbothai) ở phía bắc với nhà nước Lo-ho (Lopburi) ở phía nam để lập ra vương quốc được biết đến dưới cái tên Hsien-lo trong các tư liệu của Trung Quốc.

Khu vực Đông Nam Á chỉ trở thành đối tượng của chính sách đế quốc ở Trung Quốc theo sau các cuộc viễn chinh của hoàng đế Mông Cổ Khubilai đánh Đại Lí, Burma, Việt Nam, Champa và Java. Một loạt các sự kiện kịch tính này đã để lại cho vùng những trải nghiệm sắc nhọn với người hàng xóm Trung Quốc đầy sức mạnh và hiếu chiến. Do đó một hoàng đế mới của Trung Quốc như người sáng lập triều Minh, người có thể đánh bại người Mông Cổ, trở thành người được đối xử với sự kính trọng. Trong bối cảnh đó thì điều này là việc các lá thư của hoàng đế đầu tiên của nhà Minh gửi tới các vua Đông Nam Á đã được đọc.

Những sáng kiến của hoàng đế đầu tiên nhà Minh nhằm tìm kiếm sự thừa nhận của các nước láng giềng về sự hợp pháp của mình có thể  là sự đối lập với tham vọng của ông ta trong việc giới hạn nghiêm ngặt các mối liên lạc với nước ngoài.

Những giới hạn đặt ra được bào chữa bằng các khái niệm Nho giáo nhưng lý do thực tế thì quan trọng hơn. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh tin vào   sự kiểm soát từ trung ương đối với tất cả các vấn đề đi liền với các mối quan hệ phía biên giới đế chế. Trong khi mối quan tâm chủ yếu của ông ta là đảm bảo vương triều và đế chế của mình, ông ta  cũng quan tâm tới kiểm soát tất cả ngoại thương nhằm đảm bảo rằng thương mại dọc theo các đường biên giới nhạy cảm sẽ không kinh động luật lệ và trật tự vương quốc của ông ta. Mặt khác  ông nhấn mạnh  tính ưu việt của  mối quan hệ chính thức với các ông vua nước ngoài và cấm đoán thương mại tư nhân. Chính sách này không có nghĩa rằng buôn bán ở nước ngoài là không thể, nó đơn giản biến các hoạt động đó thành bất hợp pháp, bí mật và phần lớn không được ghi lại. Các khía cạnh thương mại  của các mối quan hệ đối ngoại không cần phải đề cập ở đây. Chương này sẽ tập trung vào  sự hoạt động của hệ thống triều đình nhà Minh khi nó được áp ụng vào các quốc gia láng giềng Đông Nam Á.

Mục đích trực tiếp đằng sau việc gửi  sứ giả triều đính tới Đông Nam Á với tin tức về sự lên ngôi  hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã lọc ra một cách nhanh chóng những nước nào muốn có mối quan hệ gần gũi với nhà Minh và nước nào không, nước nào là phụ thuộc và thân thiện và nước nào là kẻ địch tiềm ẩn. Nó nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng không giống như các ông vua Mông Cổ ban đầu của triều Nguyên, hoàng đế đầu tiên của nhà Minh ít quan tâm tới sự thần phục nghi thức đối với Thiên tử hơn là đối với sự thừa nhận chính thức đối với vương triều mới của  ông ta. Ông ta tập trung cố gắng vào phạm vi tương đối nhỏ liên quan tới ảnh hưởng và duy trì giới hạn số lượng các sứ đoàn triều cống bằng cách trung thành với ý tưởng cổ điển rằng cứ ba năm sứ đoàn đến một lần đối với các quốc gia láng giềng và mỗi thế hệ một lần đối với các nước còn lại. Ông ta khuyến khích sự chú ý đối với ba khía cạnh của những mối quan hệ như thế: sự nhạy cảm đối với nhu cầu thể hiện sự tôn trọng thích hợp đối với Thiên tử, sự nhanh chóng trong việc ứng phó với các vấn đề biên giới,  và nhận thức về bất cứ mối liên hệ nào giữa các quyền lực nước ngoài và chính trị trong nước. Ở hai khía cạnh khác của mối quan hệ đối ngoại, ông đã đặt ra những chính sách dứt khoát: Không tấn công các quốc gia trên biển và mối quan hệ triều cống không được tiến hành vì lợi nhuận và không được nhập làm một với thương mại tư nhân.

Trong tất cả các chính sách này, hoàng đế đã đổi mới và quả thật đã đặt nền móng cho mối quan hệ Trung Quốc-Đông Nam Á trong 5 thế kỉ tiếp theo. Khía cạnh đổi mới trong chính sách đối ngoại của ông ta cần phải được giải thích.  Sự nhạy cảm của ông về sự tôn kính đối với Thiên tử xuất hiện như quy ước nhưng  những hành động của ông ta không phải là tục lệ hay là các nghi thức. Cảm giác về đạo đức và mục đích chính trị  đã được đặt đằng sau các sứ đoàn tới Trung Quốc và từ Trung Quốc gửi đi.  Cảm thức mục đích đạo đức này được chứng minh rõ ràng nhất trong rất nhiều các sứ đoàn được phái tới Việt Nam, một quốc gia mà bản thân nó rất nhạy cảm đối với câu hỏi về nền độc lập và sự tự tôn sau một thế kỉ có mối quan hệ tế nhị với các vua Mông Cổ của triều Nguyên. Thời gian cai trị của vị vua đầu tiên của nhà Minh đã trùng khớp với những thập kỉ đầy rắc rối của nhà Trần. Hai sứ đoàn đầu tiên ông ta phái tới Việt Nam năm 1369 đã đến nơi khi bạo lực xảy ra liên tiếp. Hoàng đế nhà Trần là Dụ Tông vừa chết và con của người anh cả đã chết  được chọn là người kế vị ngai vàng. Bằng sự quan tâm lớn và nghi thức phức tạp, triều đình nhà Minh chính thức công nhận người kế vị này. Chưa đầy một năm sau, vị vua mới được sắp đặt này bị phế truất và xử tử. Triều đình nhà Minh không được thông báo về việc đó. Thay vào đó, vua mới là Nghệ Tông đã cố gắng đánh lừa vị vua đầu tiên của nhà Minh, người đã nổi điên khi sự thật cuối cùng được tiết lộ.


[1] Để biết sự xâm chiếm của nhà Minh đối với Vân Nam, xem Langlois “The Hung-wu reign”, The Cambridge History of China, vol 7, trang 143-146.

[2] Tôi đã sử dụng các nhà nước Shan-Lao-Tai để miêu tả các vương quốc hoặc lãnh thổ bộ lạc ở Burma, Lào, bắc Thái Lan và Vân Nam những nơi không nằm dưới sự kiểm soát của Ayuthia (đó là Hsien-lo hoặc Xiêm). Đối với các ông vua Ayuthia, tôi đã dùng Tai hoặc Siamese. Nói một cách chặt chẽ thì Tai được dùng đối với những người  nói ngôn ngữ Thái ở Vân Nam nhưng dưới thời nhà Minh ranh giới giữa Shan, Lao, Tai là không rõ lắm. Tuy nhiên nó sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu tôi chỉ dùng Thai cho những người cai trị Ayuthia hoặc bị cai trị bởi Ayuthia.

4 MSL, T’ai-tsu shi-lu, trang 36-47.

5 MSL, T’ai-tsu shih-lu, trang 47,48.


Cũ hơn Mới hơn