Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống”: mở rộng biên độ khái niệm về chính trị Đông Á lịch sử (4)



Tác giả: Zhang Feng

Zhang Feng là phó giáo sư khoa Quan hệ quốc tế , đại học Tsinghua.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

 

Có hai điểm khiến cần thiết phải phát triển các khái niệm và cơ cấu giải thích cả khía cạnh thuộc về hệ thống triều cống và phi triều cống của chính trị Đông Á lịch sử.

 

Ví dụ như chúng ta cần tiến xa hơn các khái niệm truyền thống như “thứ bậc” để hiểu các mối quan hệ đối ngoại của TQ. Như Wang Gungwu chỉ ra trước đó một thời gian dài: sự đối phó của TQ truyền thống với những người không phải là người Trung Quốc thường được mô tả như là dựa trên các nguyên tắc có tính thứ bậc. Điều này tôi tin là không thích hợp cho việc hiểu hệ thống triều cống. Quan trọng hơn là nguyên tắc về sự ưu việt cùng với nguyên tắc về an ninh và sự không vi phạm. Từ đó, rõ ràng rằng các thể chế của Trung Quốc không hề mềm dẻo như là nó thường được tạo ra bởi các nho sinh của lịch sử thế kỉ 19 (92).

Chuyển đến sự thực dụng của hệ thống triều cống, người ta có thể đưa ra một loạt các câu hỏi xuất phát từ sự thảo luận trước đó. Thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm hữu ích như thế nào khi nó là một giả thuyết phân tích đối với việc tạo nên chính sách đối ngoại ở đế chế Trung Hoa?

 

Chúng ta cần tới các giả thuyết nào? Tại sao chính sách đối ngoại của Trung Quốc được định ra đặc điểm bởi sự cứng nhắc tại các thời điểm nhất định và bởi sự thực dụng và mềm dẻo ở các thời điểm khác? Người ta có thể giải thích như thế nào biên độ khác thường của sự phong phú trong động cơ, chiến lược và mức độ ổn định trong các mối quan hệ của TQ? Người ta có thể nói rằng trật tự giữa TQ và các quốc gia đó được thiết lập trong cảm quan như thế nào? Cái gì là ấn tượng của sự thực thi triều cống và theo sau nó là các nghi thức nào? Cái gì ẩn sau triều cống và nghi lễ? Cuối cùng và tổng quát hơn, cái gì là mô hình của sự giao thiệp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng?

Câu hỏi hài lòng đối với các câu hỏi này bao gồm một bước lớn tới việc nhận dạng sự phức hợp của các mối quan hệ giữa Trung Quốc và các láng giềng, và mở rộng biên độ khái niệm của chúng ta về chính trị Đông Á lịch sử. Một khi sự phức hợp này được chỉ ra, sự không thích hợp của mô hình coi triều cống là trung tâm sẽ trở nên rõ ràng. Từ cái nhìn khoa học chính trị, chúng ta cần nhiều khái niệm  lâu dài về chính trị quốc tế hơn thứ giả định mang tính vô hạn “hệ thống triều cống”. Như trước đó tôi đã nhấn mạnh, bản thân hệ thống triều cống cần được giải thích thông qua các khái niệm cơ bản hơn thứ có thể dẫn đến các mức độ sâu hơn trong giải thích về chính trị Đông Á lịch sử. Những khái niệm này, cho dù là sức mạnh, an ninh hay văn hóa hay là thứ gì đó hoàn toàn mới tùy theo thời điểm nên có liên quan đến sự hiểu biết về cả chính trị triều cống và không triều cống giữa Trung Quốc và hàng xóm và có khả năng vược qua sự chia cắt mang tính phân tích được tạo ra bởi sự thực dụng của hệ thống triều cống.

Từ cái nhìn triều cống, chúng ta cũng cần xây dựng một cái khung bổ sung của các mối quan hệ phi triều cống thứ giải thích các mối quan hệ toàn diện giữa TQ và láng giềng. Một mô hình có khả năng giải thích cho cả khía cạnh triều cống và phi triều cống của các mối quan hệ đối ngoại của TQ rõ ràng là ưu việt hơn so với thứ chỉ có thể đảm nhận một vế.   Dựa trên những sự thảo luận trước đó, tôi sẽ gợi ý một số khái niệm sơ đẳng về một cái khung như thế như là điểm khởi đầu của một câu đố chính trị triều cống chủ yếu. hệ thống triều cống nên được nhìn nhận ở hai cấp độ (93).

Ở một mức độ nhất định nó là sự trình bày hay  nghệ thuật tu từ về sự trung tâm và ưu việt của Trung Quốc. Sự trình bày mang tính lấy Trung Quốc làm trung tâm như thế duy trì gần như suốt các triều đại Trung Quốc. Các hoàng đế TQ sử dụng ngôn ngữ thuộc về chủ thuyết lấy TQ làm trung tâm, thậm chí ở vào thời điểm khi các chính thể khác thử thách đế chế, để che dậy các mối quan hệ quyền lực đã thay đổi. Prasenjit Duara đã định ra đặc điểm các nỗ lực của TQ để che phủ các quan điểm lựa chọn về trật tự thế giới với thuật tu từ về vũ trụ luận như chiến lược phòng thủ của TQ (94). Ở một mức độ khác, hệ thống triều cống có thể được nhìn nhận như là mô hình về sự giao thiệp trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Nhưng đối lập với hệ thống triều cống như là một sự diễn giải phong kiến, đó là mô hình về mối quan hệ đối ngoại thể hiện sự phong phú lịch sử vĩ đại. Chúng rõ ràng là trái ngược trong những sự tiếp cận quan hệ đối ngoại trong suốt triều Đường hùng mạnh và triều Tống  suy yếu sau đó. Sự khác biệt cũng đáng chú ý trong mô hình các mối quan hệ đối ngoại trong các thời kì hùng mạnh tương đương như đầu Minh, Thanh.

Công việc phân tích ở đây là để giải thích sự khác biệt trong hệ thống triều cống dựa trên mức độ chức năng của nó như là một mô hình về các mối quan hệ đối ngoạihệ thống triều cống. Sự mập mờ của hệ thống triều cống do đó bao gồm sự giải thích tại sao sự trình bày duy trì một sự thường xuyên nhưng  sự biểu thị  thuộc về cách cư xử đã thể hiện sự khác biệt. Nó đưa ra sự thử thách mang tính phân tích về việc nghĩ ra một cái khung có thể đảm nhận cả bất biến mang tính tu từ và cả sự biểu thị mang tính cư xử.  Một cách để bắt đầu việc xây dựng một cái khung như thế là ấn định hai động cơ dành cho các hoàng đế TQ: tính chính thống và an ninh. Động cơ chính thống nảy sinh từ sự tự nhận mình là Thiên tử của các hoàng đế TQ, thứ được thông báo sâu hơn bởi khái niệm Trung Hoa Tianxia (nghĩa đen là “tất cả những gì dưới hạ giới-Thiên Hạ) và truyền thống lịch sử trong việc nhận thức TQ như là đến chế vũ trụ bao gồm cả thiên hạ này.

Sự cần thiết cho tính chính thống đã buộc các hoàng đế TQ tìm kiếm triều cống từ các vua nước ngoài để thể hiện địa vị của họ như là Thiên tử. Điều này giải thích tại sao thuật tu từ lấy Trung Hoa làm trung tâm duy trì bất biến trong lịch sử, thay đổi trong sự nhấn mạnh băng qua thời gian tùy theo sự cần thiết phải khẳng định tính chính thống. Động cơ chính thống cũng giải thích sự bất biến mang tính tu từ  bất chấp thực tế quyền lực ở một thời điểm được đưa ra bởi vì sự cần thiết cho tính chính thống là sự bất biến cho dù TQ mạnh hay yếu.

Nhưng động cơ chính thống nói cho chúng ta rất ít về chuyện TQ coi mình là trung tâm đối xử như thế nào hơn là việc nó sẽ thúc đẩy luận giải sự ưu việt của Trung Hoa. Liệu sự cần thiết tính chính thống dựa trên thuyết lấy TQ làm trung tâm có dẫn tới một chiến lược xúc phạm của sự chiếm đóng để chinh phục tất cả những nước không muốn thừa nhận sự ưu việt của TQ, hay thay vào đó là tinh thần  tự dối mình và hài lòng, thờ ơ hay thậm chí cô lập? .

 

Bởi chính nó sự chính thống lấy TQ làm trung tâm là vô hạn về các vấn đề này; chúng ta cần ít nhất động cơ an ninh như là một giả thuyết động cơ phù trợ, và kết nối hai giả thuyết này với sự thay đổi tình huống để đạt được sự ngụ ý mang tính cư xử. Động cơ an ninh được dựa trên giả thuyết rằng đế chế Trung Hoa, giống như các nước khác, phải lo lắng về an ninh của nó, và bị đe dọa trong suốt lịch sử bởi sự xâm lược của người du mục từ phía bắc hay cướp biển Nhật Bản trong thời Minh. Những  sự ngụ ý đối xử  có thể được suy ra khi động cơ an ninh được đi kèm với tình hình thực tế của TQ ở bất cứ thời điểm nào được đưa ra. Một TQ hùng mạnh (như đầu thời Minh) đã tạo ra một sự ứng phó với các mối đe dọa an ninh khác với sự ứng phó của một TQ yếu ớt (như nhà Tống). Cùng với tăng cường sự diễn giải triều cống thông thường, đầu triều Minh cũng trông đợi triều cống từ các vua nước ngoài, và sử dụng đến việc đe dọa nếu yêu cầu bị từ chối. Nó có chiến lược sử dụng từ xâm chiếm  hoàn toàn tới thuyết phục khéo léo, đối với các thử thách an ninh ở Mãn Châu, Mông Cổ và vùng duyên hải phía đông.

Trái lại Nam Tống, có thể làm rất ít để đeo bám triều cống như là nghệ thuật tu từ giữ thể diện hơn là thực thi triều cống đối với Jin để đảm bảo sự tồn vong. Tình hình thực tế khác nhau- hay cấu trúc của chính trị quốc tế- do vậy đã giúp giải thích các chiến lược khác nhau mà Trung Quốc sử dụng đối với láng giềng trong lợi ích đảm bảo an ninh. Bằng việc ấn định hai động cơ cho các hoàng đế Trung Quốc và suy luận các ngụ ý cư xử dưới tình hình thực tế của một thời kì được đưa ra, cơ cấu này có thể giúp giải thích cả sự bất biến và sự thay đổi trong chính trị triều cống ở phía TQ.  Tương tự việc đưa ra lý do và ấn định các động cơ thích hợp có thể được áp dụng đối với việc suy luận các mô hình cư xử củ các vua láng giềng TQ.

Một cơ cấu mang tính hệ thống có thể chỉ ra các mô hình của sự giao thiệp giữa Trung Quốc và láng giềng và các động cơ và chiến lược ẩn dưới của họ có thể được phát triển sau đó. Hơn nữa, một cái khung như thế, bằng việc giải quyết vấn đề an ninh cũng như động cơ chính thống, có thể giải thích các khía cạnh của chính trị Đông Á lịch sử thứ không phải là “triều cống”.

Điều này bao gồm cả cách thức thuộc về khái niệm hóa chính trị Đông Á lịch sử và một sự lựa chọn đối với sự thực dụng của hệ thống triều cống, thứ tôi đã nhận được không gì hơn ngoài một đề cương sơ sài. Các cơ cấu khác chắc chắn phải là có thể khi các bí ẩn mang tính phân tích chủ yếu được  xử lý và các phân tích nghiêm ngặt được áp dụng.

Kết luận

Mục đích của bài báo này là thẩm tra các nghiên cứu học thuật hiện có về hệ thống triều cống và đưa ra câu hỏi về cái nhìn lấy hệ thống triều cống làm trung tâm soi sáng chính trị Đông Á lịch sử như thế nào.

Ba cách thức ở đó khái niệm “hệ thống triều cống” đã được sử dụng trong các tác phẩm có liên quan- như sự quản lý quan liêu về các mối quan hệ đối ngoại ở phía Trung Quốc; như là một thể chế xã hội quốc tế từ cái nhìn của các học giả trường phái Anh, và như là một phương tiện của các mối quan hệ đối ngoại của TQ như được phát triển trong mô hình diễn giải của Fairbank- đã được nhận dạng. Tôi đã tập trung vào mô hình của Fairbank và đánh giá nó như là một phương sách tự khám phá dành cho tư duy sâu hơn về một số vấn đề thuộc về khái niệm và thực tiễn liên quan tới sự hiểu biết của chúng ta về chính trị Đông Á lịch sử.

Mô hình Fairbank có vấn đề vì một số lý do. Nó không hoàn bị từ bên trong và cũng không thích hợp đối với việc diễn giải các sự kiện chính trong lịch sử Đông Á. Nó đã cố gắng giải thích sự tiếp tục lâu dài trong các mối quan hệ  giữa TQ và các nước láng giềng nhưng nó đã không quan tâm bình đẳng tới sự phong phú ấn tượng và sự thay đổi trong các mối quan hệ này. Việc sử dụng mô hình này bị giới hạn và chúng ta phải đồng ý với Will rằng “chúng ta không thể tập trung vào tất cả các khía cạnh của truyền thống ngoại giao TQ, tất cả các nguồn gốc của xung đột, nếu chúng ta bắt đầu bằng việc gọi tất cả truyền thống ngoại giao TQ  là “hệ thống triều cống” (95). Người ta sẽ thêm rằng mô hình thậm chí thiếu hữu dụng khi đối mặt với chính trị vùng như là tổng thể, bởi vì nó chủ yếu có xu hướng hướng vào TQ.

Fairbank, điều này cần phải được nhấn mạnh, đã công nhận sự khác biệt phong phú và đưa ra sự báo trước liên quan đến cơ cấu của ông. Tuy nhiên ông đã không thanh lọc một cách có hệ thống mô hình của mình theo những sự khác biệt này. Rõ ràng rằng mô hình, như Fairbank đưa ra, là một “cơ cấu sơ bộ”, chỉ ra các ý tưởng và chủ đề trung tâm nhất định dành cho sự phát triển sâu hơn có thể. Không phải tôi có ý quá coi nhẹ nó hay châm biếm nó mà là nhận dạng nó như là một sự  không thích hợp và gợi ý các cách thức đưa nó đi xa hơn khỏi sự sơ bộ đến việc khái niệm hóa chính trị Đông Á lịch sử.

 

Mối quan tâm trọng tâm của tôi là việc các học giả IR có thể tạo ra các tác phẩm mang tính học thuyết và thực tế tốt như thế nào về chính trị Đông Á lịch sử bằng việc vẽ ra một cách phê phán dựa trên nền tảng nổi bật mà Fairbank và những người khác đã tạo ra. Chúng ta cần, ít nhất trong lĩnh vực của chính trị Đông Á lịch sử, một sự đối thoại màu mỡ giữa các nhà khoa học chính trị và các nhà sử học. Sau tư tưởng về “hệ thống triều cống” sẽ là gì? Will gợi ý rằng “Nó sẽ rõ ràng hơn về mặt khái niệm nếu từ “hệ thống triều cống” chỉ được sử dụng cho sự phức tạp mang tính hệ thống của quy định quan liệu được phát triển khoảng năm 1400 sau công nguyên” (96).

Khái niệm về hệ thống triều cống này có thể quá nghiêm ngặt. Nhưng các học giả  ít nhất cần làm rõ hệ thống triều cống nào đang được thảo luận. Nó sẽ tạo ra chút ít cảm quan để nói về toàn bộ hệ thống triều cống nhà Minh hoặc toàn bộ hệ thống triều cống nhà Thanh, bởi vì chúng ta biết rằng chính sách đối ngoại của đầu thời Minh khác với cuối thời Minh cũng như chính sách đối ngoại đầu Thanh khác cuối thời Thanh.

Từ “hệ thống triều cống” có thể vẫn sẽ là tốc kí miêu tả hữu ích chừng nào chúng ta làm rõ những gì nó muốn nói. Tuy nhiên để tránh minh họa, chúng ta phải coi hệ thống triều cống của một thời kỳ lịch sử như là một vật hơn là một đơn vị phân tích. Công việc quan trọng nhất là giải thích những sự biểu thị phong phú về hệ thống triều cống bằng việc phát triển hệ thống khác của cái khung khái  niệm. Sự đòi hỏi đối với chính trị Đông Á lịch sử không thể chỉ dừng lại ở hệ thống triều cống. Nhưng việc coi hệ thống triều cống có tính lịch sử như là một đối tượng phân tích để hiểu biết về các mối quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia khác trong một giai đoạn đặc biệt cũng là không thỏa đáng bởi vì nó lờ đi các mối quan hệ bên ngoài chính trị triều cống bình thường. Có thể miêu tả và phân tích các mối quan hệ giữa Trung Quốc và các láng giềng của nó mà không cần trung thành với ngôn ngữ “hệ thống triều cống”. Từ “hệ thống triều cống” là một sự phát minh của phương Tây ra đời trước thế kỉ XIX và được dịch trở lại tiếng Trung Quốc là chaogong tixi (Triều cống thể hệ). Từ chao và gong xuất hiện trong các nguồn sử liệu Trung Quốc nhưng người TQ không hề có khái niệm hay nhận thức coi nó là một hệ thống.

Hệ thống triều cống là một sự xây dựng trí tuệ mà chúng ta thanh lọc hoặc từ bỏ, phụ thuộc vào phần thưởng mà chúng ta nhận được. Điểm quan trọng là việc người ta có thể nói về các mối quan hệ triều cống mà không cảm thấy tò mò trí tuệ khi phải gắn chặt vào hệ thống triều cống. Công việc phân tích là để hiểu những gì thực sự nằm sau những mối quan hệ này. Nó cũng đóng chức năng nhắc nhở rằng   “hệ thống quốc tế” thực tế  của chính trị Đông Á lịch sử rộng lớn hơn nhiều “hệ thống triều cống”

Bởi vì sự thực dụng của hệ thống triều cống của Fairbank có vấn đề và bởi vì hệ thống triều cống như đã được nhận thức chỉ là một phần của toàn bộ bức tranh chính trị Đông Á lịch sử, chúng ta nên làm tiếp tục phát triển các khái niệm mới mà có thể sửa chữa một vài vấn đề được thảo luận trong bài báo này.

Cuối cùng chúng ta có thể hỏi một câu hỏi tương tự đối với những gì Hevia đã đưa ra: Nếu “hệ thống triều cống” bị bỏ đi, thì các mối quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia khác sẽ như thế nào? (97).

Sự bàn luận về các mối quan hệ quốc tế Đông Á đã quá dài và quá thường xuyên đối với sự thảo luận về hệ thống triều cống. Đã đến lúc nghĩ về các cách thức để chuyển tới sự thực dụng.

Chú thích

Tác giả cảm ơn Chen Jian, Prasenjit Duara, Paul Evans, Wang Gungwu, Lin Chun, Tang Shiping, Brantly Womack, Zheng Yongnian, và các biên tạp viên của tạp chí này. Tác giả cũng đặc biệt cám ơn R.Hughes và Victoria Hui đã cho tác giả lời khuyên và sự hỗ trợ. Bài báo này được công bố trong một hội thảo quốc tế tổ chức để vinh danh giáo sư Wang Gungwu, tổ chức vào tháng 6 năm 2009 ở Singapore. Tác giả cũng cảm ơn những người đã tham dự hội thảo.

  1. Bao gồm J.K. Fairbank và S.Y. Teng ‘On the Ch’ing Tributary System’, Harvard Journal of Asiatic Studies, Vol. 6, No. 2, 1941, pp. 135–246; J. K. Fairbank, ‘Tributary Trade and China’s Relations with the West’, The Far Eastern Quarterly, Vol. 1, No. 2, 1942, pp. 129–49; J. K. Fairbank, Trade and Diplomacy on the China Coast: The Opening of the Treaty Ports, 1842–1854(Cambridge: Harvard University Press, 1953), esp. chapter 2; and J. K. Fairbank, ed., The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations(Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1968), esp. chapter 1.
  2. John E. Wills, Jr., ‘Tribute, Defensiveness, and Dependency: Uses and Limits of Some Basic Ideas About Mid-Qing Dynasty Foreign Relations’, American Neptune, Vol. 48, 1988, pp. 225–9, at p. 229. Holding a similar view is Michael Hunt, who wrote in the early 1980s that ‘little fresh work [on historical Chinese foreign relations] is appearing and … the pool of specialists in the field has not been sustained.’ Michael H. Hunt, ‘Chinese Foreign Relations in Historical Perspective,’ in Harry Harding, ed., China‘s Foreign Relations in the 1980s(New Haven: Yale University Press, 1984), pp. 1–42, at p. 37, fn. 14.

 

3. Ví dụ xem Michael D. Swaine and Ashley J. Tellis, Interpreting China’s Grand Strategy: Past, Present, and Future (Santa Monica: RAND, 2000).

  • 4Alastair Iain Johnston, Cultural Realism: Strategic Culture and Grand Strategy in Chinese History (Princeton: Princeton University Press, 1995); Victoria Tin-bor Hui, War and State Formation in Ancient China and Early Modern Europe (Cambridge: Cambridge University Press, 2005).
  • 5Brantly Womack, China and Vietnam: the Politics of Asymmetry (New York: Cambridge University Press, 2006).
  • 6Qin Yaqing, ‘Quanqiu shiye zhong de guoji zhixu’ (‘International Order in a Global View’) in Qin Yaqing, ed., Zhongguo xuezhe kan shijie: guoji zhixu juan (World Politics—Views from China: International Order) (Beijing: Xin shijie chubanshe, 2007), pp. 11–25; and Qin Yaqing, ‘A Chinese School of International Relations Theory: Possibility and Inevitability’, Shijie jingji yu zhengzhi (World Economics and Politics), No. 3, 2006, pp. 7–13.
  • 7Bằng “ Sự thực dụng của hệ thống triều cống” tôi muốn nói tới truyền thống nghiên cứu mà đã coi “hệ thống triều cống” như là một khái niệm tổ chức trung tâm cho sự phân tích khái niệm và mang tính kinh nghiệm.
  • 8These include Joseph F. Fletcher, ‘China and Central Asia, 1368–1884’ in J. K. Fairbank, ed., The Chinese World Order, pp. 206–24; Morris Rossabi, ed., China among Equals: The Middle Kingdom and Its Neighbors, 10th-14th Centuries (Berkeley: University of California Press, 1983); John E. Wills, Jr., Pepper, Guns, and Parleys: The Dutch East India Company and China, 1662–1681 (Cambridge: Council on East Asian Studies, Harvard University, 1974); John E. Wills, Jr., Embassies and Illusions: Dutch and Portuguese Envoys to K’ang-hsi, 1666–1687 (Cambridge: Council on East Asian Studies, Harvard University, 1984); John E. Wills, Jr., ‘Tribute, Defensiveness, and Dependency’, pp. 225–9; Arthur Waldron, The Great Wall of China: From History to Myth (Cambridge: Cambridge University Press, 1990), p. 31; James L. Hevia, Cherishing Men from Afar: Qing Guest Ritual and the McCartney Embassy of 1793 (Durham and London: Duke University Press, 1995); James A. Millward, ‘Qing Silk-Horse Trade with the Qazaqs in Yili and Tarbaghatai, 1758–1853,’ Central and Inner Asian Studies, Vol. 7, 1992, pp. 1–42; James A. Millward, Beyond the Pass: Economy, Ethnicity, and Empire in Qing Central Asia, 1759–1864 (Stanford: Stanford University Press, 1998); Peter C. Perdue, ‘A Frontier View of Chineseness,’ in Giovanni Arrighi et al., eds., The Resurgence of East Asia: 500, 150 and 50 Year Perspective(London: Routledge, 2003), pp. 51–77; Peter C. Perdue, China Marches West: The Qing Conquest of Central Eurasia (Cambridge: The Belknap Press of Harvard University Press, 2005); Nicola Di Cosmo, ‘Kirghiz Nomads on the Qing Frontier: Tribute, Trade, or Gift-Exchange?’ in Nicola Di Cosmo and Don J. Wyatt, eds., Political Frontiers, Ethnic Boundaries, and Human Geographies in Chinese History (London: Curzon Press, 2003), pp. 351–72.
  • 9Paul M. Evans, John Fairbank and the American Understanding of Modern China (New York: Basil Blackwell, 1988).
  • 10Ibid., p. 56.
  • 11Cảm ơn Paul Evans về thông tin này trong cuộc trao đổi vào tháng 6 năm 2009 tại Singapore.
  • 12Mark Mancall, ‘The Ch’ing Tribute System: An Interpretive Essay’ in J. K. Fairbank, ed., The Chinese World Order, pp. 63–89, at p. 63.
  • 13 K. Fairbank and S. Y. Teng, ‘On the Ch’ing Tributary System’, pp. 137, 139.
  • 14Xem  J. K. Fairbank, ‘A preliminary Framework’, pp. 1–2. Đồng thời xem  C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Their Place in the World (London: Oxford University Press, 1964); and John Cranmer-Byng, ‘The Chinese View of Their Place in the World: An Historical Perspective’, The China Quarterly, No. 53, 1973, pp. 67–79, at p. 68.
  • 15 K. Fairbank, ‘A preliminary Framework’, p. 2.
  • 16Ibid., p. 9.
  • 17Ibid., p. 4.
  • 18 K. Fairbank and S. Y. Teng, ‘On the Ch’ing Tributary System’, pp. 140–1.
  • 19 K. Fairbank, ‘Tributary Trade’, p. 137.
  • 20Ibid., p. 145.
  • 21 K. Fairbank, ‘A preliminary Framework’, p. 10.
  • 22Evans, John Fairbank, p. 5.
  • 23Cảm ơn Chen Jian về luận điểm này.
  • 24Điều này rõ ràng nhất trong tác phẩm của  Li Yunquan, Chaogong zhidu shilun: Zhongguo gudai duiwai guanxi tizhi yanjiu (A History of the Tribute System: Research on China’s Premodern Foreign Relation Institution) (Beijing: Xinhua chubanshe, 2004).
  • 25Li Yunquan, A History of the Tribute System.
  • 26Hedley Bull, The Anarchical Society: A Study of Order in World Politics (London: Macmillan, 1977), p. 74.
  • 27Robert O. Keohane, International Institutions and State Power (Boulder: Westview, 1989), p. 3.
  • 28Các học giả  của trường phái Anh tuyên bố rằng định nghĩa của họ “sâu hơn” định nghĩa của phái Tân tự do chủ nghĩa. Barry Buzan, The United States and the Great Powers: World Politics in the Twenty-First Century (Cambridge: Polity, 2004), p. 79.  29 Yongjin Zhang, ‘System, Empire and State in Chinese International Relations,’ in Michael Cox et al., eds., Empires, Systems and States: Great Transformation in International Politics(Cambridge: Cambridge University Press, 2001), pp. 43–63, at p. 57.
  • 30Về nỗ lực trông các văn bản Châu Âu xem Christian Reus-Smit he Moral Purpose of the State: Culture, Social Identity, and Institutional Rationality in International Relations(Princeton: Princeton University Press, 1999).
  • 31Gan Huaizhen, Huangquan, liyi yu jingdian quanshi: Zhongguo gudai zhengzhishi yanjiu (Imperial Power, Etiquette and Interpretation of Classics: the Study on the History of Politics in Ancient China) (Taipei: Himalaya Foundation, 2003), p. 508.
  • 32Gao Mingshi, Dongya gudai de zhengzhi yu jiaoyu (The Politics and Education in Ancient East Asia) (Taipei: Himalaya Foundation, 2003).
  • 33Về sự thảo luận chủ yếu về sự phát triển của tư tưởng Trung Quốc ưu việt xem Wang Gungwu, ‘Early Ming Relations with Southeast Asia: A Background Essay’, in J. K. Fairbank, ed., The Chinese World Order, pp. 34–62.
  • 34Wang Gungwu, ‘The Rhetoric of a Lesser Empire: Early Sung relations with Its Neighbors’, in Morris Rossabi, ed., China among Equals, pp. 47–65, at p. 62.
  • 35Ibid., p. 57.
  • 36Wang Gungwu, ‘Early Ming Relations with Southeast Asia’, p. 36.
  • 37John E. Wills, ‘Tribute, Defensiveness, and Dependency’, p. 226.
  • 38Lien-sheng Yang, ‘Historical Notes on the Chinese World Order’, in J. K. Fairbank, ed., The Chinese World Order, pp. 20–33, at p. 20. See also Morris Rossabi, ed., China among Equals.
  • 39Michael H. Hunt, ‘Chinese Foreign Relations in Historical Perspective’, pp. 1–42, at pp. 6–7.
  • 40Song Chengyou, Dongbeiya chuantong guoji tixi de bianqian: chuantong Zhongguo yu zhoubian guojia ji minzu de hudong guanxi lunshu (The Evolution of the Traditional Northeast Asian International System: Interactions between Traditional China and Its Neighboring Countries and Ethnicities) (Taipei: Academia Sinica, 2002), p. 41.
  • 41John E. Wills, ‘Tribute, Defensiveness, and Dependency’, p. 226.
  • 42John E. Wills, Embassies and Illusions; John E. Wills, ‘Tribute, Defensiveness, and Dependency’.
  • 43 K. Fairbank, ‘A preliminary Framework’, p. 11.
  • 44John K. Fairbank, ‘China’s Foreign Policy in Historical Perspective’, Foreign Affairs, Vol. 47, No. 3, 1969, pp. 449–63, at p. 459.
  • 45John E. Wills, ‘Tribute, Defensiveness, and Dependency’, p. 226.
  • 46Như Fairbank nói, vẽ lại lần nữa về thuyết lấy Trung Quốc làm trung tâm, rằng “những người chưa được khai hóa, còn dã man và ngu độn, sẽ ngưỡng mộ sự ưu việt của nền văn minh Trung Hoa và sẽ tự tìm kiếm để “đến và bị đồng hóa” và tham gia vào vì lợi ích của nó” J. K. Fairbank, ‘Tributary Trade’, p. 132.
  • 47Paul A. Cohen, Discovering History in China: American Historical Writing on the Recent Chinese Past (New York: Columbia University Press, 1984), p. 189.
  • 48 K. Fairbank, ‘Tributary Trade’, p. 137.
  • 49Wang Gungwu, ‘Early Ming Relations with Southeast Asia’, p. 60.
  • 50 K. Fairbank, ‘A preliminary Framework’, p. 13.
  • 51This ‘China bias’, however, is a common problem in the literature.
  • 52Wang Gungwu and Zheng Yongnian, eds., Sino-Japanese Relations: Interaction, Logic, and Transformation (London: Routledge, 2008), p. 15. See also Peter C. Perdue, ‘A Frontier View of Chineseness’, p. 66.
  • 53Nicola Di Cosmo, ‘Kirghiz Nomads on the Qing Frontier’.
  • 54James A. Millward, Beyond the Pass, p. 158.
  • 55 K. Fairbank and S. Y. Teng, ‘On the Ch’ing Tributary System’, p. 137; Mark Mancall, China at the Center: 300 Years of Foreign Policy(New York: The Free Press, 1984), p. 13; John E. Wills, Embassies and Illusions, p. 14.
  • 56Để biết các phát biểu chính thức về thời kỳ này xem Li Guoxiang  (biên soạn), Ming Shilu Leizuan: Shewai Shiliao Juan (MSLLZ) (A Compilation of Materials on Foreign Affairs from the Veritable Records of the Ming Dynasty) (Wuhan: Wuhan chubanshe, 1991).
  • 57Joseph F. Fletcher, ‘China and Central Asia, 1368–1884’.
  • 58Trong nhiều giai đoạn của lịch sử Trung Quốc có “một sự  tiếp cận thực dụng và linh hoạt hoàn hảo đối với các nước ngoài”. Wang Gungwu, ‘Early Ming Relations with Southeast Asia’, p. 43.
  • 59For these events, see Wang Yi-T’ung, Official Relations Between China and Japan, 1368–1549 (Cambridge: Harvard University Press, 1953); and Edward L. Dreyer, Early Ming China: A Political History, 1355–1435 (Stanford: Stanford University Press, 1982).
  • Tuy nhiên cần phải chú ý rằng có các ngoại lệ quan trọng đối với sự khẳng định rằng tất cả các quan hệ chính thống phải dựa trên triều cống. Ví dụ như Triều cống không phải là phương thức duy nhất cho triều Mãn Thanh sắp xếp các quan hệ chính thống với những người du mục ở châu Á lục địa.
  • Ning Chia, ‘The Lifanyuan and the Inner Asian Rituals in the Early Qing (1644–1795)’, Late Imperial China, Vol. 14, No. 1, June 1993, pp. 60–92, at p. 80.  61Wang Yi-T’ung, Official Relations Between China and Japan, pp. 52–3.
  • 62Zhang Peiheng and Yu Suisheng, eds., Ershisishi quanyi: Ming Shi (The Full Translation of the Twenty-Four Histories—History of Ming) (Shanghai: Hanyu dacidian chubanshe, 2004), p. 6727.
  • 63Edward L. Dreyer, Early Ming China.
  • 64John E. Wills, Embassies and Illusions, p. 4.
  • 65Mark Mancall, China at the Center, p. 13.
  • 66Huang Chih Lien, Dongya de liyi shijie: Zhongguo fengjian wangchao yu Chaoxian bandao guanxi xingtai lun (The Ritual and Justice World in East Asia: the Relations between Chinese Feudal Dynasties and Korea Pennsular) (Beijing: Renmin daxue chubanshe, 1994), p. 185.
  • 67Wang Gungwu, China and the Chinese Overseas (Singapore: Times Academic Press, 1991), p. 112.
  • 68John D. Langlois, Jr., ‘The Hung-wu Reign, 1368–1398’, in Frederick W. Mote and Denis Twitchett, eds., The Cambridge History of China, Volume 7: The Ming Dynasty, 1368-1644, Part I (Cambridge: Cambridge University Press, 1988), p. 166.
  • 69Donald Neil Clark, Autonomy, Legitimacy, and Tributary Politics: Sino-Korean Relations in the Fall of Koryǒ and the Founding of the Yi, Ph.D. dissertation, Harvard University, 1978, p. 136.
  • 70Huang Chih Lien, The Ritual and Justice World in East Asia, p. 280.
  • 71Edward L. Dreyer, Early Ming China.
  • 72Huang Chih Lien, The Ritual and Justice World in East Asia, pp. 373–5.
  • 73 Carrington Goodrich and Chaoying Fang, eds., Dictionary of Ming Biography: 1368–1644(New York: Columbia University Press, 1976), pp. 1600–1.
  • 74Henry Serruys, Sino-Jurchen Relations during the Yong-lo Period (1403–1424)(Wiesbaden: Otto Harrssowitz, 1955).
  • 75Li Guoxiang et al., A Compilation of Materials on Foreign Affairs from the Veritable Records of the Ming Dynasty, p. 19; and Zhang Peiheng and Yu Suisheng, eds., The Full Translation of the Twenty-Four Histories—History of Ming, p. 6862.
  • 76Zhang Peiheng and Yu Suisheng, eds., The Full Translation of the Twenty-Four Histories—History of Ming, pp. 6836–7.
  • 77James A. Millward, Beyond the Pass, p. 9.
  • 78 K. Fairbank, ‘A Preliminary Framework’, p. 12.
  • 79Mark Mancall, China at the Center, p. 30.
  • 80Về vấn đề này xem thêm  John E. Wills, Embassies and Illusions, pp. 177–8, trong đó Will viết ‘primacy of domestic audience’.
  • 81Peter C. Perdue, China Marches West; James A. Millward, ‘Qing Silk-Horse Trade’; James A. Millward, Beyond the Pass; Nicola Di Cosmo, ‘Kirghiz Nomads on the Qing Frontier’.
  • 82Peter C. Perdue, ‘A Frontier View of Chineseness’, p. 66.
  • 83Morris Rossabi, ed., China among Equals.
  • 84Wang Gungwu, ‘The Rhetoric of a Lesser Empire’, p. 62.
  • 85John E. Wills, Embassies and Illusions, p. 187.
  • 86Sự rút ra đặc điểm này có thể  không chính xác với giữa và cuối triều Thanh. Chính sách của Thanh trong thời kì này không phải luôn luôn cứng rắn và lấy TQ làm trung tâm. Ví dụ như Michael H. Hunt là một ví dụ, ông đã rút ra đặc điểm của việc làm chính sách nhà Thanh là linh hoạt thậm chí là cơ hội.
  • Xem  Michael Hunt, The Genesis of Chinese Communist Foreign Policy(New York: Columbia University Press, 1996), p. 31.
  • 87James L. Hevia, Cherishing Men from Afar.
  • 88Peter C. Perdue, ‘A Frontier View of Chineseness’, p. 67.
  • 89Ying-shih Yü, Trade and Expansion in Han China: A Study in the Structure of Sino-Barbarian Economic Relations (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1967).
  • 90Wang Gungwu, ‘Early Ming Relations with Southeast Asia’, p. 62.
  • 91For a recent work that explicates the logic of institutional explanation, see Craig Parsons, How to Map Arguments in Political Science (Oxford: Oxford University Press, 2007), chapter 3.
  • 92Wang Gungwu, ‘Early Ming Relations with Southeast Asia’, p. 61.
  • 93Phương cách tìm kiếm hệ thống triều cống này  được gợi ý bởi Brant Womack, mặc dù các yếu tố của nó đã được đề cập trước đó trong bài báo này.
  • 94Prasenjit Duara, The Global and Regional in China’s Nation-Formation (London and New York: Routledge, 2009), p. 99.
  • 95John E. Wills, Embassies and Illusions, p. 172.
  • 96John E. Wills, ‘Tribute, Defensiveness, and Dependency’, p. 225.
  • 97James L. Hevia, Cherishing Men from Afar, p. xi.
  • © The Author 2009.
  • Chinese Journal of International Politics (2009) 2 (4): 545-574. doi: 10.1093/cjip/pop010

 

Hết

 


Cũ hơn Mới hơn