Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống”: mở rộng biên độ khái niệm về chính trị Đông Á lịch sử (3)


Logic

Logic của mô hình là không rõ ràng. Fairbank nhấn mạnh rằng các vua Trung Quốc sử dụng các mối quan hệ triều cống chủ yếu cho mục đích phòng vệ.

Nhưng ông cũng nói rằng chúng có thể được dùng cho sự hiếu chiến.

“Nói một cách tổng quát dưới triều Tống triều cống được dùng chủ yếu để phòng vệ trong khi dưới triều Mogol  nó đóng vai trò bành trướng và dưới thời Thanh nó thúc đẩy sự ổn định trong các sự kiện đối ngoại” (48).

Động cơ nào đối với những sự khác biệt lớn lao này?

Thêm nữa, giả định về sự ưu việt của Trung Hoa liên quan với  việc các hoàng đế Trung Hoa sử dụng triều cống cho phòng thủ, gây chiến và ổn định như thế nào?

Những ẩn số này thể hiện một vấn đề cốt lõi trong tư duy của Fairbank về hệ thống triều cống. Có lẽ người ta tin rằng mô hình có thể được khái quát hóa qua lịch sử Trung Quốc nhưng sức mạnh của nó không đáp ứng được mục đích tham vọng này. Fairbank lẽ ra nên giải quyết từng hệ thống triều cống riêng rẽ theo từng vương triều và áp dụng vào từng thời kì cụ thể (ví dụ như cuối triều Thanh). Mô hình nói rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nhà nước khác là có thứ bậc. Mặc dù thứ bậc này rất dễ hiểu từ cái nhìn của Trung Quốc bởi vì các vua Trung Quốc tin vào sự ưu việt của họ, người ta vẫn tự hỏi các vua nước ngoài đã tới thần phục thứ bậc này như thế nào?

Liệu văn hóa Nho giáo có hấp dẫn như là được nhấn mạnh bởi mô hình? Liệu động cơ buôn bán với Trung Quốc mà mô hình xác nhận có đủ mạnh để khiến các nước ngoài chấp nhận địa vị thấp hơn? Cần phải ghi nhớ rằng các vua của các quốc gia gần Trung Quốc từ Việt Nam tới Nhật Bản tất cả đều có nhận thức tự coi mình là trung tâm trong trật tự thế giới và cái nhìn tự coi mình là trung tâm là ưu việt do đó chỉ tồn tại đơn phương (49).

Cũng không rõ liệu rằng, khi nào và như thế nào thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm chinh phục được nhận thức tự coi mình là trung tâm của các vua khác. Chúng tôi không có phương pháp phân tích nào để giải thích thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm có thể tạo ra trật tự xác thực giữa Trung Quốc và các láng giềng. Và nữa sự mập mờ là việc Fairbank không đề cập các mục đích khác nhau và các phương tiện khác nhau trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong bảng “Mục đích và phương tiện” của ông (50). Nhưng chúng tương thích với mô hình như thế nào? Việc mô hình chưa hoàn thiện do đó là rất rõ ràng.

 Quyền lực (sức mạnh)

Trên bề mặt, mô hình tuyên bố giải thích mọi thứ về các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc như định nghĩa hệ thống triều cống như là “một cơ cấu cho toàn bộ mọi thứ”.  Trong nội dung nó nói chủ yếu về các khía cạnh nghi lễ của mối quan hệ triều cống giữa Trung Quốc và láng giềng.

Mô hình cũng tập trung chủ yếu vào mối quan hệ với thứ gọi là vùng Trung Hoa (Khu vực Trung Hoa) đó là các vùng thuộc Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản và Lưu Cầu (Okinawa-ND).

 

Như chúng ta đã biết về mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia ở phía bắc nhiều hoặc ít bao gồm hạt nhân của lịch sử chính trị của nó, chúng ta cũng biết rằng các mối quan hệ này thường mang tính bạo lực nhưng sự giao thiệp triều cống hòa bình không phải là thiếu vắng.

Hơn nữa, những sự bàn luận về các mối quan hệ triều cống hiếm khi đi xa hơn ấn tượng về “triều cống” và mối quan hệ giữa “triều cống” và thương mại.   Nhưng triều cống và thương mại không cái nào là quan trọng nhất đối với sự giao thiệp giữa Trung Quốc và các nước khác. Mô hình thất bại trong việc đưa ra sự giải thích đối với vô số các mối quan hệ này. Các động cơ nằm sau chính sách, các phương tiện và chiến thuật được dùng và mô hình giao thiệp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Mô hình đưa ra hệ thống triểu cống như là bản thân trật tự thế giới nhưng câu hỏi trung tâm của nó bị giới hạn trong một phạm vi hẹp là các vấn đề quan hệ triều cống.

Mô hình cũng bị định hướng nặng nề. Sự chú ý không thích hợp mà nó đặt vào phía Trung Quốc trong câu chuyện liên quan đến các chính thể khác đã giới hạn sức mạnh giải thích của nó về lập trường (51).

Thêm nữa, như nó bị ảnh hưởng nặng nề bởi cái nhìn lấy Trung Quốc làm trung tâm, mô hình có xu hướng vẽ chính trị Đông Á lịch sử từ cái nhìn mang tư tưởng Trung Hoa. Điều này không còn nghi ngờ gì nữa đã diễn ra bởi vì Fairbank dựa quá nhiều vào nguồn tư liệu Trung Quốc, thứ mô tả hệ thống triều cống, bởi vì chúng hầu như miêu tả chung chung nhiệm vụ của từng sứ thần nước ngoài tới kinh đô Trung Quốc như là người triều cống hoàng đế.

Được nhìn nhận như là tổng thể, vấn đề lớn nhất của mô hình là việc trở thành “cơ cấu tĩnh thứ thiếu bất cứ cảm quan nào về sự thay đổi và phản ánh chủ yếu trật tự thế giới triều đình Trung Hoa muốn nhận thức” (52).

Bên trong sự xây dựng này nó đem đến sự quan trọng nhất đối với các khía cạnh nghi lễ của các mối quan hệ triều cống, biểu lộ trong việc đưa ra mô hình của việc sắc phong và con dấu chính thống, thực thi các nghi lễ triều cống và dâng sản vật địa phương, thực hiện Khấu đầu (koutou), nhận các quà tặng của hoàng đế và đặc quyền thương mại tại biên giới hoặc tại kinh đô.

Sự nhấn mạnh mô hình dựa trên các vấn đề tạo nên nghi ngờ liệu rằng Trung Quốc và các láng giềng của họ có khả năng giao thiêp đối ngoại chút nào đó hơn là thể hiện các nghi lễ theo thói quen. Nó không thích hợp với tính mềm dẻo của các mối quan hệ, sự thay đổi trong thái độ và chính sách đối với nước khác hoặc sự đa dạng trong các động cơ và chiến lược tiềm ẩn. Sự phê phán của các nhà sử học đối với mô hình như “monochromatic” (đơn sắc) (53) “monolithic” (rắn)  và “không thay đổi” do đó là hoàn toàn đúng.

Mô hình và đầu triều Minh

Hệ thống triều cống, cho dù được nhìn nhận như là sự quản lý mang tính quan liêu các mối quan hệ đối ngoại hay được như là một thể chế quan hệ liên bang, đã tiến tới đỉnh điểm về sự phức tạp và sự mở rộng dưới triều Minh, đặc biệt là dưới triều Hồng Vũ (1368-1398) và Vĩnh Lạc (1403-1424) (55). Do đó nó đã tạo ra cảm quan tốt để nhìn nhận xem mô hình của Fairbank hoạt động như thế nào chống lại các sự kiện trong thời kì đầu Minh. Từ lập trường khoa học chính trị, thời kì này là một “phép thử dễ dàng” đối với mô hình của Fairbank.  Sự thất bại ở đây đã ném đi giá trị của nó trong câu hỏi. Trong phần này tôi sử dụng các ví dụ từ các mối quan hệ Trung Quốc-Triều Tiên, Trung Quốc-Nhật Bản, và Trung Quốc-Mông Cổ trong thời Hồng Vũ và Vĩnh Lạc để đánh giá giá trị giải thích của mô hình.

Tôi đặt ra ba câu hỏi sau: thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm hữu ích như thế nào khi nó tương thích với thời kì này của Trung Quốc? Mô hình này nắm bắt các mô hình giao thiệp của các nước láng giềng của Trung Quốc gần gũi đến mức độ nào? Và nó nắm bắt các động cơ, chiến lược, mục đích nằm sau các chính sách đối với các nước khác như thế nào, và cái gì tạo nên bản chất của chính trị Đông Á trong giai đoạn này?

Thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm.

Thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm là một thuyết hữu dụng đối với các giai đoạn khi Trung Quốc thống nhất mà hùng mạnh như đầu Minh. Các hoàng đế đầu thời Minh thường  đóng vai trò ưu việt khi tiếp đón các vua nước ngoài điều mà họ trông đợi các vua nước ngoài thừa nhận bằng việc chấp nhận địa vị triều cống (56).

Tuy nhiên có những ngoại lệ đáng chú ý. Joseph Fletcher trước đó rất lâu đã dẫn ra một ví dụ về lá thư của hoàng đế Vĩnh Lạc năm 1418 gửi cho vua của đế chế Timurid trong đó ông đã gọi ông  vua này như là một vương triều ngang bằng và trên thực tế đã không tuyên bố mình là ưu việt hơn (57).

Ví dụ chỉ ra rằng thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm không ngăn cản các hoàng đế Trung Quốc thực thi chính sách thực dụng đối với các đối tượng cụ thể. Thậm chí   cũng không nhất thiết phải nói rằng “các quốc gia bên ngoài nếu muốn giao thiệp với Trung Quốc thì được mong chờ và cần phải thực thi triều cống” .

Hệ thống cứng nhắc của thái độ Trung Hoa đối với người nước ngoài mà mô hình quy định đã không cho phép sự thực dụng này. Ngầm ẩn trong sự yếu kém này là thất bại giải thích rằng đế chế Trung Quốc giống như mọi quốc gia khác, cũng phải giải quyết vô số vấn đề an ninh có thể tác động tới sự tồn vong của nó. Do đó, dưới những điều kiện cụ thể, sự thực dụng đã lấn át chủ thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm. Trung Quốc không thể trông đợi đảm bảo an ninh ở mọi thời điểm trong khi vẫn duy trì khăng khăng sự ưu việt của minh mà không có có sự mềm dẻo và thực dụng trong chính sách đối ngoại như vào đầu thời Minh (58).

 

Tính chính xác mang tính miêu tả.

Mô hình khẳng định rằng các vua nước ngoài những người muốn thiết lập quan hệ với Trung Quốc chỉ có thể làm được điều đó khi thực thi triều cống và miêu tả chi tiết các phong tục nghi lễ mà nó tuyên bố là thuộc về mối quan hệ triều cống. Nhưng liệu đây có phải là một sự mô tả chính xác về chính trị Đông Á vào đầu thời Minh?

Sự mô tả có thể áp dụng vào mối quan hệ Trung Quốc-Triều Tiên nhưng không hề thích hợp với các khía cạnh chính của quan hệ Trung Quốc-Nhật Bản và Trung Quốc-Mông Cổ. Có những giai đoạn dài trong đó cả Nhật và Mông Cổ đều không đồng ý triều cống nhà Minh. Tướng quân Yoshimochi đã cô lập Nhật Bản khỏi Trung Quốc từ năm 1411 đến năm 1424.

Bốn thập kỉ trước Hoàng tử Kanenaga đã xử tử các sứ thần Trung Quốc và thử thách thuyết lấy Trung Quốc làm trung tâm trong lá thứ gửi tới hoàng đế Hồng Vũ . Trong thời Hồng Vũ  hoàng gia Mông Cổ  đã từ chối các đồ triều cống nhà MInh và dưới triều đại Vĩnh Lạc, Mahmud, tù trưởng của người Mông Cổ Oirat và Arughtai, tù trưởng của người Mông Cổ  phía đông đã không thực thi triều cống thường xuyên (59). Cả người Nhật và người Mông Cổ đều không tham gia triều cống Trung Quốc một thời gian dài đầu thời Minh.  Có thể nói rằng sự không nhất quán trong hệ thống triều cống nhà Minh như được mô tả trong mô hình không gây hại chút nào, logic của việc từ chối địa vị triều cống bởi người Nhật và người Mông Cổ là chỉ dấu cho rằng họ không có mối quan hệ nào với Trung Quốc.

Một sự phòng thủ như thế có thể được biện hộ bằng tiền đề rằng tất cả các mối quan hệ đối ngoại là “chính thống” và được phê chuẩn bởi vua Trung Quốc (60). Nhưng sự giải thích này đã thể hiện mô hình ở giá trị giải thích của nó, cần ghi nhớ rằng thậm chí vào các thời điểm khi người Nhật Bản và người Triều Tiên tách khỏi hệ thống triều cống đầu Minh, họ vẫn duy trì-thường là thú vị hơn-các khía cạnh quan hệ với nhà Minh Trung Quốc.

Ví dụ như liệu chúng ta có thể nói rằng lá thư của Yoshimochi gửi Vĩnh Lạc năm 1418  phủ nhận trách nhiệm về những tên cướp biển người Nhật (61) như là một ví dụ của việc giao thiệp giữa Nhật Bản và Trung Quốc hay việc Kanenaga xử tử các sứ thần Trung Quốc và lá thư ương ngạnh của ông ta gửi tới triều MInh (62) không có ngụ ý nói tới mối quan hệ lớn hơn giữa Trung Quốc và Nhật Bản hay quả thật rằng sự kháng cự của người Mông Cổ chống lại các thách thức của nhà MInh Trung Quốc thường có đặc trưng là các cuộc chiến tranh (63) là tượng trưng cho mối quan hệ Trung Quốc-Mông Cổ trong đầu thời Minh? Mối quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia khác phải được nhận thức như là sự mở rộng bản chất triều cống, bởi vì không phải tất cả các mối quan hệ ở Đông Á lịch sử đều là triều cống.

Fairbank chắc chắc sẽ không phủ nhận thực thế này nhưng sự tập trung của ông và nhiều người khác là vào “triều cống” đã đưa đến ấn tượng rằng các mối quan hệ triều cống là có ở khắp mọi nơi và quan trọng đối với phạm vi thứ ngăn chặn tất cả các khía cạnh khác của mối quan hệ đối ngoại. Như thế, mô hình đã nhìn lướt qua một khía cạnh quan trọng của các động cơ của mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, bởi vì hệ thống triều cống không phải là phương tiện hay thể chế duy nhất của mối quan hệ quốc tế ít nhiều kiểu “một cơ cấu cho toàn bộ”.

 

Như Will đã chỉ ra “hệ thống triều cống không phải là tất cả các mối quan hệ truyền thống của Trung Quốc và có lẽ cũng không phải là chìa khóa tốt nhất để hiểu toàn diện về những mối quan hệ này. Các tác phẩm phương tây về mối quan hệ Trung Quốc-Phương tây có thể  đã đưa ra sự nhấn mạnh quá mức đối với các đoàn sứ triều cống (64).

Hệ thống triều cống đầu thời Minh, từ cái nhìn thuộc về cơ cấu hay thể chế quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, chỉ chứa đựng mối quan hệ Trung Quốc-Triều Tiên và một phần quan hệ Nhật-Trung và quan hệ Trung Quốc-Mông Cổ.

Phần lớn các mối giao thiệp thú vị giữa Trung Quốc và các láng giềng diễn ra bên ngoài hệ thống triều cống. Làm sao có thể nói rằng từ năm 1368 tới năm 1842 các mối quan hệ đối ngoại về văn hóa, chính trị, kinh tế của Trung Quốc lại được tiến hành trong một thế giới được sắp xếp và trải nghiệm thông qua hệ thống triều cống?  (65).

 Sức mạnh diễn giải.

Chính sức mạnh diễn giải của mô hình là sự để ngỏ lớn nhất đối với câu hỏi. Nó giả định rằng các hoàng đế TQ xây dựng quan hệ có tôn ti với các nước ngoài vì lý do uy danh và phòng vệ chính trị và các vua nước ngoài triều cống Trung Quốc vì họ muốn có thương mại và lợi nhuận. Tư tưởng bao gồm một yếu tố chính của mối quan hệ đối ngoại của họ, các hoàng đế TQ dựa vào chủ yếu văn hóa Khổng giáo và đức hạnh cai trị để chiến thắng vua nước ngoài. Trong khi đó các vua nước ngoài tiếp cận nhu cầu của Trung Quốc và tuân theo các nghi lễ được miêu tả vì lý do rằng họ muốn buôn bán.

Nhưng bài báo này là về việc chỉ ra rằng các vua đầu triều Minh thường xuyên yêu cầu các mối quan hệ triều cống vì các lý do khác hơn ví dụ như sự thừa nhận chính thống và đảm bảo an ninh biên giới.

Cũng vậy, các vua nước ngoài triều cống Trung Quốc vì mục đích thương mại cũng vượt xa hơn với các lý do như sống sót, tìm kiếm chính thống, lợi ích kinh tế và bảo hộ về quân sự và hơn nữa việc Trung Quốc không hoàn toàn dựa vào Nho giáo để mở rộng ảnh hưởng nhưng đã sử dụng cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm” để đạt được sự chấp thuận từ các quốc gia khác.

Các vua nước ngoài trong khi đó không phải lúc nào cũng tuân phục các quy định của Trung Quốc và đôi khi vi phạm các điều khoản vì mục đích cá nhân. Mô hình do vậy không có khả năng nắm bắt sự phức hợp của các mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.

Để hiểu chính trị Đông Á lịch sử, người ta phải biết về động cơ, mục đích và chiến lược ẩn dưới các mối quan hệ giữa Trung Quốc và các chính thể khác.  Mô hình dẫn ra động cơ của Trung Quốc chủ yếu bao gồm uy tín, mục đích của TQ chủ yếu là phòng thủ, thuyết phục như là một phần chính của chiến lược TQ.

Nhưng có những sự phong phú ở trong ba cái nói trên. Hãy chú ý đến ví dụ về mối quan hệ của TQ với Triều Tiên, quốc gia thường  được coi như là “hình mẫu triều cống” của TQ.  Vào tháng 1 năm 1369, hoàng đế Hồng Vũ đã phái một sứ giả đến Triều Tiên để khởi đầu quan hệ triều cống.

Chiếm đoạt quyền lực từ Nguyên, công việc khẩn cấp của ông ta là thiết lập tính hợp pháp cho uy lực của mình (66).

Do đó mối quan tâm chính của Hồng Vũ là có được sự công nhận có tính biểu tượng từ các vua nước ngoài trong hệ thống mà Trung Quốc coi mình là trung tâm và sự chính thống của ông ta đối với vương triều (67). Mối quan hệ triều cống loại này không hề chứa đựng sự kiểm soát đối với các sự kiện bên trong Triều Tiên mà biểu thị xu hướng Trung Quốc muốn cao tay ấn trong việc quyết định chính sách đối với Triều Tiên.

Mặc dù tính hợp pháp là động cơ chính đằng sau sứ đoàn đầu tiên của ông, Hồng Vũ cũng có mối quan tâm về an ninh ở Mãn Châu. Vốn không được bình định cho đến năm 1387, nơi đây là một vùng chiến lược do sự có mặt của người Mông Cổ và người Jurchen ở biên giới, Triều Tiên cũng có mối quan tâm đến sự ổn định an ninh.

Từ năm 1369 đến 1731, Hồng Vũ cố gắng thuyết phục Triều Tiên- bằng việc phái đi sứ giả, tặng quà để thần phục. Sau các chiến dịch Triều Tiên từ năm 1370 đến 1371 ở Liaodong, hoàng đế nhà Minh bắt đầu nhận thức rằng các láng giềng như là mối đe dọa an ninh và do đó đã áp dụng các phương pháp quyết liệt hơn để ép buộc sự phục tùng của triều đình Koryo bao gồm cả hăm dọa.

Ví dụ như vào năm 1374, Hồng Vũ đã giảm mức độ thường xuyên của các đoàn sứ đến Trung Quốc thành 3 năm một lần, có lẽ nằm trong cố gắng nhằm có được sự nhượng bộ và hợp tác trong việc duy trì an ninh ở vùng đông bắc (68). Ông ta cũng từ chối sắc phong cho Sǒng-gye (vua T’aejo, khoảng 1392–98), người sáng lập vương triều Choson mới ở Triều Tiên trong một nỗ lực để đảm bảo cho an ninh của Minh ở vùng biên giới phía Đông bắc. Ông ta trên thực tế đã yêu cầu sự chứng tỏ không có mối đe dọa nào đến từ Triều Tiên (69).   Hoàng đế Hồng vũ do đó đã sử dụng chiến lược thuyết phục và đe dọa để đối phó với Triều Tiên. Trong hầu hết ba thập kỉ sau, hoàng đế Vĩnh Lạc đã cố gắng tương tự. Ông ta đã cho phép các sứ Triều Tiên bị giữ lại trong thời Hồng Vũ được trở về, ban thưởng các món quà xa xỉ và thậm chí đề nghị hôn nhân giũa hai vương triều (70).

Trong mối quan hệ với Mông Cổ, cả hai hoàng đế nhà Minh đều thường xuyên tiến hành các chiến dịch quân sự chống lại họ, Vĩnh Lạc đã nổi tiếng khi thân chinh tiến hành 5 cuộc chinh phục vào thảo nguyên của người Mông Cổ (71)  Sự phong phú của chiến lược mà các hoàng đế đầu thời Minh sử dụng do vậy đã đối lập gay gắt với sự cứng rắn và thống nhất trong chính sách đối ngoại của TQ được chỉ ra trong mô hình của Fairbank. Mô hình nói về động cơ của các vua nước ngoài như là chủ yếu là vì thương mại và chiến lược của họ chủ yếu như là sự dàn xếp.

Nhưng động cơ của các ông vua Triều Tiên, Nhật Bản và Mông Cổ trong đầu thời Minh thực sự đã bao gồm từ sống sót, tự trị và lợi ích kinh tế đến bá chủ thảo nguyên và chiến lược của họ là đối ứng với sự  luân phiên giữa hòa dịu (khi họ triều cống) và kháng cự (khi họ từ chối thiết lập mối quan hệ triều cống chính thức).

Sự hòa giải không phải là sự phản ứng chủ yếu của Triều Tiên đối với sự thương lượng của Trung Quốc đầu thời Minh. Các vua Triều Tiên chống lại các yêu cầu của Trung Quốc khi họ coi chúng như là quá đáng hoặc như là sự xói mòn tiềm ẩn đối với lợi ích hạt nhân của họ đặc biệt là an ninh.

Ví dụ như các vua Triều Tiên đã làm thất bại yêu cầu lặp đi lặp lại của Hồng Vũ đòi bán ngựa cho quân đội nhà Minh, có lẽ vì Triều Tiên cho rằng số ngựa này có khả năng được sử dụng trong cuộc xung đột với Minh trong tương lai ở Mãn Châu (72).  Triều Tiên cũng thử thách Minh khi nó cho rằng yêu cầu sau của Minh đe dọa mạnh mẽ đến sự tồn vong và độc lập.

Một ví dụ là cuộc chiến mà Triều Tiên tiến hành chống lại Minh năm 1388, khi họ cho rằng hoàng đế Hồng Vũ đã có ý xâm phạm lãnh thổ Triều Tiên và lập kế hoạch xâm lược (73).

Dưới thời vua Vĩnh Lạc, Triều Tiên cũng đã tiến hành một cuốn chiến chống lại sự xâm nhập của TQ vào đất người Jurchen, nơi thuộc phạm vi ảnh hưởng của Triều Tiên và có ảnh hưởng quan trọng tới lợi ích an ninh của Triều Tiên (74)

Người Mông Cổ mặt khác cũng lợi dụng các mối quan hệ triều cống với nhà Minh để  tìm kiếm lợi ích kinh tế, uy tín chính trị và bảo vệ bằng quân sự.

Họ đã gắng tối đa để tận dụng lợi thế của nhà Minh trong nỗ lực làm giàu, tăng cường và bảo vệ chính họ trong khi đồng thời tìm kiếm các mục đích của bản thân là tiêu diệt các bộ lạc đối địch và thiết lập bá quyền đối với thảo nguyên.

Lợi ích do đó là động cơ quyết định đằng sau các đoàn sứ Mông Cổ tới triều Minh. Cần chú ý rằng sau sự thất bại của họ trong các cuộc chiến tranh với nhà Minh trong thời vua Vĩnh Lạc, người Mông Cổ đã tới trực tiếp triều Minh để triều cống. Một sự giải thích tốt hơn cho điều này hơn tham vọng cho các lợi ích chính trị và kinh tế cùng với đảm bảo sống sót sau khi thất bại là rất khó tìm kiếm.  Người Mông Cổ đã trực tiếp thách thức nhà Minh bằng việc tranh chấp quân sự và chính trị.

Được tăng cường sau khi lợi dụng các lợi ích trong việc triều cống nhà Minh, Mông Cổ cố gắng mở rộng sức mạnh gây bất lợi cho nhà Minh. Mahmud bắt đầu thử thách Minh vào năm 1413 (75) và Arughtai cho phép tấn công vào biên giới Minh từ năm 1422 đến 1424 (76).

Các nhà lãnh đạo này do đó đã thử thách ưu thế của Minh trong vùng bởi vì nó thể hiện xu hướng người Mông Cổ muốn làm bá chủ thảo nguyên.  Mô hình của Fairbank không nắm bắt được các động cơ và chiến lược phong phú trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và các láng giềng bởi vì nó tập trung vào các khía cạnh nghi lễ của quan hệ triều cống.

Nhưng tất nhiên Fairbank nhận ra sự phức tạp của các mối quan hệ này. Như Millward đã chỉ ra, Fairbank thừa nhận trực tiếp ở nhiều nơi đặc biệt trong bảng “Mục đích và phương tiện”, rằng các mối quan hệ của nhà Thanh với châu Á lục địa đã giải quyết nhiều vấn đề hơn so với hệ thống triều cống (77).

Nhưng mặc dù ông xác nhận vô số các kiểu quan hệ, bao gồm xâm chiếm bằng quân đội, kiểm soát hành chính, lôi kéo ngoại giao và thu hút bằng văn hóa-tư tưởng, chỉ có cái cuối cùng (văn hóa tư tưởng) là thích hợp với mô hình của ông.

Fairbank đã không tiến thêm bước tiếp theo trong việc tái định hình mô hình dựa trên nền tảng của sự phức tạp này. Và mặc dù ông đã chỉ ra rằng “trật tự thế giới Trung Hoa là khái niệm thống nhất chỉ trong mục đích của TQ và chỉ nằm ở mức độ tiêu chuẩn như là một mô hình lý tưởng” (78), nhưng ông đã không khám phá ra ngụ ý của chính mình.  Mancall cũng nhấn mạnh vào “sự phong phú khác thường của chiến lược chính trị Trung Quốc”. Nhưng ông gán những sự phong phú này cho “sự tài tình” của hệ thống triều cống (79).

Tuy nhiên người ta sẽ phải hỏi “sự tài tình” đến từ đâu. “Sự tài tình” của hệ thống triều cống đặc biệt trong lịch sử quả thật là thứ gì đó đã được giải thích. Xu hướng gán sự phong phú trong quan hệ của TQ với các quốc gia khác thành hệ thống triều cống nguyên khối và tuyệt đối đã ngăn cản hơn là tạo điều kiện cho sự đòi hỏi sâu hơn về chính trị Đông Á lịch sử.

“Triều cống” và các nghi lễ đi kèm phần lớn là sự tập trung chủ yếu của mô hình của Fairbank. Nhưng liệu nó có nắm bắt được ý nghĩa phong phú của triều cống?

Nếu “giá trị đạo đức của triều cống” và “giá trị vật chất của thương mại” là tất cả những gì mô hình này trả lời cho câu hỏi thì sau đó nó sẽ thất bại trước sự kiểm nghiệm mang tính phê phán này. Các hoàng đế TQ đòi hỏi các mối quan hệ triều cống vì mục đích cần sự chính thống hợp pháp trong chính trị nội bộ (80) cũng như an ninh ở biên giới.

Kiểu triều cống thay đổi tùy theo người triều cống. Các đoàn sứ triều cống không phải lúc nào cũng ngụ ý thần phục hoàng đế TQ và không phải đoàn nào cũng có thể giải thích bằng động cơ thương mại. Một số các học giả gần đây khi nói về triều Thanh cho rằng “triều cống” bao gồm nhiều kiểu buôn bán và quan hệ  sức mạnh (81).

Peter Perdue chỉ ra rằng các mối quan hệ với Hà Lan, Nga, Kazakhs, Mông Cổ, Triều Tiên, Lưu Cầu và sau đó là Anh tất cả đều thích hợp với hệ thống triều cống mặc dù mỗi mối quan hệ có quan hệ chính trị và thương mại tách biệt với đế chế Thanh (82).

Mô hình như đã chỉ ra không thể nào thích hợp với các mối quan hệ phong phú này. Việc sử dụng nó bị giới hạn thậm chí trong cả các lĩnh vực mà nó được hiểu là thích hợp nhất. Sự không thích hợp của mô hình vào đầu thời Minh đã đưa ra mối nghi ngờ về sự hữu dụng của nó đối với lịch sử Đông Á rộng lớn hơn.

Việc mô hình không thích hợp với các sự kiện chính được diễn giải vào đầu thời Minh, khi Trung Quốc thống nhất và đầy sức mạnh và khi thuyết lấy TQ làm trung tâm tìm thấy một sự biểu đạt mạnh mẽ, đã làm người ta băn khoăn về việc nó sẽ thể hiện như thế nào trong các thời kì khi Trung Quốc bị chia cắt và suy yếu.

 

Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên, Rossabi và các cộng sự của ông đã nhận ra rằng “Trật tự thế giới Trung Hoa” không khăng khăng cho toàn bộ thời kì từ thế kỉ 2 trước công nguyên tới Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất. Trong thời này Tống suy yếu (9960-1279), chính sách đối ngoại của TQ đã biểu thị một sự giải quyết khá mềm dẻo và thực dụng bởi vì các hoàng đế TQ không ở vị trí có thể đòi hỏi người nước ngoài gia nhập vào cơ cấu “hệ thống triều cống” để tiến hành các mối quan hệ đối ngoại. Sự yếu kém của quân đội nhà Tống đã ép các quan chức của nó đối xử với các nước láng giềng một cách bình đẳng và một hệ thống liên bang đã được tiến hành trong suốt thời gian này (83). Như Wang Gungwu chỉ ra “Khi tất cả những gì anh có thể làm là cố gắng giữ yên, sẽ không hề có trật tự thế giới Trung Hoa” (84).  Khó khăn mà mô hình đối mặt trong việc diễn giải các sự kiện chính trong lịch sử Đông Á được giải thích rất đơn giản; nó chủ yếu được dựa trên những gì diễn ra vào cuối thời Thanh, và được tin rằng có khả năng giải thích sự thất bại của nhà Thanh trước những thử thách đến từ phương Tây.

Nhưng không có giả thuyết nào độc đáo đối với thời cuối Thanh đằng sau mô hình thứ đã có thể không áp dụng được đối với các thời kì khác trong lịch sử TQ. Như Will quan sát, chính sách của nhà Thanh đối với những người châu Âu đi biển hướng tới sự đương đầu vĩ đại của chủ nghĩa cô lập thế kỉ 19, bận tâm với các vấn đề về địa vị ưu việt trong tài liệu và nghi lễ, dường như không thể tập trung vào sự thực  về sự xâm nhập vào thế giới của nó bằng sức mạnh lớn mà nó không chấp nhận hay thậm chí khoan dung các tập tục TQ trong mối quan hệ đối ngoại.

Chủ nghĩa đóng cửa, chủ nghĩa nghi lễ và sự tập trung vào bề ngoài hơn là sự thực bên ngoài TQ cũng là đặc điểm của các thể chế và quy định của hệ thống triều cống. Hạt nhân nghi lễ của hệ thống triều cống đó bị tấn công bởi McCartney trong  sự tranh cãi về khấu đầu và đòi hỏi về một vị thượng thư lưu trú thậm chí được bảo vệ mãnh liệt sau năm 1842. Bởi vì  không khó để biết tại sao, đặc biệt khi nhìn lại từ thế kỉ 19, nó đã dường như chỉ toàn bộ mô hình của chính sách cô lập, chính sách đối ngoại lấy TQ làm trung tâm như “hệ thống triều cống” (85). Nhưng không phải tất cả các “mối quan hệ đối ngoại của TQ truyền thống” đều là cô lập, trọng hình thức và lấy TQ làm trung tâm (86).

Phần đó của mô hình, thứ có thể đã tạo ra cảm giác khi áp dụng cho các chính sách cuối thời Thanh đối với người châu Âu, có lẽ đã không đưa ra bức tranh đúng đắn về chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong các thời kì khác. Tiếp theo cũng không có gì là ngạc nhiên khi mô hình đối mặt với các khó khăn khi áp dụng tới các thời kì khác.

Xa hơn hệ thống triều cống.

Nhiều vấn đề được thảo luận ở trên gợi ý cần có sự  dịch chuyển ít nhất đi xa hơn cơ cấu ban đầu được lập nên bởi Fairbank.

. Mặc dù nhiều học giả đã làm điều này nhiều lần, sự chỉ trích của họ mặc dù sâu sắc về sự không thích hợp của mô hình nhưng đã không gợi ý từ bỏ “hệ thống triều cống” như là một phạm trù phân tích.  Chỉ có James Hevia đã chỉ ra một cách vòng vo và xây dựng sự phân tích của mình từ cái nhìn hậu hiện đại (87).

Nhưng các tác phẩm gần đây về hệ thống triều cống đã chỉ ra sự cần thiết phải tái cấu trúc hệ thống triều cống như là một thực thể nguyên khối. Ví dụ như  sự quan sát kín đáo rằng “hệ thống triều cống này luôn đặt dưới những thử thách, bị sụp đổ, bị tái cấu trúc và tái xây dựng. Nó không bao giờ ổn định, cố định hoặc đồng nhất. Đối với vài vùng như Triều Tiên, các mối quan hệ là tương đối ổn định, các nơi khác đặc biệt ở phía đông bắc, sự thay đổi bất thường hay xẩy ra” (88). Điều này rõ ràng ngụ ý rằng sự cần thiết phải phá hủy hệ thống triều cống và giải thích vô số mức độ của sự ổn định trong các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc.

Mọi hệ thống triều cống đều có nội dung và đặc trưng của mình. Hãy coi Hán là thời kì lịch sử đầu tiên ở đó hệ thống triều cống bắt đầu định hình (89), hệ thống triều cống chỉ có thể tiến triển tùy theo các đặc trưng đang thay đổi của triều đình và phản ánh sự thay đổi trong các mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia khác. Không thể có một hệ thống triều cống đơn nhất, bất biến trong suốt lịch sử Trung Quốc. Các tập tục nghi lễ đi kèm các sứ đoàn triều cống trên thực tế đã thay đổi bởi vì các triều đại khác nhau có các quy định về nghi lễ khác nhau.

 

Người ta do đó cần công nhận khía cạnh thay đổi của hệ thống triều cống như là một thể chế lịch sử, thứ “được xác định bởi truyền thống quá khứ cũng như bởi tình hình hiện thời” mà các hoàng đế Trung Quốc nhận thức và đương đầu (90).

Ví dụ như hệ thống triều cống của nhà Hán, phải được công nhận là khác biệt với hệ thống triều cống của nhà Minh và nhà Thanh. Những hệ thống triều cống này nên được phân biệt tùy theo thực tế lịch sử, thực tế sức mạnh bị thay đổi, động cơ và mục đích ẩn dưới các mối quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia khác ở các thời kỳ khác nhau.

 

Thể chế của hệ thống triều cống, do đó là sự phụ thuộc phong phú được giải thích. Việc sử dụng nó như là một  thứ có thể thay đổi phụ thuộc trong sự giải thích mang tính thể chế đã chỉ ra TQ và láng giềng đáp trả sự  đè nén và khích lệ mà một thể chế như thế tạo ra, và các động cơ của các con đường độc lập thực thi sự giao thiệp trong một thời gian dài (91).  Nhưng nếu trong sự phân tích cuối cùng chính các nguồn tư liệu và văn hóa TQ thứ tạo ra sự đè nén và khuyến khích này, một hồ sơ mang tính thể chế được dựa trên hệ thống triều cống dường như vô dụng. Nếu các hoàng đế TQ xây dựng hệ thống triều cống và nếu các vua nước ngoài tham dự vào một hệ thống như vậy bởi vì các mối lợi ích tồn tại trừ trước, thì sau đó không có sự cần thiết phải sử dụng hệ thống triều cống để giải thích tại sao sự giao thiệp của họ lại theo sau một mô hình “được thể chế hóa”.

Chúng ta chỉ cần giải thích nguồn gốc của mối quan tâm của họ và họ đã xây dựng mô hình giao thiệp như thế nào. Hệ thống triều cống sau đó xuất hiện như là một sản phẩm phụ của các mối quan tâm và hành động đó, đó chính là thứ có thể giải thích. Nếu các chiến lược và mối quan tâm của Trung Quốc và láng giềng thay đổi, nội dung và đặc điểm của hệ thống triều cống cũng thế, như là một sản phẩm phụ của sự giao thiệp chiến lược. Đây là một thực tế rõ ràng ở trong lịch sử Đông Á và là những gì mà bài báo này cố gắng chỉ ra.

Nhưng có một vấn đề sâu hơn khi thảo luận về hệ thống triều cống và ảnh hưởng của nó đối với chính trị Đông Á lịch sử. Sự giải thích hệ thống triều cống trong một giai đoạn lịch sử nào đó khó có thể giải thích toàn bộ phạm vi của chính trị Đông Á thời đó. Như trước đó tôi đã chỉ ra, hệ thống triều cống nếu được nhìn nhận như là một thể chế thì nó sẽ là một trong số nhiều thể chế trong lịch sử Đông Á.

Một sự phân tích đóng khung xung quanh hệ thống triều cống do đó là không hoàn hảo khi giải thích động cơ chính trị rộng lớn hơn giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.

Điều này là rõ ràng từ các ví dụ vào đầu thời Minh đã được thảo luận. Mặc dù các chiến lược nhất định được sử dụng bởi nhà Minh Trung Quốc và các láng giềng, như thuyết phục, có thể được xem xét từ cái nhìn triều cống hay những thứ khác như chiến tranh, đe dọa, gây trở ngại và thử thách không hề tương thích lắm với hệ thống triều cống.

Tất nhiên, không có học giả nào từng tuyên bố rằng hệ thống triều cống là tất cả mọi thứ trong các mối quan hệ quốc tế Đông Á. Nhưng sự nhấn mạnh quá mức vào nó đã làm nhẹ đi tầm quan trọng của các thể chế khác và động cơ chính trị khác.


Cũ hơn Mới hơn