Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống”: mở rộng biên độ khái niệm về chính trị Đông Á lịch sử (2)

Tác giả: Zhang Feng

Zhang Feng là phó giáo sư khoa Quan hệ quốc tế , đại học Tsinghua.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Quan điểm thứ hai

Quan điểm thứ hai, thường thấy ở các nhà sử học Trung Quốc với nền tảng khác nhau trong các bài viết học thuật của người Trung Quốc, xem hệ thống triều cống như là một sự quản lý quan liêu đối với các mối quan hệ đối ngoại (24).

Nó tập trung vào sự phát triển mang tính tổ chức và chức năng của một hệ thống phức tạp các quy tắc và quy trình mà các quan chức-trí thức của Trung Quốc bày ra cho việc giao thiệp với người nước ngoài.

Truyền thống nghiên cứu này tập trung chủ yếu với sự phát triển lịch sử của các phong tục lễ nghi và các cơ quan quan liêu và giả định văn hóa đằng sau sự biểu hiện mang tính nghi lễ về các mối quan hệ đối ngoại. Ví dụ như trong một nghiên cứu về hệ thống triều cống của nhà Minh, sự tiếp cận này sẽ hầu như bao gồm  tổ chức quan liêu của triểu Minh giải quyết đảm nhận mối quan hệ đối ngoại, các nghi lễ tỉ mỉ mà các sứ thần nước ngoài được yêu cầu phải tuân thủ khi tới kinh đô của Trung Quốc, chi tiết về các món đồ triều cống của nước ngoài và quà tặng của Trung Quốc, sự thường xuyên của triều cống, con đường của nó…Nhưng bởi vì hệ thống triều cống được  diễn đạt như là sự đổi mới quan liêu của Trung Quốc đối với việc giải quyết các sự kiện đối ngoại từ quan điểm của người Trung Hoa, nó không làm sáng rõ động cơ của Trung Quốc với các nước láng giềng.  Hệ thống triều cống được đưa ra bởi người Trung Quốc và từ cái nhìn của người Trung Quốc. Bị hạn chế trong khía cạnh quan liêu về chính sách đối ngoại Trung Hoa và không phải là trật tự Đông Á rộng hơn, nó không đóng vai trò là nền tảng thích hợp cho việc hiểu biết về mối quan hệ toàn diện giữa Trung Quốc và láng giềng. Các học giả viết về chính sách ngoại giao Trung Hoa từ cái nhìn nay có xu hướng tập trung vào các yếu tố nghi lễ và biểu tượng đi kèm với mối quan hệ triều cống. Ví dụ như, trong sự điều tra kĩ lưỡng của ông về sự phát triển mang tính quan liêu của hệ thống triều cống trong lịch sử Trung Quốc, Li Yunquan cho rằng các vua Trung Quốc không đánh giá cao lắm của cải triều cống như là sự xuất hiện của chúng và chức năng của  chúng trong việc thể hiện sự ưu việt của Trung Hoa (25). Mặc dù điều này thường đúng với khía cạnh triều cống của các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, nó không phải là một sự khái quát hóa  đối với chính sách đối ngoại của Trung Hoa truyền thống nhìn tổng thể.

Cái nhìn về hệ thống triều cống như là một sự quản lý mang tính quan liêu đối với các quan hệ đối ngoại rõ ràng là quan trọng đối với việc hiểu biết sự phát triển lịch sử của chính sách đối ngoại Trung Quốc và đặc biệt là sự quan liêu hóa qua các triều đại nhưng nó không giải thích được động cơ chính trị rộng lớn hơn giữa Trung Quốc và láng giềng. Thêm nữa, sự tập trung của nó vào các khía cạnh mang tính quan liêu của hệ thống triều cống đã đặt sự nhấn mạnh quá mức vào chủ nghĩa biểu tượng, do vậy đã lướt qua tầm quan trọng của chính sách đối ngoại Trung Hoa thứ có đặc trưng là sự uyển chuyển và thực dụng.

 Quan điểm thứ ba.

Quan điểm thứ ba, được tìm thấy giữa các học giả IR viết từ cái nhìn của trường phái Anh, coi hệ thống triều cống như là một thể chế  của xã hội quốc tế Đông Á lịch sử. Trường phái Anh cổ điển định nghĩa  thể chế là “một hệ thống thói quen và tập tục được định hình hướng tới sự ghi nhận các mục đích chung” (26). Các nhà học giả theo trường phái tân tự do đã định nghĩa thể chế như là “Sự khẳng định và hệ thống được kết nối của các luật lệ (chính thức và không chính thức) định ra vai trò đối xử, bắt buộc các hành động, và định hình nên sự trông đợi (27). Tuy nhiên các  định nghĩa này chồng gối lên nhau, cả hai nhìn nhận các thể chế như là các hệ thống gắn liền với các quy tắc và tập tục cấu trúc và tổ chức nên các mối quan hệ (28).

Yongjin Zhang cho rằng, theo cách nhìn này, hệ thống triều cống là thể chế nền tảng của trật tự Đông Á lịch sử. Theo cách diễn đạt của ông, “Hệ thống triều cống là thể chế nền tảng bao gồm cả giả thuyết triết học và tập tục mang tính thể chế bên trong trật tự thế giới Trung Hoa và thứ tạo nên các mối quan hệ và đảm bảo sự hợp tác giữa Trung Quốc và các thành viên tham dự khác trong Pax Sinica (30).   Chính thông qua hệ thống triều cống mà Trung Quốc và các quốc gia khác tiến hành các quan hệ có ý nghĩa với nhau. Hệ thống triều cống trong ngữ cảnh này bao gồm các giả thuyết văn hóa như lấy Trung Hoa làm trung tâm và miêu tả các quy tắc và tập tục, như người nước ngoài thực thi triều cống đối với triều đình Trung Hoa và triều đình Trung Hoa thì tặng lại quà và sắc phong.

Được diễn đạt như là một thể chế trong ngữ cảnh này, hệ thống triều cống trở nên một nhân tố diễn giải trung tâm đối với chính trị Đông Á lịch sử. Tuy nhiên xem xét hệ thống triều cống như một thể chế, mặc dù là rõ ràng thích hợp từ lập trường lý luận cũng đưa đến các vấn đề thuộc về phân tích nào đó. Đầu tiên là việc hệ thống triều cống là thứ duy nhất-mặc dù có lẽ là nổi trội nhất- trong số các thể chế trong hệ thống Đông Á lịch sử.

Nó không thể một mình nắm bắt toàn bộ hình dạng của các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc bởi vì nó chỉ diễn tả một phần trong các tập tục mang tính thể chế của hệ thống triều cống. Các thể chế khác được định ra bởi trường phái Anh, như chiến tranh và thậm chí là cán cân quyền lực, cũng có thể được tìm thấy trong lịch sử Đông Á. Nhiều nhà phân tích có xu hướng quá nhấn mạnh ấn tượng của hệ thống triều cống trong khi các thể chế khác cũng đóng vai trò quan trọng.Vấn đề thứ hai với cái nhìn mang tính thể chế là việc bản thân các thể chế thường đòi hỏi sự giải thích (30).

Nếu vậy, chúng ta phải hiểu các động cơ, chiến lược và lợi ích đằng sau cấu trúc của Trung Hoa và của các nước khác khi họ tham dự vào hệ thống triều cống, chúng ta cần phải mổ xẻ và giải thích hệ thống triều cống ở chỗ thứ nhất. Câu hỏi không phải là liệu hệ thống triều cống có thể được nhìn nhận như là một thể chế, như là nó chắn chắn như vậy, mà là sức mạnh giải thích và diễn giải của cách nhìn có thể tạo ra.

Thứ ba, xem xét hệ thống triều cống như là một thể chế mà không có sự chú ý thích hợp tới sự đánh giá lịch sử sẽ đưa đến ấn tượng sai lầm rằng nó là thứ gì đó ổn định và không thay đổi suốt trong lịch sử. Tuy nhiên trên thực tế, đặc điểm và bản chất của hệ thống triều cống thay đổi rất ấn tượng trong các thời kì lịch sử khác nhau.

Do đó chúng ta nên nói về các hệ thống triều cống khác nhau hơn là một thứ đơn lẻ trong lịch sử. Việc không thẩm tra các đặc điểm của hệ thống triều cống khi chúng thay đổi qua thời gian có nghĩa rằng đã nhìn lướt qua bản chất thay đổi của chính trị châu Á lịch sử, mặc dù hệ thống triều cống  khác xa với chính trị quốc tế trong vùng xét ở tổng thể. Điểm này gợi ý rằng sự không tương thích của cái nhìn mang tính thể chế về hệ thống triều cống phục vụ việc hiểu biết về chính trị Đông Á lịch sử.

Ba quan điểm về hệ thống triều cống rõ ràng có sự liên quan trong các cách thức thú vị, bởi đức hạnh của lý luận chủ yếu của họ và sự tiến triển tri thức. Ví dụ như, quan điểm của Fairbank về hệ thống triều cống như là phương tiện dành cho ngoại giao Trung Hoa chỉ là một bước từ quan điểm thứ ba-trường phái Anh, cái nhìn về hệ thống triều cống như là một thể chế. Khi được hỏi về sự hữu ích của quan điểm thứ hai và thứ ba đối với việc hiểu biết chính trị Đông Á lịch sử, tôi đã tập trung đánh giá về mô hình của Fairbank đồng thời vẫn phát triển những sự phê bình này.

Điểm yếu cố hữu của mô hình.

Phần này đánh giá mô hình của Fairbank về chính bản thân khái niệm của nó.

Câu hỏi đặt ra không phải là nó chống chọi như thế nào trước các bằng chứng lịch sử-phần công việc cho phần tiếp theo- mà là bản thân mô hình đó logic như thế nào. Ba câu hỏi được đặt ra khi đánh giá sức mạnh diễn giải. Thứ nhất: các giả thuyết ẩn dưới mô hình có ích như thế nào? Các mệnh đề diễn giải thường nổi lên từ các giả thuyết và các giả thuyết càng hữu ích thì các mệnh đề sẽ càng tốt hơn.  Thứ hai, logic nội tại của nó gắn kết và rõ ràng như thế nào? Các mô hình mập mờ với logic mâu thuẫn gây  hoang mang hơn việc chúng làm cho rõ ràng. Thứ ba, sức mạnh giải thích mà nó mang đến nhiều đến mức nào?

 Các giả thuyết

Như đã bàn luận ở phần trên, giả thuyết nằm dưới mô hình là thứ thuộc về thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm, ý tưởng rằng các hoàng đế Trung Hoa cho rằng bản thân họ là trung tâm và ưu việt hơn những người khác trong thế giới mà họ biết. Điều này dẫn tới rằng họ sẽ sai khiến các vua nước ngoài thừa nhận sự ưu việt của họ bằng việc thực thi triều cống và chấp nhận địa vị chư hầu. Tuy nhiên cần chú ý rằng tuyên bố của Trung Hoa là “vua của Tianxia” không ngụ ý rằng họ muốn thống trị thế giới mà họ biết (31).

Tianxia được giới hạn tới những vùng xung quanh đế chế Trung Hoa, nơi mà chủ yếu tương ứng với những gì mà ngày nay chúng ta gọi là Đông bắc và Đông Nam Á mà vài phần của Trung Á. Gao Mingshi gần đây đã đề xướng rằng, theo nhận thức của Trung Hoa cổ đại, thế giới sẽ được phân chia làm ba vùng chịu ảnh hưởng của Trung Hoa: vùng chư hầu nội bộ, vùng chư hầu bên ngoài và vùng không phải là chư hầu tạm thời (32).

Trung Hoa không trông đợi mở rộng lãnh thổ của mình đối với các nhà nước thuộc danh sách cuối cùng ở trên và thường đối xử với họ bình đẳng. Ví dụ như, các triều Đường và Tống duy trì quan hệ “anh em” với Turkic, Uighur và nhà nước Tây Tạng trước khi Trung Hoa cuối cùng đã chinh phục họ như Hán đã làm với Xiongnu. Khi các nhà nước bộ lạc này nổi lên và thể hiện sự đe dọa an ninh họ bị đối xử như là kẻ thù hơn là quốc gia triều cống như giả thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm gợi ý.

Vấn đề đầu tiên nổi lên từ giả thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm là việc hữu dụng của nó thay đổi theo thời điểm lịch sử được thẩm tra (33).

Các vị vua Trung Hoa, theo như nghệ thuật tu từ được ghi lại trong các tư liệu lịch sử Trung Hoa, quả thật đã có quan niệm mình là ưu việt kể từ thời tiền Tần. Nhưng sự kiên định rõ ràng về sự ưu việt do họ tự nhận là dối trá đặc biệt khi  đưa vào tài liệu “truyền thống tôn trọng trong việc giải quyết tách rời khỏi thực tiễn vì vậy không cần thiết để thay đổi thuật tu từ (34) nên các quan chức-trí thức Trung Quốc phát triển như thể họ lặng ngắm chính sách đối ngoại của đế chế họ.

Liệu các vua của Trung Quốc có thực sự đưa ra các quyết định chính sách đối ngoại chủ yếu dựa vào nền tảng thuộc về sự ưu việt Trung Hoa thông qua lịch sử vương triều suốt  hai ngàn năm? Một sự khác biệt ít nhất nên được tạo ra giữa các thời kỳ khi Trung Quốc không thống nhất và yếu bị chia cắt, sức mạnh vật chất và môi trường bên ngoài thường định hình một cách quyết định nhận của các vị vua và đưa ra quyết định. Như Wang Gungwu chỉ ra, nghệ thuật tu từ của sự ưu việt “được dựa trên sức mạnh và vô nghĩa trong các thời kỳ yếu và hỗn loạn” (35).  Ông tiếp tục: “Đôi khi nó (tư tưởng về ưu việt) rõ ràng là huyền thoại, một huyền thoại thoải mái và có thể chấp nhận, nhưng cũng như thế ở thời điểm khác nó là một thực tế, một thực tế nuôi dưỡng sự tự hào văn hóa nhưng cũng đòi hỏi giới hạn đạo đức” (36) . Ảnh hưởng của thuyết Trung Hoa là trung tâm đối với việc làm chính sách thực tế do vậy được quy định bởi thực tế sức mạnh. CÁc chính sách và hành động của các vị vua Trung Quốc có thể được định hình nhiều hơn bởi logic của tình huống hơn là các thế giới quan khác nhau và giá trị về tư tưởng triều cống lấy Trung Hoa làm trung tâm (37). Ví dụ như người sáng lập triều Nam Tống nhận thấy bản thân mình buộc phải chấp nhận địa vị như là một chư hầu của triều JIn-địch thủ của ông ta ở phái bắc- vào năm 1138 (38).

Ít gay cấn hơn, các vua của các triều đại Trung Quốc như Hán, Tùy và Đường đã phải ban hành “anh em” hay quan hệ cân bằng khác với các quốc gia láng giềng du mục đầy sức mạnh ở phía tây và phía bắc.  Thuyết lấy Trung Quốc làm trung tâm có thể là thuyết hữu ích ở vào các thời điểm khi Trung Quốc mạnh khi thực tế ít nhiều thích hợp với niềm tin vào sự ưu việt. Nhưng thậm chí ở đây người ta phải kiểm tra ảnh hưởng chính xác của nó đối với việc tạo ra chính sách. Nhiều người tin rằng thuyết lấy Trung Quốc làm trung tâm  đã dẫn tới sự cứng rắn và thiếu linh hoạt. Nhưng đây không phải là trường hợp cần thiết. Hán, Đường, Minh và Thanh trong các thời kì khác nhau đã thể hiện mô hình mềm dẻo, linh hoạt trong quan hệ đối ngoại (39).  Hơn nữa, thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm không luôn đòi hỏi sự thần phục của các vua nước ngoài như là một chư hầu, thậm chí trong cả các thời kì Trung Quốc hùng mạnh. Ví dụ như Đường không khăng khăng đòi hỏi lời tuyên bố của Nhật là chư hầu (40).  Từ cái nhìn khác, nếu việc lấy Trung Quốc làm trung tâm quả thật là động lực quan trọng, “sự thúc đẩy chinh phục và cai trị những tộc người “bên dưới” là “rắc rối”(41).

Rõ ràng là thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm đơn thuần không soi sáng nhiều nỗ lực của Trung Quốc trong việc thống trị. Mặc dù những ví dụ này diễn tả rằng tầm quan trọng của thuyết lấy Trung Hòa làm trung tâm trong việc tiến hành chính sách đối ngoại của Trung Quốc không thể bị cường điệu, họ cũng chỉ ra rằng ảnh hưởng của thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm đối với chính sách thay đổi trong các trường hợp khác nhau và cần phải được xác định một cách kinh nghiệm.

Sự hữu dụng mập mờ của thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm trong các thời kỳ Trung Quốc suy yếu gợi ý rằng thuyết về sự ưu việt của Trung Hoa đơn nhất là không đủ và dẫn tới lầm lẫn bởi vì một Trung Quốc suy yếu cũng phải lo lắng về sự sống sót của nó. Điều này ít nhất là những gì nhà Tống trải nghiệm với các địch thủ đầy sức mạnh của nó ở phía Bắc. Đối với những thời kỳ này chúng ta cần một giả thuyết về động cơ của các vua Trung Quốc đối với an  ninh của triều đại họ.

John E. Wills, Jr. đã phản ánh tư duy này khi ông nhấn mạnh khái niệm “phòng thủ” (42). Fairbank công nhận rằng đối với các vua Trung Hoa “vấn đề chính trị chủ yếu là làm thế nào để duy trì sự ưu việt của Trung Quốc trong tình thế yếu kém của quân đội”. Sau đó ông đã vạch ra “mục đích và phương tiện trong các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc” (43).

Tuy nhiên ông đã không hợp nhất các tư duy này trong mô hình của ông. Kết quả là mô hình đã phản chiếu mô hình tư duy về cái nhìn Trung Quốc chính thống, mặc dù Fairbank nhận thức được về các ngoại lệ lịch sử đối với thuyết coi Trung Hoa là trung tâm như đã được thể hiện bởi các vua Trung Quốc (44). Mô hình dường như đem lại một cái nhìn cần thiết về văn hóa Trung Quốc và sự tiếp cận của nó đối với quan hệ đối ngoại, để lại ấn tượng rằng người Trung Quốc đã không thể xem xét dựa trên sự ưu việt của họ.

Các học thuyết chỉ hữu ích  đối với sự mở rộng rằng họ có thể thuận tiện trong việc xây dựng mô hình. Mặc dù thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm dường như là một khía cạnh  hữu ích và không thể thiếu được của các học thuyết này, nó không thể là duy nhất thậm chí là cái chủ yếu. Will tin tưởng rằng thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm có thể là “nơi sai lầm để bắt đầu” phân tích chính sách đối ngoại của TRung Quốc bởi vì nó tạo nên  “vòng tuần hoàn ngắn”, sự cần thiết của việc chú ý đến tất cả các bằng chứng, đối với  tất cả các thể chế và mô hình hành động và rút ngắn quá trình diễn giải nên được bắt đầu bằng việc giả định những sự tương tự rộng rãi về nhu cầu và động cơ của con người (45).

Thiếu sót thứ hai trong giả định về sự ưu việt của Trung Hoa là sự phiến diện của nó hay là sự bất hoàn thiện của nó. Nhớ lại rằng mặc dù mô hình có xu hướng hướng tới phía Trung Quốc trong câu chuyện, nhưng nó cũng được giả đinh bao gồm cả động cơ của các vua nước ngoài đối với việc chấp nhận quan hệ triều cống.

Nhưng giả định được tạo ra dựa toàn bộ vào phía Trung Hoa rõ ràng được xem xét rằng các quốc gia nước ngoài có xu hướng bị động khi đáp lại sự khởi xướng của Trung Hoa. Liệu chúng ta có hiểu rằng vua của các chính thể khác nhau tin vào sự ưu việt của Trung Hoa trong việc tiến hành các mối quan hệ đối ngoại một cách đơn giản giống như các vị hoàng đế Trung Hoa nghĩ?  Làm thế nào chúng ta biết được  nhận thức của chính họ trong mối quan hệ với Trung Hoa nói chung? Tất cả những gì được ban từ mô hình là việc chúng  tuân theo cái nhìn Trung Hoa (46).

Cuối cùng, thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm về cơ bản là một giả định văn hóa. Điều này được phản ánh trong  xu hướng trong giới học giả lịch sử Mĩ của những năm 1950 và 1960 để đầu tư sức mạnh giải thích khổng lồ trong  văn hóa và xã hội truyền thống Trung Quốc (47). Nhưng như đã chỉ ra trước đó, các giả định văn hóa đơn thuần không thể là thứ thích hợp thậm chí đối với chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong các thời kì Trung Quốc hùng mạnh. Sự giải thích văn hóa-xã hội bản thân nó không có vấn đề gì, chúng chỉ cần được hỗ trợ bởi sự giải thích đưa ra các nhân tố khác và ở những mức độ khác.

Một giả định tiềm ẩn khác đôi khi được tìm thấy trong sự phân tích văn hóa là việc “các quan hệ đối ngoại của Trung Hoa truyền thống là những gì  khác căn bản với chính sách đối ngoại của các quyền lực lớn khác trong lịch sử và việc một hệ thống độc đáo của ngôn ngữ và công cụ do đó là cần thiết để diễn giải nó. Điều này không cần phải là trường hợp. Ví dụ như sự quan tâm tới quyền lực và lợi ích cùng với văn hóa liệu có quan trọng trong việc tiến hành chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia bên ngoài nào không?

Phải thừa nhận rằng các khái niệm như “sức mạnh”, “an ninh” và “lợi ích” có thể cần được xác định và áp dụng với các không gian và thời gian khác nhau nhưng chúng không phải luôn luôn lúc nào cũng xung khắc với văn hóa. Quá trình trong học thuyết hóa chính trị Đông Á lịch sử đòi hỏi thoát khỏi giả định về sự độc đáo của Trung Hoa hay châu Á và tìm kiếm thay vào đó các mô hình hoặc là sự tương đồng cũng như là sự khác biệt trong các động cơ chính trị qua các khu vực khác nhau.

Tóm lại, Ba vấn đề này để giải quyết với các giả thuyết đằng sau mô hình-sự thất bại trong việc phá hủy thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm, để giải quyết dứt khoát với các giả thuyết chính sách đối ngoại của quốc gia khác và chuyển khỏi mô hình rập khuôn văn hóa-hứa hẹn giá trị của sự đề xuất mang tính diễn giải.

 

(còn tiếp)


Cũ hơn Mới hơn