Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống”: mở rộng biên độ khái niệm về chính trị Đông Á lịch sử (1)



Tác giả: Zhang Feng

Zhang Feng là phó giáo sư khoa Quan hệ quốc tế , đại học Tsinghua.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Một đặc điểm đáng chú ý của việc nghiên cứu chính trị Đông Á lịch sử là sự vắng bóng của các học thuyết mang tính gốc rễ chính xác giải thích các mối quan hệ giữa đế chế Trung Hoa và các quốc gia láng giềng và giải thích chúng hoạt động như thế nào. Thứ nổi tiếng một thời gian dài trong lĩnh vực này là tư tưởng về “hệ thống triều cống” và tầm quan trọng của nó đối với việc tổ chức nên ý nghĩ (tư tưởng) của chúng ta về chính trị Đông Á lịch sử. Nhưng cái gì là “hệ thống triều cống” khi nó được sử dụng bởi vô số các học giả? Viễn cảnh và mô hình hệ thống triều cống hữu ích như thế nào trong việc soi sáng chính trị Đông Á lịch sử? Trong bài báo này, tôi sẽ đánh giá một cách phê phán các tác phẩm đáng kính về “hệ thống triều cống” trong nỗ lực làm rõ các khái niệm và mở rộng các chủ đề chính về các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc truyền thống và động cơ chính trị rộng lớn hơn giữa Trung Quốc và láng giềng. Tôi viết từ cái nhìn khoa học chính trị nhưng có dựa nhiều vào thành tựu của các học giả nổi tiếng trước đó bàn về chủ đề này.

Ngoại trừ một vài ngoại lệ đáng chú ý trong những năm gần đây, “quan hệ quốc tế” của Đông Á lịch sử hầu như là lĩnh vực chủ yếu của các nhà sử học. Lịch sử ngoại giao Đông Á chứng kiến một thời kì ấn tượng của sự sáng tạo tri thức từ những năm 1930 tới những năm 1960, nhờ chủ yếu vào tác phẩm tiên phong của John King Fairbank (1) sau nó mối quan tâm của các nhà sử học mờ dần (2). Các nghiên cứu trong “thời kỳ cổ điển” 30 năm về quan hệ đối ngoại của Trung Quốc đã tạo ra những hiểu biết và đặt nền tảng cho sự hiểu biết về chính trị Đông Á lịch sử. Nhưng sự nhầm lẫn khi phân tích và sự bỏ sót mang tính thực tiễn là rất rõ ràng trong phần lớn nghiên cứu. Vào những năm 1980, các nhà sử học bắt đầu tái kiểm tra “hệ thống triều cống” của Fairbank và  cái khung “Trật tự thế giới Trung Hoa”, làm bộc lộ các giả thuyết bị che giấu và đem ra ánh sáng  các bằng chứng lịch sử mới mâu thuẫn với sự diễn giải. Nhưng mặc dù nghiên cứu này phê phán Fairbank, nhìn chung nó đã không cố gắng thay thế mô hình hệ thống triều cống của ông bằng bất cứ cái khung giải thích nào khác.

Các nhà khoa học chính trị và đặc biệt là các học giả quan hệ quốc tế (IR) nên có mối quan tâm đối với chính trị Đông Á lịch sử. Nó là lĩnh vực màu mỡ cho sự đổi mới học thuyết như là lịch sử châu Âu đã được dùng để phát triển các học thuyết quan hệ quốc tế hiện đại. Nhưng mặc dù tiềm năng xây dựng học thuyết của nó được công nhận, có tương đối ít các học giả bước vào lĩnh vực được trang bị bởi các nghiên cứu học thuyết và lịch sử sâu sắc. Bất cứ nghiên cứu nào tiến hành với chủ đề này thường đều dựa trên nguồn tư liệu thứ cấp,thứ đã cản trở sự đổi mới học thuyết và phân tích ở nơi đầu tiên (3). Một vài tác phẩm đã cố gắng một cách có ý thức khai thác Châu Á lịch sử cho sự phát triển học thuyết và đã tạo ra sự tiếp cận và hiểu biết tươi mới. Hai tác phẩm mới mẻ nhất là Cultural  Realism của Johnston và War and State Formation in Ancient China and Early Modern Europe (4)

Nhưng mặc dù cả hai cuốn sách đã tạo ra cái nhìn quan trọng về văn hóa chiến lược của Trung Quốc và quá trình hình thành nhà nước ở Trung Quốc cổ đại nhưng không tác phẩm nào trình bày nhiều về bản thân hệ thống triều cống. Và ngoại trừ tác phẩm gần đây của Bantly Womack (5), hầu như không có học giả IR nào thẩm tra một cách có hệ thống hệ thống triều cống. Khuynh hướng “lấy Trung Quốc làm trung tâm” mở rộng trong cả các nhà sử học và học giả IR-rõ ràng trong xu hướng tập trung vào các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc đối với sự ngăn ngừa của nó trong việc đối phó với các chính thể khác trong vùng-bao gồm sự thiếu sót về sự chú ý này.

Mặt khác nhiều học giả IR Trung Quốc tìm kiếm sự hấp dẫn của hệ thống triều cống. Một vài người nghĩ nó như thể là một nguồn phát triển “trường phái Trung Hoa về quan hệ quốc tế” (6).

Điều này có thể đúng nhưng trước hết chúng ta cần biết nguồn gốc và sự tiến hóa của tư tưởng về “hệ thống triều cống”, các đặc điểm chính của nó như là một thể chế lịch sử và sự mạnh, yếu của các mô hình tồn tại của nó trước khi chúng ta có thể sử dụng “hệ thống triều cống” trong các học thuyết Trung Hoa. Các học giả nhất định đã  coi “hệ thống triều cống” như là một thực thể lịch sử được đưa đến,  không thay đổi và coi sự diễn giải về nó của Fairbank là không có vấn đề gì. Tôi cho rằng luận văn của Fairbank không phải là nền tảng đầy đủ đối với sự phát triển các học thuyết mới. Quan trọng hơn, thay vì dùng “hệ thống triều cống” như là một khái niệm qua đó phát triển các học thuyết Trung Hoa, chúng ta nên trước hết nghĩ về làm thế nào để phát triển các học thuyết về bất cứ loại nào (gì) mà có thể giải thích “hệ thống triều cống” như là một thực thể lịch sử.

Mục đích của bài báo này khiêm tốn hơn. Nó không cố gắng tạo ra khung học thuyết mới để giải thích chính trị Đông Á lịch sử. Suy cho cùng các học thuyết mới là sản phẩm tích lũy của quá trình nghiên cứu theo thời gian. Nhưng tôi sẽ đưa ra một cơ cấu mang tính lựa chọn ở phần cuối bài báo giải thích sự rắc rối trong chính trị triều cống giữa Trung Quốc và láng giềng. Tuy nhiên mục đích chính của tôi là tập trung vào bản thân khái niệm “triều cống” và đánh giá lợi ích mang tính phân tích của các mô hình và cách nhìn mà khái niệm này đã sinh ra để hiểu về các đặc điểm nhất định của chính trị Đông Á lịch sử.

Có ba cách thức có liên quan với nhau ở đó khái niệm “hệ thống triều cống” được dùng trong các tác phẩm tương ứng. Tôi sẽ trao đổi lại từng cái một nhưng tập trung vào các mô hình diễn giải của Fairbank như thể rằng nó là thứ có ảnh hưởng nhất trong việc tạo ra mẫu (sự biến hóa) trong nghiên cứu lịch sử ngoại giao Đông Á (7). Tôi xây dựng nên sự phê phán đối với mô hình này vốn đã  tồn tại qua nhiều năm (8) và đưa ra một sự đánh giá mang tính hệ thống mới. Việc những thiếu sót được tìm thấy sẽ không có gì là ngạc nhiên, bởi vì Fairbank viết trong bối cảnh chính trị và xã hội những năm 1930 (9). Nhưng sự phê phán  nên có sự đáp trả tích cực.

Tôi sử dụng sự đánh giá này đối với nghiên cứu nền tảng của Fairbank về hệ thống triều cống như là phương tiện tìm tòi qua đó làm rõ các khái niệm mới có thể về chính trị Đông Á lịch sử. Faribank tin rằng “mỗi chủ đề chính sẽ phải được làm lại cho từng thế hệ (10), và  thất vọng rằng không có ai nỗ lực thanh lọc hay thậm chí là phá hủy chương trình nghiên cứu của ông (11). 50 năm sau khi các tác phẩm chủ yếu của ông được công bố, thời gian dường như đã chín muồi để đánh giá. Lý luận chung của tôi là từng cái nhìn trong số 3 cái nhìn về hệ thống triều cống mà bài báo này thảo luận đều có hạn chế trong việc giải thích chính trị Đông Á lịch sử. Do đó nó tạo cho tôi cảm giác đề xuất các cơ cấu học thuyết mang tính lựa chọn thứ có thể tạo ra sức mạnh giải thích tốt hơn. Tất nhiên, “hệ thống triều cống” là một khái niệm trước khi nó là một sự thực, nó trước hết là “một phát minh phương tây phục vụ cho mục đích mô tả” (12).Và như vậy người ta có quyền chính đáng hỏi rằng sự phát minh này hữu dụng như thế nào. Mặc dù khái niệm rõ ràng nắm bắt một đặc điểm nổi bật của chính trị Đông Á lịch sử-rằng các mối quan hệ triều cống xét bề ngoài là biểu tượng cho phong tục  nghi lễ giữa Trung Quốc và láng giềng-quá nhấn mạnh nó qua nhiều năm đã tạo ra xu hướng trong các câu hỏi mang tính khái niệm và kinh nghiệm. Do đó cái nhìn hệ thống triều cống một cách độc nhất trái lại đã phát triển tốt, cuối cùng đã mâu thuẫn bởi vì chính trị Đông Á lịch sử không bị hạn chế là “triều cống” và các tập tục đi kèm của nó.

Hệ thống triều cống: Ba quan điểm (ba cái nhìn)

“Hệ thống triều cống” gắn bó mới các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc truyền thống đã trở thành một phong tục quy chuẩn kể từ thế kỉ 19, khi nó lần đầu tiên được thể hiện rằng các khái niệm khác thường của Trung Quốc về các mối quan hệ đối ngoại bao gồm một trong số những nguyên nhân cơ bản gây ra sự thất bại trong việc đối phó một cách thích hợp với các thách thức phương Tây. Sự phức tạp mang tính cấu tạo và văn bản độc đáo mà chính sách đối ngoại Trung Hoa có được tạo ra gắn bó và có liên quan đến “hệ thống triều cống”. Nhưng phải đợi tới khi có sự bàn thảo kĩ lưỡng của Fairbank về nó, từ những năm 1940 đến những năm 1960, rằng “hệ thống triều cống” đã trở thành khái niệm cấu thành chủ yếu trong nghiên cứu về lịch sử ngoại giao Đông Á. Nhưng cho dù mô hình của Fairbank là nổi tiếng nhất thì nó cũng không phải là ý tưởng duy nhất về hệ thống triều cống. Xét một cách rộng rãi có ba quan điểm có liên quan với nhau về hệ thống triều cống trong các tác phẩm học thuật nổi bật.

 Quan điểm thứ nhất.

Sẽ là thích hợp nếu bắt đầu bằng mô hình diễn giải của Fairbank, bởi vì nó đã có ảnh hưởng tới một thế hệ học giả và vẫn đóng vai trò là điểm tham khảo cơ bản đối với những sự bàn luận về mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc truyền thống. Mặc dù sau nhiều năm bị chỉ trích ảnh hưởng của nó đã yếu đi, nhưng bất cứ học giả nào viết về hệ thống triều cống cũng sẽ thấy nó là cần thiết để nắm bắt luận điểm của Fairbank. Một sự đánh giá kĩ lưỡng về mô hình này do đó là cần thiết để đánh giá sự hữu ích của cái nhìn hệ thống triều cống đối với việc hiểu biết về chính trị Đông Á lịch sử. Điều này tôi sẽ làm trong hai phần chính sau một đoạn khái quát ngắn về các đặc điểm chính của mô hình này.

Fairbank và Teng đã nhìn hệ thống triều cống như là “Một phương tiện dành cho các mối quan hệ ngoại giao và quốc tế” và “một cái khung cho toàn thể…cơ cấu ở đó các khu vực dã man phi Trung Hoa được đặt vị trí trong cơ cấu bao gồm tất cả chính trị và đạo đức Trung Hoa” (13). Chỉ ra định nghĩa này, Fairbank đã phát triển một mô hình sau đó khi viết rằng có một trật tự Đông Á trong các mối quan hệ triều cống mà trung tâm là Trung Quốc-“Trật tự thế giới Trung hoa”. Mô hình được xây dựng dựa trên giả thuyết về thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm-một khái niệm giả định sự trung tâm và ưu việt của Trung Hoa (14). Thuyết Trung Hoa là trung tâm đã dẫn người Trung Quốc đặt ra cơ cấu đòi hỏi người nước ngoài thừa nhận sự ưu việt của họ. Từ sự giả định này,  người ta cho rằng các mối quan hệ của Trung Quốc với các nhà nước khác là có tôn ti trật tự và bất bình đẳng như bản thân xã hội Trung Quốc (15).  Trật tự Đông Á lịch sử được “thống nhất và trung tâm hóa trong học thuyết bởi sự ưu việt của Thiên tử. Nó không phải được tổ chức bởi sự phân chia lãnh thổ giữa các vua có địa vị bình đẳng mà là bởi các chư hầu của tất cả các chính thể địa phương đối với hoàng đế có quyền lực ở trung tâm (16).

Tôn ti trật tự của mối quan hệ được xác nhận trên sự ưu việt của Trung Quốc và sự bá chủ đối với nước ngoài và sự phục tùng của họ. Tôn trọng trật tự này và thừa nhận sự ưu việt Trung Hoa là đòi hỏi tuyệt đối đối với các quan hệ mở với Trung Quốc. Do đó, “Nước ngoài, nếu giao thiệp với Trung Quốc được chờ đợi và chỉ có thể giao thiệp khi làm điều đó như là một quốc gia triều cống” (17).  Khi phân tích các động cơ  riêng rẽ, mô hình thừa nhận rằng các vị vua Trung Quốc khởi xướng quan hệ triều cống bởi vì họ coi trọng thanh thế mà các đoàn triều cống nước ngoài sẽ đem đến cho họ, các vị vua nước ngoài tham gia triều cống bởi vì họ đánh giá cao lợi ích thương mại với Trung Quốc. Do đó, “thương mại và triều cống là các khía cạnh có cùng nguồn gốc của một hệ thống đơn lẻ về quan hệ đối ngoại, giá trị đạo đức của triều cống trở nên quan trọng hơn trong tâm trí của các ông vua Trung Quốc và giá trị vật chất của thương mại trong tâm trí các ông vua dã man (18). “Giá trị đạo đức của triều cống” ngụ ý rằng đối với các vua Trung Hoa, chức năng của triều cống là để chứng thực tính chính thống của các vua. Đối với các vua nước ngoài, thì trái lại, thương mại là động cơ quan trọng nhất, “phần lớn toàn bộ thực thể (hệ thống triều cống), được nhìn từ bên ngoài như là một phương tiện khéo léo của thương mại (19) và “các đoàn sứ triều cống đóng chức năng chủ yếu như là đoàn buôn” (20).

Thêm nữa, sự hấp dẫn văn hóa và “đức trị” là các phương tiện chính qua đó Trung Quốc thực thi ảnh hưởng của mình và “các vị vua phi Trung Hoa tham dự vào trật tự Trung Hoa bằng việc tuân thủ các dạng thức và lễ nghi thích hợp trong mối quan hệ của họ với thiên tử (21). “Trật tự thế giới Trung Hoa” do đó là một hệ thống văn hóa có tính nổi trội dựa trên cả hai phía chủ yếu thông qua giáo huấn và tập tục văn hóa, và quan trọng nhất trong đó là sự tuân thủ lễ nghi. Rõ ràng rằng mô hình này đã miêu tả và diễn giải mối quan hệ chính thức giữa Trung Quốc và láng giềng và trải qua thời kì bao gồm lịch sử Đông Á từ buổi bình minh của nền văn minh Trung Hoa cho tới tận thế kỉ 19. Nhưng cũng nên nhớ rằng Fairbank, trong vai trò là nhà sử học, đã không có ý muốn áp dụng khái niệm “hệ thống triều cống” của ông đối với “chính trị học quốc tế” của Đông Á trong cái cách tương tự như các nhà khoa học chính trị thường làm. Fairbank “đã không hề kì vọng gì về việc thiết lập một học thuyết chung về lịch sử Trung Hoa và đã diễn đạt sự không bằng lòng đối với việc học thuyết hóa trừu tượng ở nhiều nơi” (22). Câu hỏi lớn cho ông là làm thế nào để hiểu và định nghĩa “Trật tự thế giới Trung Hoa” và bản chất của nó, và chính vì lý do này mà ông đã nhấn mạnh cái nhìn lấy Trung Quốc làm trung tâm được nắm giữ bởi các vị vua Trung Quốc và giới elite. Fairbank có lẽ chưa bao giờ chủ định dấn thân vào công việc cung cấp một cái khung toàn diện để qua đó diễn giải các mối quan hệ quốc tế Đông Á (23). Sự tiếp cận của ông đưa ra các ý tưởng chính nhất định như là tổ chức nên các khái niệm mà nghiên cứu xa hơn sẽ thanh lọc và phát triển. Do vậy, mô hình của ông được đánh giá thích hợp theo khái niệm “hệ thống triều cống” và “cơ cấu trật tự Trung Hoa” đã nắm bắt bản chất của trật tự Đông Á lịch sử chính xác như thế nào. Các thiếu sót của nó có thể sau đó chỉ ra các vùng cần phải tiếp tục cải thiện để chúng ta có sự hiểu biết cao hơn về chính trị Đông Á lịch sử.

(còn tiếp)


Cũ hơn Mới hơn