Quan hệ triều cống Trung-Xiêm 1282-1853 (III)

Các cơ quan của Xiêm đối phó với các sự kiện ngoại giao.

Trái ngược với mối quan hệ với nước ngoài của Trung Quốc được ẩn giấu trong cái khung của hệ thống triều cống, các mối quan hệ này của Xiêm được tiến hành dưới hình thức ngoại thương. Trong khi ở Trung Quốc tất cả những người có trách nhiệm liên quan tới việc đón tiếp sứ giả nước ngoài đều thuộc thẩm quyền của Bộ Lễ thì ở Xiêm chúng được điều hành độc quyền bởi người đứng đầu Bộ Ngân khố (Minister of Treasury), người kiểm soát tất cả các chi nhánh ngoại thương. Tên gọi của người đứng đầu Bộ Ngân Khố thường được biết đến như Phra Khlang đã có sự phát triển lâu đời trong lịch sử Thái. Tên của nó trong tiếng Xiêm đã thay đổi từ chỗ là Khun Khlang ở thời kì đầu thành Qg.ja Phra Khlang, Phraja Phra Khlang, và Cawpharaja Phra Khlang ở các thời kì sau đó[1]. Tuy nhiên tất cả các tên này vẫn duy  trì ý nghĩa chung như người đứng đầu Bộ Ngân khố hoặc kho hàng. Sự khác nhau duy nhất là nằm trong danh hiệu đứng trước từ Khlang*. Khi các thương nhân châu Âu tới Xiêm, họ viết từ Phra Khlang thành ký tự La-tinh trong thứ tiếng của chính họ như những gì họ nghe thấy và kết quả là nó biến thành Barcalon trong tiếng Bồ Đào Nha, Pra-clang trong tiếng Pháp và Berkelangh trong tiếng Hà Lan[2].

Xét về lịch sử, Khun Khlang được lập ra bởi vua U-thqng, người sáng lập Ayutthaya, như một cơ quan quan trọng đảm nhận ngân khố hoàng gia[3]. Dưới triều vua Bqrommatraj-logkanad (1448-1488), tên gọi của nó được đổi thành Phra Kosathibqdi hay Phra Khlang[4]. Cho tới thời kì này, các sứ đoàn tới Trung Quốc vốn được bắt đầu từ thời kì Sukhothai là dấu hiệu ngoại thương duy nhất của Xiêm. Các vua Xiêm coi các sứ đoàn được gửi đi này như là phương tiện nhằm tiến hành thương mại. Thương mại với Trung Quốc trong thời kì đầu này được điều hành tương đối tự do không có sự can thiệp nào từ phía chính phủ. Sự thay đổi bắt đầu diễn ra sau khi những người Bồ Đào Nha đầu tiên tiếp xúc với Xiêm vào năm 1512  dưới thời vua Ramathibqdi II (1491-1529). Thương mại của Xiêm với Bồ Đào Nha đi cùng với buôn bán với Trung quốc đã mở rộng đều đặn tới độ phần thu nhập từ thuế tốt nhất của hoàng gia có nguồn gốc từ ngoại thương. Bản thân các vua Xiêm cũng dần dần can dự sâu hơn vào công việc buôn bán. Vào đầu thế kỉ 17, vua Shongtham (1620-1628), người “là một thương nhân có thế lực” hơn là một “võ sĩ”, đã mang tới một sự thay đổi ấn tượng trong sự phát triển thương mại bằng việc đặt tất cả ngoại thương dưới sự điều hành của Phra Khlang[5]. Vua Prasadthqng người thừa kế vương miện vào năm 1630 đã tạo ra tín hiệu thay đổi khác bằng việc tuyên bố sự độc quyền nhà nước về thương mại[6]. Có lẽ ông ta đã vay mượn phong tục độc quyền này từ các thương nhân Ấn Độ, những người thường tới các cảng của Xiêm hoặc là được họ khuyên như vậy[7]. Sự độc quyền này đòi hỏi việc xây dựng các kho hàng của hoàng gia dưới tay các ông vua để trữ các hàng hóa độc quyền bán cho thương nhân nước ngoài và các món hàng nước ngoài bán cho người Xiêm. Những kho hàng này, tất cả có 12 kho* rõ ràng đã bị ảnh hưởng bởi các thương nhân châu Âu, những người đã xây dựng các kho hàng ở bất cứ nơi nào họ có mối quan hệ thương mại[8]. Việc quản lý và kiểm soát các kho hàng này  giống như trước đó nằm dưới tay Phra Khlang và kéo dài tới thời kì Bangkok hoặc Cagkri[9]. Nó đã trở thành phong tục rằng tại lễ lên ngôi của vua mới, Phra Khlang phải thu thập tất cả sự giàu sang của hoàng gia trong 12 nhà kho cho vua mới tùy nghi sử dụng. Ví dụ như trong lễ lên ngôi của vua Mongkut năm 1851, Phraja Phiphadakosa, viên phó của Phra Khlang, người đóng vai trò thay mặt cấp trên của ông ta, đã nói: “ Thần xin trân trọng trình lên bệ hạ tất cả của cải trong 12 kho báu, thứ thuộc về sự tùy nghi của bệ hạ…”[10].

Thầm quyền của Phra Khlang đối với ngoại thương bao gồm từ việc mua và bán hàng hóa cho chính phủ tới việc thu thuế hải quan. Ông ta cũng giám sát công việc nói chung của các tỉnh duyên hải miền đông nam[11]. Bởi vì phần lớn người nước ngoài đến Xiêm là để buôn bán, họ chắc chắn đã phải giải quyết công việc với Phra Khlang. Họ phải đăng kí để xin giấy phép thương mại hoặc Tra (con dấu) từ ông ta[12]. Kết quả là, ông ta đã có can dự tới tất cả các vấn đề liên quan tới người nước ngoài và được họ biết tới như là Bộ trưởng bộ ngoại giao[13]. . . Tất cả việc cư trú của người nước ngoài cũng nằm trong sự phán xử của ông ta. Ông ta có quyền lực trong việc tiến hành các quan hệ ngoại giao bao gồm cả việc thay mặt vua kí các hiệp ước. Ví dụ như,  viên  Phra Khlang  đã kí hiệp ước bất bình đẳng với Hà Lan ngày 22 tháng 8 năm 1644[14]. Thêm vào đó, ông ta cũng đảm nhiệm việc đón tiếp các sứ giả nước ngoài. Theo truyền thống của người Xiêm, chỉ những lá thư của vua hay người đứng đầu nhà nước hoặc cấp bậc tương đương mới được chuyển trực tiếp tới vua Xiêm: trái lại chúng bắt buộc phải chuyển tới Phra Khlang và từ đó các sứ giả nước ngoài mới có được giấy phép để yết kiến hoàng gia. Thực tế này thường được người nước ngoài biết tới thể hiện rõ ràng trong những bức thư của ông Richard Burnaby và ông Geogre White, hai thương nhân người Anh gửi tới ông Steynsham Master thống đốc tại Fort St. George. Lá thư đã khuyên ông ta:

 

… Nếu từ giờ trở đi có việc gì cần phải gửi tới nhà vua, không được gửi trực tiếp tới nhà vua mà chỉ có thể gứi tới bộ trưởng Barcalong…[15]

 

Thật là thú vị là vào năm 1679, hai thương nhân người Anh là ông Ralph Lambton và ông Richard Burnaby, cả hai đều thỉnh cầu Phra Khlang xin ông ta giải quyết sự tranh cãi giữa hai người. Điều này nói lên rằng ông ta có quyền lực đáng kể đối với người nước ngoài. Tuy nhiên, do không muốn can dự vào các việc có tính cá nhân ông ta đã chỉ định một thương nhân người Ba tư giải quyết sự tranh cãi này. Sự việc cuối cùng đã được giải quyết với vai trò trung gian của thương nhân Ba tư vào tháng 4 năm 1679[16].

Từ sự trình bày nói trên rõ ràng rằng tất cả các sự kiện đối ngoại của người Xiêm đều được điều hành trong cái khung thương mại và dưới độc quyền của bộ trưởng bộ Ngân khố-Phra Khlang. J. Crawfurd, đại sứ Anh tới hoàng gia Xiêm vào đầu thế kỉ 19 đã miêu tả thẩm quyền của Phra Khlang như sau:

 

Prah-Khlang đảm nhiệm tất cả các vấn đề liên quan tới thương mại và độc quyền của hoàng gia  và bởi vì chính phủ Xiêm không công nhận bất cứ mối quan hệ với nước ngoài nào ngoài những gì liên quan tới thương mại cho nên ông ta cũng được hiểu ngầm là bộ trưởng bộ ngoại giao… Ông ta cũng giám sát các công việc chung của các tỉnh phía đông hoặc các tỉnh được chỉ định bắt buộc trồng và cung cấp hạt tiêu, bạch đậu khấu, và các sản phẩm nông nghiệp khác[17].

Không lâu sau sứ đoàn của Crawfurd, Charles Gutzlaff đã viết về Phra Khlang như sau:

 

Danh hiệu này đã được người châu Âu ở Xiêm biết tới trong nhiều thế kỉ có lẽ bởi vì họ phải tiến hành buôn bán với viên chức này, Okya Phra Khlang phụ trách các công việc thương mại của nhà vua, những chiếc thuyền của ông ta và một số loại thuế nhất định như thuế hải quan được thu tại các cảng của vương quốc… Thêm nữa, …tất cả các vấn đề có liên quan đến chính sách ngoại giao và các quan hệ ngoại giao phát sinh từ đó và khi nhiều năm qua đi thì cơ quan này được người nước ngoài biết đến như là cơ quan ngoại giao[18].

 

Nhiều cơ quan cấp dưới thuộc  sự chỉ đạo của Phra Khlang cũng tham dự vào các vấn đề ngoại giao. Các quý tộc hàng thứ hai với danh hiệu Phraja Srihohiphad và Phraja Phiphadkosa là hai trợ thủ cao cấp nhất. Thêm nữa, cũng có 4 quý tộc hàng thứ hai khác (Phraja), hai quý tộc hàng thứ ba (Phra) và 11 quý tộc hàng thứ tư (Luang) trong cơ quan giúp Phra Khalang điều hành các hoạt động đối ngoại[19].

Trong thời kì Ayutthaya, có vẻ như các mối liên hệ với người Trung Quốc và các thương nhân Hồi giáo quan trọng hơn nhiều so với các người châu Âu[20]. Một bằng chứng là thủ lĩnh của những cư dân người Trung Quốc và thủ lĩnh của cư dân Hồi giáo ở Xiêm thường được chỉ định nắm hai vị trí quan trọng trong cơ quan của Phra Khlang. Phraja Cularadchamontri hay người đứng đầu cơ quan phụ trách cảng phía phải (Krom Tha Khwa) và Phraja Chodygrachasedthi, người đứng đầu cơ quan phụ trách cảng phía trái luôn luôn được dành cho thủ lĩnh người Trung Quốc và thủ lĩnh người Hồi giáo. Thủ lĩnh người Hồi giáo giúp Phra Khlang kiểm tra, giám sát các hoạt động thương mại và ngoại giao với các quốc gia ở phía tây của Xiêm nơi thủ lĩnh người Trung Quốc tiến hành tương tự nhưng với các quốc gia ở phía đông.

Bên cạnh Phra Khlang và thuộc cấp của ông ta, nhà vua đôi khi cũng chỉ định các viên chức tin cẩn khác để giải quyết một số trường hợp đặc biệt liên quan đến các vấn đề đối ngoại. Ví dụ một đô đốc của đội quân đánh thuê người Nhật* đã được vua Ekathodsarod (1605-1620) ủy quyền để kí hiệp ước với Houtman, một đại diện của chính phủ Hà Lan vào ngày 12 tháng 6 năm 1617 liên quan tới các quy định đối với việc buôn bán da hươu nai và các động vật khác[21]. Trong một vài trường hợp, các thành viên của gia đình hoàng gia cũng tham dự vào các sự kiện đối ngoại. Dưới triều vua Rama II thời kì Bangkok, hoàng tử Krom Chiat (Cedsadabqdin), người sau này trở thành vua Rama III đã được J. Crawfurd đề cập đến như là trợ thủ của Phra Khlang, tự mình giám sát cơ quan phụ trách ngoại giao và ngoại thương cùng Phra Khlang[22].  Sự can dự của hoàng tử Cedsadabqdin vào các sự kiện đối ngoại nảy sinh từ sự can dự của ông trong lĩnh vực buôn bán. Vua Chulalongkorn hay Rama V viết về mối quan tâm của  hoàng tử Cedsadabqdin đối với thương mại như sau:

 

Có lẽ hơn ai hết, ông hiểu được sự cần thiết của ngoại thương đối với nguồn thu từ thuế của quốc gia. Bản thân ông sở hữu nhiều thuyền buôn và rất thành công khiến cho cha ông (Rama II) thường gọi đùa ông là “nhà buôn”[23].

 

Từ sự bàn thảo trên chúng ta có thể kết luận rằng Bộ trưởng bộ Ngân Khố là cơ quan quan trọng nhất của người Xiêm giải quyết các công việc liên quan đến quan hệ với người nước ngoài. Nhưng để có bức tranh rõ ràng hơn về sự quản lý của người Xiêm trong các mối quan hệ đối ngoại cần phải điều tra thêm các khía cạnh khác trong các quy định, phong tục đối ngoại của người Xiêm.

Tư tưởng  của Xiêm về  sứ giả và sứ đoàn

John Crawfurd, người đã gặp khó khăn trong việc đàm phán với người Xiêm tin rằng tư tưởng ngoại giao của Xiêm, thứ vốn rất khác tư tưởng ngoại giao của người châu Âu là những trở ngại chính đối với việc hoàn thành sứ mệnh của ông. Ông đã khéo léo miêu tả những tư tưởng này như sau:

 

Xiêm và các quốc gia châu Âu xét ở phương diện các sứ đoàn ngoại giao rất khác nhau về bản chất. Đối với người Xiêm thì sự trọng vọng chủ yếu được dành cho lá thư được mang tới chứ không dành cho sứ giả người mang lá thư và họ được coi không khác gì người đưa tin danh dự[24].

 

Sự quan sát của Crawfurd là chính xác. Trong khi phong tục của châu Âu trọng vọng sứ giả như là một cá nhân,  người thay mặt thật sự của nhà vua hay người đứng đầu nhà nước và đối xử với ông ta như thế thì trái lại Xiêm chỉ coi ông ta như một người đưa tin. Các quốc gia phương Tây coi thư của hoàng gia như là lá thư giới thiệu sứ giả trong khi Xiêm  coi nó như là đại diện thực sự của vua và dành cho nó những nghi lễ long trọng, cầu kì[25]. Bất cứ khi nào Xiêm gửi đi một thông điệp hoàng gia, nó luôn được đi kèm theo các sứ giả với thuyền của hoàng gia đi hộ tống cho đến tận nơi, ít nhất là đến tận biên giới của quốc gia cần đến[26]. Không có sứ giả nào được phái đi mà không có thư của hoàng gia hay thứ gì đó thay thế đi kèm. Trong khoảng thời gian giữa hai đoàn sứ giả, Phra Khlang là người liên lạc giao thiệp với nước ngoài ở cấp độ bộ trưởng. Thư của hoàng gia, trong phong tục phương Tây, có thể được gửi tới mà không có sứ giả đi kèm, một phong tục được coi như là một sự không thích hợp hay sự lăng mạ đối với người Xiêm. Giống như một quy tắc, lá thư của hoàng gia Xiêm được khắc trên một chiếc đĩa vàng với một bản sao trên giấy đi kèm. La Loubere, sứ giả người Pháp tới Xiêm vào thế kỉ 17 đã viết trong cuốn sách của ông chuyện sứ giả đã nhận được rất ít sự trọng vọng từ triều đình Xiêm trong sự tương phản với sự trọng vọng mà họ giành cho lá thư của hoàng gia. Ông viết:

 

Một sứ giả ở phương Đông chẳng qua cũng chỉ là người đưa tin của nhà vua: ông ta không thay mặt cho ông chủ của mình. Họ ít trọng vọng ông ta so với sự kính trọng được dành cho quốc thư mà họ mang theo. Mr. de Chaumont (sứ giả Pháp tới Xiêm trước La Loubere), mặc dù là một sứ giả xuất sắc, chưa bao giờ có được một chiếc Balon (thuyền rồng hoàng gia) trong đoàn của mình mà chiếc thuyền rồng được dành cho lá thư của nhà vua, thứ ông phải chuyển tới vua Xiêm. Chiếc thuyền rồng này có tới 4 chiếc lọng, mỗi chiếc được bố trí ở từng góc ngồi, và có tới bốn chiếc thuyền rồng khác nhập vào đoàn được trang hoàng với những chiếc lọng[27]

 

Thêm nữa, trong khi các sứ giả châu Âu là các đại diện toàn quyền, các sứ giả Xiêm không có thẩm quyền gì trong việc đưa bất cứ thỏa thuận nào. Thứ duy nhất mà họ được phép làm là làm rõ hay giải thích những gì còn tối nghĩa trong lá thư của hoàng gia và tất cả chỉ có thế[28].

Liên quan đến thứ hạng của sứ giả, phong tục của Xiêm cũng khác với phong tục ở các nước châu Âu. Các quốc gia châu Âu chỉ coi người đứng đầu sứ đoàn là sứ giả còn các bộ trưởng và nhân viên đi cùng là thuộc cấp của người thay mặt vua. Trái lại, Xiêm coi cả ba quan chức đứng đầu trong sứ đoàn của Xiêm là các sứ giả. Ba quan chức đứng đầu này có danh hiệu chính thức là Radchatud (sứ giả hoàng gia), Uboratud (sứ giả hoàng gia hàng thứ hai) và Tritud (sứ giả hoàng gia hàng thứ ba)[29]. Tuy nhiên hai sứ giả đứng sau phải tuân theo lời sứ giả thứ nhất. Tầm quan trọng của mỗi quốc gia nước ngoài đối với Xiêm được xác định bằng thứ hạng chính thức của sứ giả Xiêm. Các sứ giả của Xiêm tới các quốc gia nhỏ thường thuộc hai hệ thống cấp bậc thấp nhất: Luang và Khun. Những sứ giả tới các quốc gia lớn hơn thuộc hàng thứ ba: Phra[30]. Trên thực tế, các sứ giả của Xiêm hiếm khi có thứ bậc lớn hơn Phra. Thực tế này diễn tả rằng ông ta “không được coi như nhân vật rất quan trọng”[31].

 

Nguyễn Quốc Vương dịch

 



[1] Khun là một danh hiệu kính trọng dành cho quý tộc Xiêm có địa vị cao hơn danh hiệu có tên tương tự ở thời kì sau. Qgja là thứ bậc cao nhất tại thời điểm nó được sử dụng. Phraja là chính xác cũng giống như Qgja nhưng ở vào thời  gian đó nó được dùng như thứ bậc thứ hai sau Cawphraja vốn được thêm vào các thứ bậc quý tộc trong thời kì Ayuthaya sau đó.

Trong thời Ayutthaya, thứ bậc quý tộc Xiêm gồm 5 danh hiệu. Thứ nhất: Qgja, thứ hai: Qgphra, thứ ba: Qgluang, thứ tư: Qgkhun, thứ năm: Qgmyn. Khi danh hiệu Cawphraja được thêm vào như thứ bậc thứ nhất các thứ bậc khác hạ thấp hơn một bậc và tên của chúng đổi thành Phraja, Phra, Luang, Khun và Myn.

* Từ Khlang trong tiếng Xiêm có nghĩa “ngân khố” hoặc “kho hàng”

[2] Các phiên bản khác của Phra Khlang là: Berkelang, Barckelangh, Berklam, Berquelang, Concusa, Brah Glan, Phismachan, Schimacha, Barbalong.

[3]  Có 4 cơ quan cao cấp được thành lập cùng nhau trong thời gian này: Khun Wiang ( Wiang =thành phố) đảm nhận các sự kiện nội địa ở thành phố, thị tứ, Khun Wang (Wang= lâu đài) đảm nhận các sự kiện trong cung, Khun Khlang đảm nhận ngân khố hoàng gia và Khun Na (Na=ruộng lúa) đảm nhận nông nghiệp.

[4] Damrong Rajanubhab, Prince, The Royal Chronicle (Phrarad-chaphongsawadan Chabab Phraradachahadleka) ( tiếng Xiêm), I (Bangkok: Cdiansato, 1962), 413-414.

[5] Sarasas, Phra. My Country Thailand:  Its History, Geography, and Civillization ( Tokyo: Maruzenko., 1942), 56: đồng thời xem V. Thompson, Thailand: The New Siam (New York: The MacMillan Co., 1941), 418.

[6]  Damrong Rajanubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign of the Bangkok Dynasty(Phraradchaphongsawadan Krung Radtannakosin Radachankan Thi 2) ( tiếng Xiêm), II (Bangkok: Sygsaphan, 1962), 135.

[7] Ibid.

* Sibsqngthqngphrakhlang.

[8] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, Letters Communicated between the Two Princes ( Sansomded) ( tiếng Xiêm), XIII (Bangkok: Khurusapha, 1961), 181-183.

[9] Ibid., 142-144

[10] Thipakqrawong, Cawpharaja, The Dynastic Chronicles, Bangkok Era, The Fourth Reign, B.E. 2394-2411 (A.D. 1851-1868) ( Chadin (Kanjanavanit) Flood dịch với sự giúp đỡ của E.T. Flood), (Tokyo: Centre for East Asian Cultural Sdudies, (1965)), I, 21.

[11] E. Roberts, Embassy to the Eastern Court of Cochin-China, Siam, and Muscat (New York: Harper &Borthers, 1837), 302

[12] Records of the Relations between Siam and Foreigns Countries in the Seventeenth Century ( Copied from papers presented at the India Office) (Bangkok, 1915-1921), II, 119-120.

[13] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers: A Collection of Official Records Relating to the Mission of Dr. John Crawfurd…. ( Bangkok: Vajiranana National Library, 1915), 123.

[14] Records of the Relations…., op. cit., 66-71.

[15] Ibid., 242.

[16] Ibid., 234-235.

[17] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers, op. cit., 123-124

[18]  C. Gutzlaff, A Sketch of Chinese History, Ancient and Modern (London: Smith, Elder & Co., 1834), II, 367

[19] E. Roberts. Op. cit., 302; đồng thời xem J. Crawfurd, The Crawfurd Papers, op. cit., 168.

[20] Theo Prince Damrong Rajanubhab, người Xiêm thích buôn bán với người Hồi giáo và người Trung Quốc hơn người châu Âu bởi vì người Hồi giáo và người Trung Quốc tuân thủ luật lệ và phong tục của đất nước trong khi người châu Âu thì không và thường tranh chấp lẫn nhau. Xem Damrong Raja-nubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign…, op.cit., I, 138-139

* Tên của ông ta được biết tới là Olong Luupatou Opra, một người bí ẩn. Xem Records of the Relations, loc. Cit.

[21]  Records of the Relations…., op.cit., I, 77.

[22] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers…, op. cit., 124.

[23] Chulalongkorn, King of Thailand, Text for a Sermon in Honor of King Rama III (tiếng Xiêm) (Bangkok, 1939), 38, được dịch và trích dẫn bởi  hoàng tử Chula Chakrabongse, Lords of Life (London: Alvin Redman, 1960), 1945.

[24]  J. Crawfurd, Journal of an Embassy to the Court of Siam and Cochin-China (London: Oxford U. Press, 1967), 80.

[25] H.G.Q. Wales, Siamese State Ceremonies: Their History and Function (London: B. Quaritch, 1931), 180.

[26] Saengsom Kasemsri, M.R., A Series of Lectures Concerning Thai History (given at Chulalongkorn University, Bangkok, Thailand, in 1963).

[27] La Loubere, Simon de, A New Historical Relation of the Kingdom of Siam (S.P. Gen dịch từ tiếng Pháp) (London: Theodore Horne, 1693), I, 108.

[28]  Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit.

[29] La Loubere, Simon de, loc . cit: H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 185.

[30] Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit

[31] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 185.


Cũ hơn Mới hơn