Quan hệ triều cống Trung-Xiêm 1282-1853 (II)


Chương I.  Bối cảnh lịch sử

Vai trò truyền thống và sự phát triển của hệ thống triều cống

Khi thảo luận về mối quan hệ Trung-Xiêm, cần phải hiểu được những khái niệm chung và sự phát triển của hệ thống triều cống Trung Hoa thứ đã đóng vai trò như là phương tiện trung gian đối với sự tương tác với nước ngoài[1].  Ngay từ đầu cần phải chỉ ra rằng hệ thống này không phải được dựa trên những nguyên tắc bình đẳng như ở các quốc gia phương tây mà là dựa trên sự công nhận cương vị chúa tể của Trung Quốc[2]. Do sự khác biệt cơ bản này, nó trở nên cần thiết để xác định  giá trị kinh tế, chính trị, tư tưởng thực sự của hệ thống để có thể xác định mức độ bá chủ của Trung Quốc đối với những người dã man.

Trước hết, từ “triều cống” là từ tương đương nhất của phương Tây ứng với chữ Hán “kung” (Cống), chữ có xu hướng gây ra sự hiểu lầm. Tình hình ở phương Tây trong thời phong kiến, khi từ “triều cống” được tạo ra để miêu tả mô hình chính trị giữa  tôn chủ và các nước chư hầu về cơ bản là khác với những gì thực sự diễn ra ở Đông Á. Do đó, nghĩa của từ “triều cống” trong lịch sử phương Tây không thích hợp để diễn tả sự liên lạc Trung Quốc-nước ngoài. Tuy nhiên để cho thuận tiện, khái niệm “triều cống” vốn đã được dùng rộng rãi sẽ được giữ lại để thay thế cho từ tiếng Trung “kung” nhưng nghĩa thực sự phải được hiểu trong giới hạn truyền thống Nho giáo Trung Hoa[3].

Trong lịch sử Trung Quốc, từ “kung” có nhiều cách dùng và nhiều nghĩa. Nếu nó được dùng trong  việc miêu tả phái đoàn triều cống, khái niệm “ching-kung fang-wu” (Tiến cống phương vật), thứ có nghĩa là sự giới thiệu các sản phẩm của địa phương thường bao gồm ba loại khác nhau – sự triều cống đích thực (Cheng-kung, Chính-cống) do vua chư hầu dâng lên hoàng đế; sự triều cống của các sứ giả tới triều đình Trung Quốc, hàng hóa đơn thuần để buôn bán[4]. Từ tương tự  cũng được áp dụng cho các sự kiện nội địa. J.K. Fairbank giải thích rằng:

 

       Từ “kung” được dùng để chỉ sự  triều cống những thứ được dâng lên từ các ông vua nước ngoài không phải là người Trung Quốc và nó cũng có mối liên hệ với các mô hình nội địa như “cống mễ” (Ts’ao-mi hay kung-mi) thứ được chuyên chở bằng thuyền hàng năm từ vùng hạ lưu sông Dương Tử tới Bắc Kinh; hoặc là “cống sinh” (Kung-sheng), một loại người có bằng cấp mua bằng tiền trong hệ thống thi cử của nhà Thanh[5].

 

Hơn nữa từ “hsien”, “feng piao” hoặc “piao chou” và ch’ao (triều), bên cạnh từ “kung” (cống),  cũng được sử dụng để miêu tả đoàn sứ giả từ nước ngoài trong cố gắng bày tỏ sự quy phục và và địa vị thấp kém hơn của họ bởi vì những từ này có nghĩa là “dâng quà”, “đưa biểu cầu” lên hoàng đế hoặc “diện kiến hay vấn an thiên tử, người cai trị thế giới” một cách tôn kính[6].

Khi hệ thống triều cống được chú ý, nó được bắt nguồn từ những mối liên hệ lâu dài giữa Trung Hoa và người dã man[7]. Nó được sử dụng như là công cụ để thể hiện sự ưu việt của văn hóa Trung Hoa.

Những quan niệm tư tưởng phía sau hệ thống này tất cả đều được dựa trên vũ trụ quan Khổng giáo cho rằng tất cả mọi người đều có danh phận ở trong xã hội và phải tiết chế bản thân sao cho thích hợp. Nếu như mọi người biết được danh phận và nghĩa vụ của mình và luôn luôn làm đúng thế giới sẽ hòa bình và thống nhất.

Đạo đức phù hợp là nguyên tắc không thể thiếu để ràng buộc đời sống xã hội và nó không phải là thứ bị ép buộc bởi khế ước hay sức mạnh mà bằng cảm giác về “liêm sỉ” và “thanh danh”[8]. Trung Quốc với tư cách là trung tâm của văn minh thế giới sẽ phải là hình mẫu cho các quốc gia khác noi theo. Hoàng đế Trung Hoa, người nhận “mệnh trời” cai trị sẽ phải có đạo đức tốt và phải là hình mẫu cho tất cả loài người cả người Trung Quốc và người dã man. Niềm tin đi cùng với phương châm này được minh họa rõ ràng trong bản thân lời nói của hoàng đế Ung Chính (Yung-cheng):

 

        Trong số những thứ cho phép một ông vua cai trị thành công là khả năng bảo vệ tất cả thần dân và mong muốn trải rộng lòng nhân từ tới tất cả loài người. Ông ta sẽ thừa mệnh trời để yêu mến thần dân và tạo ra lý do khiến cho thần dân hân hoan với sự cai trị. Chỉ bằng cách này, ông ta mới có thể thống nhất quốc gia và tên tuổi ông ta sẽ được ghi nhớ với lòng biết ơn vĩnh viễn… Bởi vì triều đình của chúng ta tiếp nhận ý trời để cai trị và bởi nó đã chứng minh giá trị của mình bằng việc trải rộng lòng nhân từ và bảo vệ tất cả mọi người một cách công bằng, tại sao lại có sự phân biệt đối xử chỉ vì đó không phải là người Trung Quốc?[9]

 

Người Trung Quốc rất tự tin về nền văn hóa ưu việt của họ đến nỗi họ tin rằng những người dã man chưa được khai hóa sẽ đến Trung Quốc để tìm kiếm sự đổi thay và sự khai sáng. Để làm điều đó, những người dã man bị yêu cầu phải công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc và thực thi tất cả các nghi thức xã giao, thứ làm cho họ trở thành thành viên của xã hội Nho giáo. Rõ ràng những tư tưởng này biểu đạt đặc điểm thứ bậc tôn ti bắt nguồn từ tín điều Nho giáo trong xã hội có phân chia thứ hạng. Trung Quốc luôn là cha, thủ lĩnh, anh hoặc bề trên trong khi các nước khác là con trai, môn đệ, em hoặc kẻ dưới. Như một nguyên tắc chung, mức độ của mối quan hệ giữa Trung Quốc và một quốc gia được xác định bằng khoảng cách. Quốc gia ở gần Trung Quốc sẽ có mối quan hệ gần hơn. Tất cả những điều này chính là các nguyên tắc tư tưởng chủ yếu của mối quan hệ qua lại của Trung Quốc với nước ngoài trong hệ thống triều cống.

Theo Yu Ying-shih[10], hệ thống triều cống đã phát triển dần dần từ hệ thống “ho-ch’in” (hòa thân) được hoàng đế  Cao Tổ (Kao-tsu)của triều Hán đưa ra  xuất phát từ kinh nghiệm quá khứ đối phó với các nước láng giềng. Trong hệ thống “hòa thân”, các món quà của triều đình và các công chúa Trung Quốc được tặng cho người dã man Hung Nô đổi lại họ sẽ phải thề không tấn công các vùng ở biên giới Trung Quốc[11].  Một nguyên tắc cũng được lập ra trong thời kì này: “Không nên đặt chân tới Trung Hoa nếu không mang theo triều cống”[12].  Có thể thấy rằng khía cạnh chính trị của hệ thống này trong thời Hán không nổi trội và kém xa lợi ích kinh tế  nếu có[13].

Về bản chất, tín hiệu chính trị đằng sau hệ thống này ngụ ý thừa nhận sự bá chủ của Trung Quốc.  Sự phục tùng của người dã man là khía cạnh cần thiết của trật tự chính trị Nho giáo. Mục đích cuối cùng là giành được sự ổn định chính trị dưới sự cai trị nhân từ của Thiên tử. Mặt khác, nguyên tắc chính trị này cũng liên quan tới việc phòng thủ của Trung Quốc. Quả thật, việc tặng các món quà của triều đình và những thứ khác thường nhằm trung lập hóa người dã man, những người đôi khi ở vị trí mạnh đe dọa an ninh của Trung Quốc. Mưu kế này ít nhất nhằm thực hiện ba mục đích quan trọng của Trung Quốc. Thứ nhất, thứ có thể gọi là  chính sách “nhân nhượng” được tạo ra để mua lấy hòa bình tạm thời. Thứ hai,  là âm mưu “chia để trị” (dĩ Di chế Di) để làm suy yếu người dã man bằng việc xúi giục họ chống lại lẫn nhau. Thứ ba, là liên minh với các nước hay bộ tộc mạnh để có được tình bạn hay lợi nhuận như mong muốn[14]. Sự áp dụng hệ thống này với mục đích chủ yếu là để phòng thủ đã đạt đến đỉnh cao trong suốt thế kỉ 11 và thế kỉ 12 dướng triều Tống. Đây là thời kì bất ổn cả ở bên trong và ngoài nước – thứ đã tác động tới chiến thắng của Nho giáo mới ở Trung Quốc. Trong số những thứ khác, học thuyết thịnh hành về quan hệ quốc tế  này đòi hỏi một sự phục tùng tuyệt đối từ tất cả các quốc gia mong muốn quan hệ với Trung Quốc[15]. Trong tầm nhìn thực tế rằng nhà Tống-Trung Quốc rất yếu về quân sự, yêu cầu về sự thần phục của người dã man không thể dựa trên sức mạnh mà dựa trên lời hứa hẹn ban tặng các đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, một hành động phải được xem như là biện pháp phòng thủ[16]

Mối quan hệ triều cống Trung Quốc-nước ngoài, như tôi đã đề cập, là dựa trên nguyên tắc qua lại được thể hiện dưới hình thức nghi lễ. Trong con mắt Trung Quốc, việc thực thi triều cống là một hành động của lễ hoặc là hành động thích hợp cần được tiến hành long trọng. Nó liên quan đến những dịp tiến hành triều cống và nghi lễ vào những ngày quan trọng như sinh nhật của hoàng đế, ngày tết .. với những nghi lễ phức tạp. Quan trọng nhất là việc các sứ giả nước ngoài phải tiến hành “quỳ lạy”  “kowtow” (Khấu đầu)*biểu hiện sự phục tùng. Đổi lại, hoàng đế  ân cần ban cho các vua nước ngoài những món quà có giá trị, các buổi triều kiến, tước vị quý tộc, con dấu của triều đình, lịch Trung Hoa và các thứ quý giá khác[17]. Thêm nữa, thành viên của sứ đoàn nước ngoài được tiếp đón trọng thể bằng nhiều buổi yến tiệc của triều đình. Tầm quan trọng của các nghi lễ đi kèm với hệ thống triều cống được chỉ rõ bởi thực tế rằng công việc đón tiếp sứ giả nước ngoài là độc quyền đặt dưới sự giám sát của Bộ Lễ.  Thêm vào đó, chi tiết duy trì trong buổi lễ như “khấu đầu” cho chúng ta chút nghi ngờ rằng Trung Quốc luôn luôn là bề trên.

Khỏi cần phải nói cũng biết người Trung Quốc đã gắn tầm quan trọng vào những chuyến viếng thăm của các đoàn sứ giả như thế nào. Từ thời xa xưa nhất trở đi họ đã chăm sóc chu đáo các sứ giả nước ngoài. Wang Gung-wu đã miêu tả mối quan tâm của người Trung Quốc như sau:

…. Triều cống từ người nước ngoài đã có một vị trí quan trọng trong  âm mưu  của triều đình và sự chăm sóc đáng kể  đã được tiến hành để giúp đỡ sứ giả, đưa họ gặp hoàng đế và bày tỏ sự trân trọng đối với sự viếng thăm của họ. Các cơ quan đặc biệt đều tham dự và các viên quan, thượng thư lớn tuổi đều tham dự các nghi lễ phức tạp đi kèm với triều cống cũng như sự viếng thăm của các ông vua nước ngoài[18].

Các sứ giả nước ngoài quả thật đã nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt và được ban cho nhiều đặc ân. Họ được ở trong các nhà trọ công và được đưa đón miễn phí, được nhận thức ăn cùng “tất cả những thứ cần thiết khi họ ở trong nước”[19]. Đồng thời người Trung Quốc giữ tất cả các sứ giả dưới sự giám sát bởi các quy định nghiêm ngặt. Độ lớn, hành trình và số lượng các thuyền và thành viên, tính chất của các món quà và lịch trình triều cống được áp đặt chi tiết  cho từng đoàn sứ giả thường xuyên của các nước.

Như chúng ta đã thấy, Trung Quốc không có mối quan hệ quốc tế với quốc gia khác ngoài các mối quan hệ triều cống. Do đó, quan hệ thương mại nên được gọi là “thương mại triều cống” thay vì gọi là thương mại quốc tế[20]. Sự trao đổi các món triều cống của các nước chư hầu để lấy các món quà của triều đình có lẽ là một dạng phôi thai của ngoại thương Trung Quốc. Người ta thường biết đến một thực tế là các sứ đoàn người dã man tới Trung Quốc thường sử dụng hệ thống triều cống như là một sự ngụy trang cho thương mại, thói quen này được bắt nguồn từ thời Hán[21].  Không thể phủ nhận rằng sự cho phép buôn bán trực tiếp với Trung Quốc sau khi triều cống xong là sự hấp dẫn lớn lao đối với người dã man. Chúng ta có thể kết luận chắc chắn rằng hầu hết nếu như không muốn nói là tất cả các sứ đoàn triều cống đều có các thương nhân,  những người có mục đích chủ yếu là giành lấy đặc quyền thương mại đi theo. Mặt khác, trong con mắt hoàng đế Trung Quốc, giá trị đạo đức của triều cống quan trọng hơn khía cạnh kinh tế của nó. Khía cạnh kinh tế luôn bị phụ thuộc vào triều cống. Nếu xét ở góc độ kinh tế thì hoàng đế Trung Hoa không thu được gì mà chỉ có mất bởi vì các món quà của triều đình ban cho sứ giả  luôn luôn có giá trị lớn hơn nhiều các món đồ triều cống nhận được. Sự nhân nhượng thương mại được người Trung Quốc coi như là một phương tiện để có được thêm sự khao khát và tán tụng cụ thể hơn là sự phục tùng nhún nhường của những người dã man[22].

Tuy nhiên, rất khó để tách rời kinh tế khỏi các động cơ chính trị. John K. Fairbank khéo léo mô tả rằng hai thứ này không thể  tách rời nhau và rất rắc rối trong hệ thống triểu cống:

    …Thương mại và triều cống là những khía cạnh cùng nguồn gốc của một hệ thống riêng trong những mối quan hệ với nước ngoài, giá trị đạo đức của triều cống là quan trọng hơn trong suy nghĩ của các vua Trung Quốc và giá trị vật chất của thương mại trong suy nghĩ của những người dã man; mối cân bằng lợi ích này sẽ cho phép sự bằng lòng lẫn nhau và hệ thống tiếp tục hoạt động. … Dường như là không thể ở thời điểm đó để tạo ra một thứ tổng quát hơn: hệ thống triều cống là cái khung nơi tất cả các lợi ích, cả cá nhân và triều đình, kinh tế và xã hội đều tìm được sự biểu đạt của mình[23].

Sự giảm sút thương mại rõ ràng là bị theo sau bởi các nguyên tắc Nho giáo. Tuy nhiên trên thực tế, các viên chức Trung Quốc không can dự vào công việc thương mại dù là trực tiếp hay gián tiếp. Các sứ đoàn triều cống đạt đến mức độ cao nhất về số lượng và độ thường xuyên dưới triều nhà Minh[24]. Từ năm 1371 đến năm 1566, thương mại dưới hình thức triều cống dễ nhận thấy nhất. Tuy nhiên, sự chuyển đổi thú vị bắt đầu hình thành đặc biệt sau khi cuộc viễn chinh trên biển nổi tiếng của hoàng đế Vĩnh Lạc. Mặc dù thương mại triều cống vẫn là đặc trưng của thời kì này, nó đã bắt đầu bị suy yếu dần bởi sự tăng tiến về số lượng các thương nhân Trung Quốc buôn bán ở nước ngoài. Nhu cầu đối với hàng hóa Trung Quốc, thứ vốn hấp  dẫn người dã man tới Trung Quốc giờ đây suy giảm bởi vì chúng được cung cấp bởi các thương nhân Trung Quốc. Theo Fairbank xu hướng đảo ngược này là sự ứng phó chủ yếu đối với sự suy sụp dần dần của hệ thống triều cống chứ không phải là do ảnh hưởng của người châu Âu như người ta thường quan niệm[25].

Bất chấp lệnh cấm thương mại do các vua cuối triều Minh ban hành, thương mại vẫn hưng thịnh thông qua các con đường như buôn lậu, các viên chức Trung Quốc mang theo người hàng hóa và thương mại triều cống thứ duy nhất ít bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm. Các hoàng đế triều Thanh một lần nữa lại giống như các vua đầu triều Minh tích cực quan tâm tới “sự phát triển dưới hình thức nhất định của ngoại thương và ở một mức độ nào đó đã hiểu được những dính líu kinh tế của thương mại”[26]. Tuy nhiên, sau triều vua Khang Hi,  các vua tiếp theo đã phục hồi lệnh cấm buôn bán cho tới tận năm 1842 khi cánh cửa Trung Quốc buộc phải mở bởi người Anh.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch



[1]  Để biết thêm chi tiết những thảo luận về hệ thống triều cống, mời xem J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, “On the Ch’ing Tributary System”, in the  Ch’ing Admistration: Three Studies(Cambridge: Havard U. Press, 1961), 107-218; Leson de Rosny, Les Peuples Orientaux Connus des Anciens Chinois (2nd ed.; Pris: Lerouy, 1886). Để tìm hiểu chung về hệ thống này mời xem O. Latti-more, Innner Asian Frontiers of China (Boston: Beacon Press, 1962).

[2]  Trung Quốc tự coi mình là “Thượng Quốc” hoặc là tôn chủ và tất cả các nước khác đều bị coi là chư hầu.  A.B Woodside, “Early Ming Expansionism (1406-1427): China’s Abortive Conquest of Vietnam, “Paper on China, XVII (December 1963) (East Asian Research Center, Havard University), 1-37; M.F Nelson, Korea and the Old Orders in Eastern Asia (Baton Rouge: Lousiana State U. Press, 1946).

 

[3] M. Mancall, “The Ch’ing Tribute System: An Interpretive Essay, “ trong J.K. Fairbank, ed,  The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge: Havard U. Press, 1968), 63.

[4] A.B. Woodside, Op. cit.,5.

[5] J.K. Fairbank, “A Preliminary Framework,” trong J.K. Fairbank, ed., The Chinese World Order, op. cit., 10.

[6]  Wang Gung-Wu, “The Nanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea,” JRASMB, XXXI, pt. 2 (June 1958), 1.

 

[7] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy on the China Coast: The Opening of the Treaty Ports 1842-1854 (Cambridge: Havard U. Press, 1964), 23-28.

[8] M.F Nelson, op. cit.,98.

[9] Yung-cheng, hoàng đế Trung Quốc, “Chinese and Foreigners Are Members of One Family” trong “…Đại Thông Sử” ( Ahistory of the Ch’ing Dynasty) cảu Hsiao Yi-shan ( xuất bản năm 1962-1963 gồm 5 quyển), I, 928-930, được dịch bởi Dun J. Li, The Essence of Chinese Civillization (Princeton: D. Van Nostrand Co., 1967), 129.

 

 

[10] Yu  Ying-shih, Trade and Exoansion in Han China: A Study in the Structure of Sino-Barbarian Economic Relations (Berkeley: U. of California Press, 1967.

[11] Ibid., 40

[12]  E.H. Parker, China. Her History. Diplomacy, and Commerce, from the Earliest Times to the Present Day (London: J.murray, 1901), 1.

[13] Yu Ying-shih, op. cit., 189

 

[14] Chao Chin-yung, A Brief History of Chinese Foreign Relations (Taipei: China Cultural Service, n.d, ), 25.

[15] Tsiang T’ing-fu, “China and European Expansion, “ Plitica, II, no.5 (March 1936), 3-4.

[16] Ibid.

* Ba quỳ chín vái

[17] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op. cit., 135-145

[18] Wang Gung-wu, “The First Three Rulers of Mallacca, “ JRASMB, XLI, pt. 1 ( tháng 7 năm 1968), 15.

[19] Để biết thêm chi tiết mời xem Chang T’ien-tse, Sino-Portuguese Trade from 1514 to 1644(Leiden: E.J. Brill, 1934); J.K. Fairbank and Teng Ssu-yu, op. cit, 107-218; Chang Te-ch’ang, “Maritime  Trade at Canton during the Ming Dynasty, “ Chinese Social and Political Science Review, XVII, no. 2 (tháng 7 năm 1933), 264-282; The Chinese Repository, XIV, no. 4 ( tháng 4 năm 1845), 153-156.

 

[20] O. Lattimore, op. cit., 482-283; và Tsiang T’ing-fu, op. cit., 4.

[21] J.K. Fairbank and Teng Ssu-yu, op. cit., 139-142. Tham khảo các thảo luận sâu hơn về hệ thống triều cống trong M. Mancall, op.cit., 75-84

[22] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 33

 

[23] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op.cit., 112-113

[24] Chang Te-ch’ang, op. cit., 265

[25] J.K Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 33-36

[26] M. Mancall, op. cit., 85.


Cũ hơn Mới hơn