Một vài Topoi trong việc chép sử biên giới thời Minh và sự liên quan mang tính hiện đại của nó (3)



Tác giả: Geoff  Wade

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Một lần nữa chúng ta thấy lãnh thổ không phải là Trung Quốc trở thành một phần của chính thể Trung Hoa thông qua nhà nước nhân từ phù hợp với ước vọng của mọi người. Sự sáp nhập đều đặn này của các chính thể phi Trung Hoa vào bên trong nhà nước Trung Quốc do đó được phản ánh trong các tác phẩm sử học chính thống như là quá trình tự nhiên của việc mở rộng trật tự Trung Hoa, với toàn bộ quá trình có hiệu lực đối với các độc giả tương lai của lịch sử Trung Hoa bằng các topoi được ghi chép khắp tác phẩm. Mỗi lần một vùng được tuyên bố được đặt dưới sự cai trị của Trung Quốc, ở đó tồn tại lý do cho việc “phục hồi” sự cai trị của Trung Quốc đối với vùng đó ở bất cứ thời gian nào trong tương lai.

III. Topoi liên quan tới các hành động của Trung Quốc chống lại những người không phải là người Trung Hoa.

Những Topoi phong phú được đề cập ở trên được sử dụng không chỉ trong việc miêu tả phân biệt người Trung Quốc và những người không phải là người Trung Quốc mà còn tham gia vào việc làm cho những hành động của người Trung Quốc chống lại những người không phải là người Trung Quốc có hiệu lực pháp lý. Họ đã sử dụng chúng để miêu tả những hành động đó như thế nào? Sự sáp nhập lãnh thỗ dưới hệ thốn tusi (tự trị) đã được miêu tả ở trên và những ví dụ tiêu biểu khác sẽ đáp ứng đủ sự minh hóa về việc sử dụng tổng hợp các topoi này.

  1. Sự chiếm đóng Vân Nam của nhà Minh.

Sự xâm lược và chiếm đóng Vân Nam của nhà Minh diễn ra vào những năm 1830 được giới thiệu trong các cuốn sử của triều đình như là kết quả của việc Minh Thành tổ quan tâm tới hòa bình. Hoàng đế làm cho có hiệu lực sự chiếm giữ những vùng này nói “lãnh thổ của Vân Nam đã là của chúng ta. Nó có thể bị nghĩ rằng nó được lấy bởi quân đội. Không phải vậy. Hoàng tử Liang, người là cháu của hoàng đế Vân Nam Shizu, đã tuyên bố mình như là hậu duệ của triều đình Vân Nam, đã cung cấp nơi ẩn náu cho các tội phạm của chúng ta, tiếp nhận sự chạy trốn của chúng và cám dỗ những binh lính canh giữ biên giới của chúng ta”. Do đó, không có cách nào khác là phái quân đội tới để trừng phạt hắn”.[1]

Như là kết quả của cuộc xâm lược bằng quân đội, phần lớn Vân nam bị cưỡng bức sáp nhập vào nhà nước Trung Quốc. Như nhiều ví dụ khác trong lịch sử Trung Quốc, sự đúng đắn của Hoàng đế ở mức độ nào đó nằm ở việc đoạt được lãnh thổ. Hành động quân sự này được miêu tả trong MSL như là “bình định” Vân Nam và khái niệm này tiếp tục được sử dụng trong các học giả Trung Quốc cho tới tận ngày nay để miêu tả việc nhà Minh chiếm đóng Vân Nam.

  1. Sự xâm lược Đại Việt của nhà Minh vào năm 1406.

Trong việc thực thi xâm lược Đại Việt, hoàng đế Trung Hoa Vĩnh Lạc đã viện dẫn những hành động của người Việt là Hồ Quý Ly, phát biểu những điều sau làm lý do để phái  các tướng đem quân MInh đánh Việt Nam: “ông ta đã áp bức mọi người trong đất nước và mọi người căm ghét ông ta tới tận xương tủy. Tinh thần của Trời và Đất không thể tha thứ cho điều này. Ta kính cẩn tiếp nhận sự ủy thác của Trời và đối xử với mọi người khắp chốn như là con cái. Ta thề sẽ chỉnh đốn tình trạng này. Ta đặc phái các ngươi dẫn quân tới an ủi mọi người và trừng phạt những người đã nổi loạn. Những người An Nam tất cả đều là con ta. Giờ đây họ đang ở trong tình trạng vô phương cứu chữa như treo ngược. Các ngươi tới đó là để giải thoát họ khỏi phải chịu đựng và các người phải không được chậm trễ”.[2]

Vì vậy, một nỗ lực của hoàng đế  tiếm quyền Vĩnh Lạc để củng cố vị trí hoàng đế của mình, bằng việc tấn công và sáp nhập chính thể Đại Việt, đã được giới thiệu trong sử Trung Hoa thông qua các topoi thông thường như là hành động nhân từ và quan tâm của hoàng đế trong vai trò là người cha chống lại sự áp bức.

Tiếp theo, khi đọc những gì có được khi người Trung Hoa xâm lược Đại Việt, hoàng đế Vĩnh Lạc đã chê bai sự ngụ ý rằng cuộc viễn chinh mà ông ra lệnh vào Đại Việt  là nhằm đạt được thứ gì đó. Hơn thế, ông giải thích : “Ta là chúa tể của hạ giới. Tại sao ta lại phải tỏ ra hiếu chiến để có được đất đai và thần dân? Mối quan tâm của ta là những kẻ cướp nổi loạn phải bị trừng phạt và sự chịu đựng của mọi người phải được giảm bớt”.[3] Sự chối bỏ những hành động quân sự chống lại những người không phải là người Trung Quốc này được dành cho sự mở rộng của cá nhân hay nhà nước là sự topo được tiếp tục trong các tác phẩm sử học Trung Quốc.

Thậm chí khi người Trung Quốc bị đuổi khỏi Việt Nam vào cuối những năm 1420, hoàng đế Xuande giải thích tình hình như sau: “Trời nuôi dưỡng nhân từ tối thượng và đáp ứng mong ước của mọi người. Hoàng đế thay mặt trời và cai trị thuận theo ước muốn của mọi người”. [4]Do đó Topoi về lòng nhân từ và công bằng cung cấp hiệu lực mang tính đạo đức cho bất cứ hành động nào của nhà nước Trung Quốc. Bất chấp đó là xâm lược hay rút lui, là tiên phong hay buộc phải làm như vậy, nó trình diễn như thể là điều nhân từ và công bằng thay mặt cho tất cả mọi người.

  1. Các cuộc hành trình do hoạn quan chỉ huy trong đầu thế kỉ 15.

Các cuộc hành trình nổi tiếng do các viên hoạn quan chỉ huy bao hồng Trịnh Hòa, Hou xian và Zhang Qian tới Đông Nam Á và bờ tây của biển Ấn Độ cũng được miêu tả trong MSL như các cuộc hành trình mang tới Trung Quốc các vị vua và sứ thần nước nogaif để “bày tỏ lòng biết ơn đối với ân huệ của Hoàng đế”[5]. Nhưng, quy mô của lực lượng quân đội được phái đi cùng các chuyến đi này, thực tế rằng những lực lượng này được ban thưởng ở cùng mức độ như các đội quân đã xâm lược Đại Việt và thực tế rằng các vua địa phương “ngoan cố” ở Đông Nam Á và Ấn Độ Dương, như các vua ở Samudra và Sri Lanka đã bị đưa tới Trung Quốc rồi bị xử tử hoặc bị thay thế[6], đã gợi ý một sự thực khác xa những gì được phản ánh bởi các topoi vể “Trật tự Trung Hoa” và hệ thống triều cống. Bằng chứng mà ít nhất một trong những chức năng của các chuyến hành trình này là hăm dọa bằng vũ lực đối với các chính thể nước ngoài có thể được thấy rõ từ sự đe dọa được tạo ra bởi hoàng đế nhà Minh là Vĩnh Lạc đối với vua Naluota của Ava vào năm 1409, hoàng đế tuyên bố nếu như vua Ava không thay đổi ông ta sẽ bị lực lượng Mubang (Hsienwi) tấn công trên đất liền và lực lượng Trung Hoa tấn công trên biển.[7]

  1. Sự xâm lược của Trung Quốc và Sự sụp đổ của Luchuan trong những năm 1430 và 1440.

Có lẽ chính thể lớn nhất bị phá hủy bởi nhà Minh Trung Quốc là chính thể Tai Mao được biết đến đối với người Trung Hoa dưới cái tên Luchuan, thứ tồn tại cho đến tận giữa thế kỉ 15, trải rộng phần lớn vùng lãnh thổ ngày nay là phía tây Vân Nam và phía bắc Burma. Nó thông qua ba cuộc viễn chinh quân sự lớn do nhà Minh tiến hành mà sức mạnh của chính thể này đã bị suy sụp và lãnh thổ của nó bị chia thành các thực thể mềm yếu và phụ thuộc hơn. Trong những năm 1440, hoàng đế Zhengtong đã khuyên vua Tai mao là Si Renfa rằng “ tha thứ cho những tội ác của ngươi chắc chắn sẽ làm Trời và Đất nổi giận” và sau đó cảnh báo rằng “Nếu ngươi không tuân theo ý chỉ của ta, không nghe theo lời ta và dám dẫn quân chống lại quân của triều đình, quân đội ta sẽ quyết tiến và lúc đó sẽ không có lối nào cho ngươi tránh khỏi bị đập tan  thành cát bụi”[8]. Do đó, một lần nữa ý chí của hoàng đế Trung Quốc, như là đại diện cho Trời, là nhân tố quan trọng nhất, và bất cứ ai không tuân theo nó sẽ chuốc lấy tai ương. Tiếp  theo sau khi lệnh cho quân đội nhà Minh đánh Si Renfa, lời lẽ của hoàng đế được ghi nhận như sau: “Gần đây, Si Renfa, tên cướp ngoan cố của Luchuan, đã nổi loạn và đi trệch ra ngoài chính nghĩa. Hắn ta đã xâm lược các lãnh thổ láng giềng và lấy đi người cùng vật nuôi. Ban đầu, ta không chịu được việc phái quân tới đánh hắn ta. Tuy nhiên bất chấp việc gửi tới hắn ta những mệnh lệnh được lặp đi lặp lại để bình định và chỉ bảo, hắn ta vẫn khăng khăng ngoan cố. Trái tim tham lam của hắn chưa thỏa mãn và hắn muốn nuốt tất cả các ngươi. Đây là điều đất và trời không thể nào chấp nhận và ta đã ra lệnh cho đô đốc địa phương dẫn quân tới trừ bỏ hắn ta”.[9] Sự phá hủy tiếp theo đối với một chính thể láng giềng do nhà Minh Trung Quốc tiến hành là trái ngược với những gì được giới thiệu trong các bộ sử như là trừng phạt kẻ cướp do hoàng đế tiến hành, do mối quan tâm của trời đất và hoàng đế không có lựa chọn nào khác là phái quân đội tới chống lại kẻ làm điều tàn ác. Tất cả những ví dụ này đều có chung một đặc điểm là trong khi topoi gợi ý hành động đúng đắn hoàng đế hào hiệp, cao thượng được trời trợ giúp, đằng sau nghệ thuật tu từ lại ẩn chứa mục đích chính trị trong việc loại bỏ các kẻ địch tiềm tàng hay sáp nhập lãnh thổ vào nhà nước Trung Hoa. Chúng tôi sẽ tiếp tục kiểm chứng điều đó ở phần tiếp theo.

  1. Vai trò của Topoi trong viết sử Trung Hoa.

Mỗi một Topoi được đề cập đã có một chức năng tương đối riêng biệt và tất cả có vai trò xác định trong việc tạo nên hiệu lực hay cung cấp một lý do cho các hành động do nhà nước Trung Quốc tiến hành và duy trì tư tưởng nào đó về nhà nước Trung Quốc đối với những tộc người xung quanh nó.

“Hoàng đế là người thay mặt trời” rõ ràng cung cấp cái cớ cho bất cứ hành động nào của hoàng đế Trung Hoa, bởi vì tất cả các hành động đều được mặc nhiên thừa nhận. Như được đề cập ở trên khi vua Shinghalese bị bắt và bị đem trở lại Trung Quốc bởi quân đội của Trịnh Hòa vào năm 1411, nó được ghi trong MSL rằng “Trời đã ghét cay ghét đắng tội ác của hắn ta và giúp bắt sống hắn”.[10]

“Hoàng đế như là người bảo hộ sự sống”, “hoàng đế là con người công bằng” và “hoàng đế như là cha”, như các tác phẩm sử học ghi lại đã ngăn chặn các hoạt động gây hại cho thần dân dù là ở trong hay ngoài biên giới Trung Quốc. Do đó hành động của hoàng đế luôn công bằng chính trực. “Hoàng đế là người duy trì hòa bình” mặt khác lại đưa ra sự quan tâm có tính đạo đức của hoàng đế đối với tất cả mọi người, với hoàng đế Vĩnh Lạc người đã mang điều này tới đỉnh cao và đã có lần tuyên bố “cho dù chỉ là một người mất nơi ở, ta cũng không yên”[11]. Mặt khác, tư tưởng về một hoàng đế có bổn phận hành động như là trung gian và duy trì hòa bình nhiều hơn ngụ ý rằng nhà nước Trung Quốc phải làm như thế. Đỏi lại một quyền như thê cung cấp một lý do cho bất cứ hành động nào thứ được mô tả trong các văn bản Trung Hoa như là thứ nhằm mục đích duy trì hòa bình  hay trừng phạt kẻ ác, bao gồm các hoạt động quân sự chống lại những tộc người xung quanh Trung Quốc. Quyền này được xác nhận thêm bởi sự sở hữu sức mạnh đức hạnh của hoàng đế.

Cái tốt thuộc về bản chất của Văn hóa Trung Quốc đã làm cho có hiệu lực (tất nhiên là chỉ trong các tác phẩm sử học truyền thống) các hành động của những người bên trong nền  văn hóa đó bất chấp sự hung ác hoặc các hành động cần thiết khác để đạt lấy mục đích cuối cùng. Topoi thứ được lợi dụng trong các tác phẩm sử học của nhà Minh để mô tả những người không phải là người Trung Quốc như những gì hoàn toàn không phải là người và chia sẻ một vài hoặc là không có đặc điểm nào đó của người văn minh đã cung cấp cái cớ sâu hơn cho những hành động chống lại họ, những hành động mà trái lại phải được coi là vô đạo đức và phi lý. Chiến thuật này đã được du nhập trong nhiều thời kỳ bởi nhiều xã hội đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh và đôi khi là cả trong thời bình để cho phép các chính thể mở rộng lãnh thổ hoặc đàn áp. Chiếu thuật được dùng để vượt qua sự mâu thuẫn thứ xảy ra khi tôn kính cuộc sống con người, thứ là đặc điểm của hầu hết các hệ thống đạo đức, đã mâu thuẫn với nhu cầu của chế độ muốn phế bỏ quyền lực hay loại bỏ quyền lực bên ngoài (và đôi khi thậm chí là ở bên trong) xã hội.

Sự giới thiệu hệ thống triều cống ở trong các tác phẩm sử học, thông qua việc dùng vô số các Topoi miêu tả một “trật tự tự nhiên” giữa các chính thể, với vị trí của Trung Quốc ở đỉnh chóp, một lần nữa cung cấp bối cảnh hữu hiệu cho bất cứ hành động nào mà nhà nước Trung Quốc lựa chọn để theo đuổi chống lại các chính thể phụ thuộc. Sự thất bại của An Nam trong việc triều cống Trung Quốc trong 20 năm vào đầu thế kỉ 16 đã được sử dụng như là cái cớ để Trung Quốc lập kế hoạch xâm lược bằng quân sự vào quốc gia này.[12]Các hành động quân sự được tiến hành bởi Trịnh Hòa ở Java, Samudra và Sri Lanka cũng được hiệu lực hóa trong MSL thông qua các topoi của hệ thống triều cống. Liên quan đến các chính thể dọc theo biên giới Trung Quốc, các topoi về tính chất trội hơn của người Trung Quốc đã hữu hiệu hóa sự đòi hỏi quá đáng của nền kinh tế Trung Quốc được gọi là chaifayin hay “thuế bạc”, và sau đó là các thứ thuế chính thống hơn đối với các chính thể giữ lại được vua của mình. Do đó trong khi nó thực sự là sức mạnh của quân đội Trung Quốc và sự đe dọa bằng quân sự trả đũa những ai cho phép nhà nước Trung Quốc đưa ra yêu cầu và thu thuế từ các chính thể biên giới, sự mô tả về mối quan hệ trong các tác phẩm sử học Trung Hoa gợi ý rằng có một nghĩa vụ tự nhiên đối với bất cứ chính thể nào mà Trung Quốc quyết định trong sự thực thi pháp lý của mình, thực thi triều cống đối với triều đình. Người ta có thể quan sát  sự tương đương rất gần –hầu hết là sự tiếp nối trực tiếp- giữa nghệ thuật tu từ của nhà Minh Trung Quốc trong khía cạnh này và sự tu từ trong chủ nghĩa xã hội Trung Quốc hiện đại. Nghệ thuật tu từ của nhà Minh do đó hoàng đế tuyên bố là đối xử với tất cả nhân từ và công bằng đóng chứng năng ở hai cấp độ. Thứ nhất nó cung cấp một sự hữu hiệu về mặt lý thuyết đối với sự cai trị nói chung của hoàng đế/bộ máy cai trị Trung Hoa và thứ hai nó ngăn ngừa hữu hiệu bất kì nỗ lực nổi loạn nào chống lại hoặc đẩy lực lượng Trung Hoa ra khỏi vùng nó đã chiếm đóng. Nghệ thuật tu từ của CHDCND Trung Hoa đóng chức năng tương tự ở cả hai cấp độ này. Sẽ là thích hợp khi cuối cùng chúng ta nhìn lướt qua xem topoi truyền thống đã có ảnh hưởng đến việc nghĩ và viết như thế nào ở Trung Quốc hiện đại.

  1. Ảnh hưởng của topoi viết sử truyền thống trong Trung Quốc hiện đại.

Trong việc viết sử truyền thống của nhà nước Trung Quốc, hoàng đế, người nắm giữ quyền quyết định cuối cùng, chiếm giữ địa vị chủ yếu được miêu tả như là có lòng nhân từ cao cả trong bất cứ trường hợp nào và là người tuyệt vời. Cùng  với các topoi được ghi lại, điều này có nghĩa rằng, như đã đề cập ở trên,  trong viết sử luôn luôn có lý do đạo đức cho bất cứ hành động nào chống lại những người không phải là người Trung Quốc. Do đó, tất cả các hành động do nhà nước Trung Quốc bảo trợ chống lại những người không phải là người Trung Quốc xuyên suốt lịch sử là có giá trị và đúng.

Thế giới quan và năng lực tri giác thứ mà sự viết lách như vậy tạo ra đã tạo ra và duy trì giữa những người Trung Quốc đã không chết cùng với đế chế Trung Quốc. Chúng đã được thừa hưởng và tiếp tục được tuyên truyền bởi các nhà giáo dục, các chính trị gia và các nhà sử học trong phần lớn cộng đồng xã hội Trung Quốc hôm nay. Sử dụng bốn bằng chứng lịch sử dưới đây được trích dẫn trong bần II chúng tôi có thể cung cấp một vài ví dụ soi rọi việc nghệ thuật tu từ truyền thống đã tiếp tục được sử dụng như thế nào trong việc viết sử của người Trung Quốc hôm nay.

  1. Sự chiếm đóng Vân Nam của nhà Minh.

You Zhong, một trong những sử gia truyền thống nổi bật nhất của Vân Nam hiện đại đã mô tả trong một tác phẩm gần đây về việc hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã cố gắng bình định hòa bình cho tới khi ông ta không có lựa chọn nào mà phải “phái quân đội tới để bình định Vân Nam ở biên giới tây nam”[13]. Sự “cần thiết” của “bình định” bằng quân sự đã lặp lại, hầu như không thay đổi, từ ngữ của hoàng đế thái tổ nhà MInh đã được nhắc lại như trên.

  1. Nhà Minh xâm lược Đại Việt năm 1406.

Trong một bài báo của Liao Xiaojian, được viết năm 1986, bài báo sử dụng rất nhiều nghệ thuật tu từ truyền thống trong việc bảo vệ sự xâm lược của người Trung Quốc vào Đại Việt Nam 1406, nó tuyên bố rằng cuộc viễn chinh của nhà Minh chống lại An Nam được tiến hành như là hình phạt (thảo phạt) An Nam vì đã phạm vào biên giới, đã lừa dối triều đình nhà Minh và phục kích vua bù nhìn nhà Minh phái sang An Nam. Cách gọi và sự lặp lại lý do cơ bản những gì có trong văn bản nhà Minh và Liao kết luận rằng “lý do triều Minh tấn công An Nam năm 1406 là không thể tách rời khỏi sự khiêu khích trước của An Nam”[14]. Ở đây một lần nữa  một học giả đương đại đã trích dẫn những lời tuyên bố của thế kỉ 15 mà không hề phê phán.

  1. Các cuộc hành trình do hoạn quan chỉ huy vào đầu thế kỉ 15.

Trong những ví dụ khác, việc viết sử hiện đại, trong khi không nhắc lại những tên gọi cũ, đã bị tác động bởi các topoi được lợi dụng trong lịch sử truyền thống. Ví dụ như các sử gia Trung Quốc hiện đại đã tán dương các cuộc viễn chinh trên biển do các hoạn quan chỉ huy như là các chuyến đi vì tình bạn, thứ đã “lan truyền uy tín của nhà Minh”[15] và do đó “chính sách của Ming Chenzu nhằm mục đích đảm bảo rằng các quốc gia của Biển Nam và Biển Tây cùng hưởng hòa bình vĩ đại và đã đạt được thành công”.[16] Trong cảm hứng tán dương, Hong Huanchun nói “Vào đầu thời Minh, chính sách đối ngoại  hữu nghị và thân thiện được theo đuổi và trong sự phát triển của mối quan hệ hữu nghị và kinh tế với các nước của châu Á và châu Phi, các thành tựu chủ yếu đã được nhận ra. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Biển tây là một sản phẩm của chính sách đối ngoại thân thiện đầu thời Minh và chúng  là một trong những  sự kiện vĩ đại trong lịch sử hữu nghị Trung Quốc-nước ngoài”[17]. Bản chất hăm dọa của các chuyến đi này được đề cập ở trên đã bị lờ đi, chủ yếu như là kết quả của topoi trong việc viết sử của nhà MInh nhưng cũng một phần là kết quả của những đòi hỏi của chính trị Trung Quốc hiện đại.

  1. Sự xâm lược và phá hủy của Trung Quốc đối với Luchuan năm 1430 và 1440.

Sự xâm lược và phá hủy của Trung Quốc đối với chính thể Tai Mao vào các năm 1430 và 1440 được mô tả bởi những người viết lịch sử Trung Quốc hiện đại như là “ba cuộc viễn chính chống lại Luchuan”.  Từ các tài liệu về các cuộc viễn chinh được viết bởi hai tác giả hiện đại, chúng ta lượm lặt  được vài ý tưởng về việc chúng được diễn tả như thế nào trong các tác phẩm sử học của CHDCND Trung Hoa ngày nay. Về vấn đề này Jiang Yingliang, một học giả nổi tiếng của Vân Nam viết “Từ thời Si Kefa nổi dậy, Luchuan liên tục bị hấp thụ lãnh thổ Trung Quốc và tạo ra sự kinh động. Sau đó nó xâm lược các nước láng giềng ở bốn phía, không chỉ mang thảm họa đến cho người của chính nó mà còn mang đến sự nguy hại nghiêm trọng đối với rất nhiều tộc người khác ở trong vùng. Ba cuộc chinh phạt lớn mà các vua nhà Minh tiến hành đánh Luchuan đã dẫn tới thảm họa chiến tranh lan rộng. Trong khi mục đích của chúng là  phô diễn sức mạnh của quân đội đối với các tộc người ở biên giới, thì kết quả khách quan lại đóng vai trò tích cực trong việc giải phóng những người ở biên giới khỏi sự túng quẫn, tăng cường mối liên hệ giữa vùng biên giới và vùng trung tâm, củng cố sự kiểm soát của nhà Minh đối với Vân Nam và thúc đẩy sự giao thiệp văn hóa, kinh tế giữa các vùng biên giới và đồng bằng trung tâm.”[18].

Trong An Outline of the History of China’s Ethnic Relations, những cuộc tấn công vào Luchuan được miêu tả như sau: “Dòng họ Si của Luchuan cố gắng thiết lập một thể chế ly khai và mở rộng ra bốn phương, tấn công các thành phố và chiếm đóng đất đai. Điều này gây hại lớn lao đối với các tộc người ở Vân Nam và nó làm nảy sinh sự đối lập với các đơn vị tự trị bản xứ xung quanh. Cho dù ba cuộc viễn chinh của nhà Minh lãng phí quá nhiều sinh mạng và nguồn lực vật chất, nó đã ổn định được tình hình Vân Nam và bảo vệ được sự thống nhất của đất nước”[19].

Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng những tác giả hiện đại, nếu không chấp nhận một cách không phê phán thì ít nhất cũng nhắc lại sự hiệu lực hóa các cuộc viễn chinh của nhà Minh, nhấn mạnh nỗi khổ của người dân, lờ đi sự chiếm đoạt của nhà Minh đối với lãnh thổ của chính thể Tai Mao vào  cuối thế kỉ 14, và xóa bỏ địa vị như là một chính thể độc lập của Luchuan. Tiếp nối truyền thống tu từ “trừng phạt kẻ cướp” và dưới tấm khẩu hiệu hiện đại “đảm bảo sự thống nhất quốc gia”, những hành động của nhà Minh đã ngay lập tức được hiệu lực hóa mà không hề bị phê phán. Thậm chí ngày nay, trong việc miêu tả rất nhiều các sự kiện trong đối ngoại đương đại, nhà nước Trung Quốc cũng lợi dụng nghệ thuật tu từ. Một ví dụ chúng ta có thể trích dẫn là việc Trung Quốc tấn công Việt Nam năm 1979 được mô tả bởi nhà nước Trung Quốc như là một sự “trừng phạt”.

Sự minh họa sâu hơn về việc các tư tưởng này được tuyên truyền như thế nào được cung cấp vào đầu năm 1996 bởi Xu Xin, một cựu quan chức trong “Quân đội giải phóng nhân dân” và hiện là viện trưởng viên Nghiên cứu chiến lược quốc tế. Trong một bài báo bác bỏ luận điểm cho rằng Trung Quốc là mối đe dọa quân sự tiềm tàng đối với các nước trong khu vực, Tướng Xu viết: “những người có kiến thức về lịch sử Trung Quốc đặc biệt là lịch sử Trung Quốc hiện đại sẽ hiểu rằng dân tộc Trung Hoa là dân tộc yêu hòa bình và nước Trung Quốc là nước yêu hòa bình. Truyền thống ủng hộ hòa bình của dân tộc Trung Hoa đã có nguồn gốc lâu đời. Hơn hai nghìn năm trước, Khổng tử đã đưa ra tư tưởng rằng “duy trì mối quan hệ hòa thuận là đáng quý”. Sau triều Hán, những tư tưởng và lời dạy của Khổng tử trở thành triết học của tầng lớp trí thức Trung Quốc và chúng  đã chiếm vị trí dẫn đầu trong truyền thống văn hóa của dân tộc. Kể từ đó, hòa thuận với mọi người luôn luôn là quy tắc đạo đức đối với hậu duệ của Hoàng Đế, và duy trì mối quan hệ tốt với láng giềng là một phong tục đã ăn sâu vào tâm lý xã hội của người Trung Quốc”[20]

Tư tưởng  cho rằng Trung Quốc có thể đã thể hiện như là mối đe dọa hoặc có liên quan đến sự hiếu chiến chống lại các nhà nước khác  đã hầu như xúc phạm văn hóa Trung Quốc hầu như vẫn còn ở ngày hôm nay. Về mặt ngôn ngữ nó không cho phép Trung Quốc “xâm lược” hay “có hành động hiếu chiến” với nước khác. Trước  các cuộc tập trận được tiến hành ở eo biển Đài Loan bởi lực lượng vũ trang Trung Quốc đại lục đầu năm 1996, những người biểu tình ở Đài Loan đã giơ cao áp phích “Trung Quốc đang xâm lược Đài Loan”. Lời lẽ của những tấm áp phích như thế nhằm mục đích không chỉ nhắm vào những người cho rằng Đài Loan là một phần không thể tách rời của Trung Quốc mà còn nhằm vào những người lớn lên và tin rằng  không thể có chuyện Trung Quốc có hành động hiếu chiến hay xâm lược nước khác. Trong khi nhà nước Trung Quốc luôn sẵn sàng cho việc chỉ trích người Nhật Bản vì họ đã mô tả trong các cuốn sách giáo khoa sự xâm lược của Nhật Bản đối với Trung Quốc đơn giản như là sự “tiến vào”, vẫn còn duy trì sự điều tra chút ít mang tính phê phán bên trong văn hóa Trung Quốc về chức năng đối lập của ngôn ngữ tương tự  bên trong lối viết đặc biệt là viết sử Trung Quốc. Cách xử sự ở đó Trung Quốc có được sự kiểm soát đối với các chính thể và cách chúng bị sáp nhập vào Trung Quốc thường được xếp vào   trong việc viết sử Trung Quốc hiện đại  dưới cụm từ “phát triển” hay “khai phá”. Có thể nói trong các tác phẩm như thế được biên soạn bởi Ma Ruheng và Ma Dazheng[21] và Lu Yiran[22],  đế chế Trung Quốc kế tiếp đã được miêu tả như là đã “khai phá”  các vùng biên giới  như Đài Loan, Tây Tạng, Xinjiang và Hải Nam với sự ngụ ý không chỉ những vùng này luôn là phần không thể tách rời của chính thể Trung Hoa mà các hành động đó luôn hợp pháp và hợp với sự phát triển tự nhiên của Trung Quốc. Có một sự thất bại hoàn toàn để định ra cơ cấu của sự bành trướng của Trung Quốc và sự hợp pháp hay trái lại của các lời tuyên bố của Trung Quốc đối với những lãnh thổ như thế. Một lần nữa đây là một phần của kết quả tu từ được thừa hưởng từ đế chế trong quá khứ. Trong mắt của các học giả đương đại, trong khi nhà nước Trung Quốc đã chắc chắn “bình định” được những vùng này , các chính thể “được ve vuốt”, các ông vua không phải người Trung Quốc “ngoan cố”, và những kẻ cướp bị “trừng phạt”, tất cả những hành động này được làm cho có hiệu lực bởi sự đúng đắn của nhà nước Trung Quốc hoặc mục đích tàn ác của những người không phải là người Trung Quốc.

Tuy nhiên, nếu người ta lờ đi những topoi hay chính xác hơn là coi chúng như những bằng chứng hiệu lực hóa nghệ thuật tu từ, hành động của các nhà nước Trung Quốc kế tiếp nhau đối với những tộc người không phải là người Trung Quốc là kém nhân từ , kém lý trí, khó chấp nhận và mang tính hiếu chiến, bành trướng. Nhưng sự tự phản ánh mang tính phê phán cần thiết đối với những câu hỏi sắc nhọn như thế không phải là phần chủ yếu của sử học Trung Quốc. Lu Xun sẽ nói rằng vẫn còn không thiếu những “người điên”. Sự thiếu vắng này một phần là kết quả của việc phê phán sử học truyền thống nhưng bắt nguồn từ nhu cầu cấp bách về chính trị của nhà nước Trung Quốc hiện đại.

  1. Kết luận

Chỉ bằng việc bắt đầu nhận ra các topoi và hình ảnh thứ được lợi dụng liên tục trong sử học Trung Quốc và thông qua sự công nhận như thế, với sự phân tích mang tính phê phán hơn các văn bản Trung Quốc thứ được dùng để tái tạo lịch sử Châu Á sẽ được dùng để tạo ra kịch bản lịch sử có giá trị hơn. Đặc biệt các quá trình ở đó đế chế Trung Quốc lớn mạnh từ  một vài nhà nước ở trung tâm sông Hoàng Hà trở thành chính thể chiếm một nửa châu Á cần được thẩm tra kĩ càng hơn. Quá trình sự lớn mạnh này đã bị che khuất đằng sau các topoi của sử học Trung Quốc. Các ví dụ tôi đã dẫn ra ở trên, phần lớn bắt nguồn từ một vương triều, chỉ liên quan đến vùng biên giới phía nam và được lấy ra hoàn toàn từ truyền thống viết sử chính thống. Những nghiên cứu sâu rộng hơn về các topoi như thế này khắp các vương triều, liên quan tới các vùng biên giới khác và lấy từ các phạm vi khác của sử học Trung Quốc sẽ cung cấp sự hiểu biết sâu hơn về hình ảnh và nghệ thuật tu từ trong sử học Trung Quốc và sẽ ủng hộ trong việc giải thích tại sao các khái niệm ẩn trong topoi đã tồn tại từ lâu và tiếp tục tồn tại, như là ảnh hưởng đầy quyền lực  đối với sự nhận thức của người Trung Hoa về chính bản thân họ và các nước láng giềng.

[1] MSL, Taizu, j. 244, 2b-4a.

[2] MSL, Taizong, j. 56, 1b-3a.

[3] MSL, Taizong, j. 80, 3b-4a.

[4] MSL, Xuanzong, j. 33, 1a-b.

[5] MSL, Taizong, j. 108, 2b.

[6] Xem các tư liệu liên quân trong MSL, Taizong, j. 71, 1a, và J. 130, 1b-2a.

[7] MSL, Taizong, j. 94, 5a-b.

[8] MSL, Yingzong, j. 72, 6b-7a.

[9] MSL, Yingzong, j. 76, 7b-8a.

[10] MSL, Taizong, j. 130, 1b-2a.

[11] MSL, Taizong, j. 44, 5b-6b.

[12] MSL, Shizong, j. 193, 6b-7a.

[13] You Zhong, Yunnan Minzu shi (Kunming: Yunnan daxue chubanshe, 1994), p. 337.

[14] Liao Xiaojijan, “Lun 1406 nian Mingchao yu Annan Zanzheng de yuanyin”, Yinduzhina 1/1988, pp.11-15.

[15] Chen Jiarong, Zhongwai Jiaotong shi (Hong Kong: Xuejin Shudian, 1987), P.462.

[16] Cai Meibiao et al., Zhongguo tongshi, 10 vols. (Hong Kong: Sanlian Shudian, 1995), VIII, p. 87.

[17] Hong Huanchun, “Mingchu duiwai youhao guanxi yu Zheng He xia Xiyang”, trong Jinian weida hanghaijia Zheng He xia Xiyang 580 zhounian choubei weiyuahui (ed) Zheng He xia Xiyang lunwenji (Nanjing daxue chubanshe, 1985), II, p.148.

[18] Jiang Yingliang, Zhongguo minzu shi, 3 vols. (Beijing: Mizu chubanshe, 1990). III, p. 150.

[19] Weng Dujian (ed), Zhongguo minzu guanxi shi (Beijing: Zhongguo Shehui Kexue chubanshe, 1990) p. 649.

[20] Fang Zhi, “Daodi shui Weixie shui”, Liaowang 8-9 (19 February 1996), p. 48-49.

[21] Ma Ruheng and Ma Dazheng (eds). Qingdai bianjiang kaifa yanjiu (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1990).

[22] Lu Yiran et al. (eds), Zhongguo bianjiang shidi lunji (Harbin: Heilongjiang chubanshe, 1991).


Cũ hơn Mới hơn