Một vài Topoi trong việc chép sử biên giới thời Minh và sự liên quan mang tính hiện đại của nó (2)


Tác giả: Geoff  Wade

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

 

Hoàng đế như là cha, mẹ. Sự mở rộng hơn của tư tưởng về sự nhân từ của hoàng đế là sự miêu tả ông ta như là “cha”. Năm 1429, Hoàng đế Xuande được ghi nhận là đã  định nghĩa chức năng của mình như sau: “Ta phục vụ trời bằng việc đối xử với thần dân như là con cái của ta. Trong hàng ngàn vạn nước ở khắp bốn biển, ta cố gắng mang đến sự giàu có và thịnh vượng”.[1] Trải qua một thế kỉ sau, vào những năm 1540, hoàng đế Jiajing đã khuyên nhủ vua của An Nam rằng: “ta là hoàng đế và ta đối xử với tất cả hạ giới như là gia đình của ta”.[2]HÌnh ảnh được  được biểu lộ một cách ngắn gọn trong bản tấu được đưa lên bởi Trần Cảo và Lê Lợi của Đại Việt trình lên hoàng đế Zuande năm 1427. Trong đó có đoạn: “Chúng thần khiêm tốn nhận rằng Trời và Đất, trong sự đối xử với muôn loài, có thể thể hiện sự giận dữ thông qua sấm sét, bản chất của đất trời sẽ giúp cho sự sống tiếp tục. Mặc dù cha mẹ, trong sự đối xử của họ với con cái, đôi khi giáo dục chúng  bằng roi, trong những hành động như thế chứa đựng ý tưởng tốt đẹp muốn giáo dục con cái chu đáo. Trong số những người chịu đựng đau đớn sẽ có những người không khóc kêu trời và cha mẹ của họ. Do đó các thượng thư phải trình bày các từ ngữ đứng đắn, lời chia sẻ đau buồn và lời cầu nguyện đối với triều đình”.[3]Hình ảnh ngấm ngầm của hoàng đế/triều đình Minh như là cha mẹ  đơn nhất của các tộc người bên ngoài  chỉ ra từng bản tấu trình hoặc là được thảo bởi các nhà văn Việt Nam đáp ứng với yêu cầu tu từ của Trung Quốc hoặc là bị “quy định” theo tiêu chuẩn viết sử của Trung Quốc bởi các nhà biên soạn MSL.

Hoàng đế như là người duy trì hòa bình. Một hình ảnh quan trọng trong Topoi của các tác phẩm sử học nhà Minh là việc hoàng đế, mở rộng ra là nhà nước Trung Quốc, là duy trì trật tự và hòa bình. Hình ảnh này được diễn tả mạnh mẽ trong các mệnh lệnh của triều đình gửi tới chính thể Ava-Burma do hoàng đế Vĩnh Lạc tiến hành vào năm 1405 “Khi một vua nhận được sự ủy thác và trở thành chúa tể hạ giới, ông ta phải rõ ràng trong hình luật và mệnh lệnh, và phải có tình cảm, vì vậy kẻ mạnh không thể hiếp đáp kẻ yếu, số đông không được phiền nhiễu số ít và tất cả phải hòa bình sinh sống”[4]

Việc nhắc đi nhắc lại các đoạn có liên quan trong MSL thông báo cho chúng ta về các mệnh lệnh của hoàng đế được gửi tới nhiều chính thể yêu cầu vua của họ cắt giảm các hoạt động quân sự hiện tại hoặc các các hành động đã được lập kế hoạch. Cambodia và Champa được yêu cầu ngừng chiến tranh vào năm 1414[5] trong khi 60 năm sau, sau cuộc tấn công phá hủy Champa của Đại Việt năm 1471, An Nam được lệnh của hoàng đế Trung Quốc thả tất cả người đã bắt và không được tấn công vào Champa lần nữa.[6]Bất chấp sự suy giảm quyền lực của nhà MInh nghệ thuật tu từ này tiếp tục vào đầu thế kỉ 16  vài năm sau khi người Bồ Đào Nha chiếm Melaka vào năm 1511, hoàng đế trong vai trò là người duy trì hòa bình, được ghi nhận là đã lệnh cho người Bồ Đào Nha rút khỏi lãnh thổ của Melaka.[7]

Hoàng đế như là người sở hữu đức hạnh. Xuyên suốt biên niên sử của nhà Minh, các hoàng đế tiếp nối nhau được miêu tả như là sở hữu sức mạnh đạo đức ở bên trong được biết đến như là de. Điều này dường như là đã bieru thị sức mạnh cai trị được thừa nhận  thứ nuôi dưỡng cả đức hạnh và quyền cai trị của hoàng đế, bằng cách ấy công nhận các hành động của triều đình Trung Quốc và dẫn dụ mọi người bốn phương hướng tới trung tâm văn hóa được cấu thành bởi triều đình. Nguồn gốc của khái niệm này mở rộng tới quá khứ của Trung Quốc. Shuijing zhu trích dẫn một bài thơ được viết trong thời nhà Hán ở đó ta thấy: “sức mạnh đức hạnh (de) của triều Hán là vô biên” (Han de wu jiang).[8]

MSL đã ghi lại về hoàng đế Xuande vào năm 1427, nói về sự tiếp tục quyền  lực ở Đại Việt của người Việt: “Trong việc phục hồi lại sợi dây đã đứt, ta đã hoàn thành ý nguyện của tổ tiên ta, rút quân đội và mang hòa bình đến cho mọi người. Với sức mạnh đức hạnh rộng lớn như vũ trụ, ta đặc biệt ban bố lời tuyên bố này phù hợp với mối quan tâm lớn của ta”.[9]Ở đây sự ngụ ý của văn bản là việc hoàng đế Trung Quốc thực thi đặc quyền đức hạnh trong việc cho phép hậu duệ của các vua Việt Nam trước đó cai trị chính thể Đại Việt. Sự thật là nhà Minh đã bị đuổi ra khỏi Đại Việt và Lê Lợi-nhà lãnh đạo người Việt đã chiếm được quyền lực và đưa một ông vua lên làm bù nhìn. Trong nhiều ví dụ, de diễn tả đạo đức, lòng tốt siêu việt của hoàng đế và nó phù hợp với hình mẫu vũ trụ.

Vào thế kỉ 16, trong một lá thư gửi tới nhà vua Đại Việt, hoàng đế Jiajing giải thích hành động của Trung Quốc liên quan tới cái chết của Mạc Đăng Dung như sau: “Ta nuôi dưỡng lòng nhân từ trong tình yêu với muôn loài và dõi theo ước muốn sống trong hòa bình của mọi thần dân. Do đó ta đã tha thứ tất cả, bãi bỏ tình trạng của “nước” nhà ngươi , phong vương và chỉ định ông của người (Mạc Đăng Dung) vào vị trí người chỉ huy”[10]. Ở đây sức mạnh đức  hạnh của hoàng đế Minh đã được sử dụng như là cái cớ cho việc baĩ bỏ “thân phận quốc gia” của An Nam trong các tư liệu Trung Hoa và chuyển chính thể, như nghệ thuật tu từ Trung Quốc quan tâm, thành “tự trị” đối lập với sự sáp nhập.

  1. Các quan chức Trung Quốc và Văn hóa Trung Quốc.

Tuy nhiên cũng không phải hoàn toàn chỉ có  các hoàng đế và mở rộng ra là triều đình, những người được miêu tả trong sử nhà MInh như là  người thấm đẫm lòng ngay thẳng. Các thượng thư và các quan khác cũng thường được mô tả khi họ giải quyết mọi việc với những người đến từ chính thể phương nam, trờ thành người hoàn mĩ về đạo đức, lòng trung thành và lòng yêu nước.

Các quan chức Trung Quốc như người Trung thành và dũng cảm.

Khi người Việt đang trong quá trình đuổi người Minh ra khỏi Đại Việt vào đầu thế kỉ 15, họ đã chiếm được tỉnh ở sông Liang, khu vực cấu thành bộ máy cai trị của Trung Quốc. Liên quan đến sự kiện này, các nhà biên soạn MSL cảm thấy bị miễn cưỡng khi chép rằng “quân đội và người dân trong thành tất cả đã chiến đấu đến chết và không một ai đầu hàng”. Thái thú Liu Zifu cũng được ghi nhận là người đã phát biểu trước khi chết: “Khi mất tỉnh này, ta sẽ chết. chính nghĩa không thể bị ô uế khi rơi vào tay kẻ cướp”.[11] Trong một phần khác của tư liệu có liên quan đến sự kiện này, người ta ghi nhận rằng sau khi bị người Việt bắt, một quan chức Trung Quốc tên là He Zong đã nhìn vào kẻ cướp với ánh mắt cháy rực và nói: “Ta là thượng thư của thiên triều. Ta chỉ mong chặt đầu các ngươi và mang về triều đình. Lẽ nào ta lại có thể theo các ngươi chỉ vì bảo toàn mạng sống”. Ở đây chúng ta sau đó đã chứng kiến những sự kết thúc mang tính đạo đức đem đến khía cạnh tích cực đối với sự kiện, một bằng chứng tu từ được sử dụng để đưa sự chú ý rời khỏi yếu tố quan trọng của sự kiện-sự thất bại của người Trung Quốc trước người Việt-và nhấn mạnh lòng trung thành, lòng dũng cảm của các quan chức Trung Quốc và người Trung Quốc. Nó gợi nhắc đến những điểm mà Charles Backus đã viết trong tác phẩm của ông về Nanzhao, nơi ông đã trích dẫn từ hai văn bản khác nhau liên quan tới hai thế kỉ khác nhau, những ví dụ về  người Trung Quốc-những người đã bị những người không phải là người Trung Quốc bắt giữ như thế nào. Năm 787, người Trung Quốc bị bắt giữ bởi quân Tây Tạng ở phía đông bắc Chang và bị đưa tới làm nô lệ ở “vùng đất của người dã man” vì thế Zhizhi tongjian[12] nói cho chúng ta biết rằng, được cho phép bởi những người bắt giam quay mặt về Trung Quốc và khóc. Ngay sau đó, những nỗi đau buồn đã lái họ ra khỏi câu chuyện. Trong một sự kiện vào năm 830, cảnh tương tự cũng được nhắc lại bởi những người Trung Quốc đã bị bắt giữ bởi quân đội Nanzhao và sau đó bị đem tới Nanzhao làm nô lệ. Xin Tang shu[13] ghi nhận rằng dưới chế độ chung thân khổ sai của những người không phải người Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc đã tự sát.[14]Do đó, năm thế kỉ trước khi nhà Minh, ví dụ như chúng ta cũng thấy bằng chứng tu từ này được sử dụng như là công cụ chuyển đổi sự chú ý và như là một nhân tố giáo huấn đạo đức. Thậm chí khi được ban vàng, đá quý và tước vị, như sứ giả Trung Quốc Li Sicong và Qian Guxun như là được ghi nhận, bởi nhà vua của chính thể Tai Mao ở Luchuan trong những năm 1390 trong nỗ lực để họ phục vụ ông ta, các viên quan Trung Quốc đã được miêu tả như là người đã khăng khăng lòng trung thành với nhà Minh. Những sứ giả này đã đáp lại rằng giá trị của Trung Quốc không phải là những giá trị vật chất mà là “Hoàng đế thần thánh, hoàng tử thông thái, quan chức trung thành, anh hùng cao quý, binh lính hùng mạnh, tướng lĩnh dũng cảm, con cái hiếu thảo và cháu chắt ngoan ngoãn”.[15]

Sự miêu tả như vậy về các viên quan đã phục vụ chu tất mối quan tâm của đế chế và công chúng chỉ ra lòng trung thành với đế chế và đương nhiên là một phần không thể thiếu của thuật tu từ  có hiệu lực của chế độ cai trị của triều đình và những thứ này của Trung Quốc triều Minh có thể được so sánh một cách thuận lợi với những gì của các đế chế châu Âu sau đó.

Văn hóa Trung Quốc như là thứ xứng đáng để noi theo. Sự ưu việt thuộc về bản chất của văn hóa Trung Hoa đã cung cấp lý do cho việc mở rộng văn hóa này tới các tộc người không phải là người Trung Hoa. Như hoàng đế Xuande đã diễn tả nó trong nửa đầu của thế kỉ 15: “Sử dụng đạo của Trung Hoa để thay đổi đạo của người Yi-không có gì quan trọng hơn thế”.[16]Yêu cầu để cung cấp giáo dục Khổng giáo cho các hoàng tử của các vua không phải là người Trung Hoa ở Vân Nam do đó đã khắc sâu vào họ đức hạnh truyền thống về sự hiếu thảo, sự đúng mực, đứng đắn, MSL đã cho chúng ta biết về lời nói sau đây của hoàng đế Chenghua: “Bằng cách này, thói quen của Man và Mo trong việc tranh giành thừa kế sẽ dần dần biến mất và ảnh hưởng văn minh của Trung Quốc sẽ đến với nơi xa xôi. Thật là tuyệt diệu”[17].

Những người không phải là người Trung Hoa này-những người đã hướng về đạo của người Trung Hoa đã được trích dẫn trong các văn bản của nhà Minh như là bằng chứng về sự ưu việt của văn hóa Trung Quốc. Năm 1493, một người đàn bà Tai từ Menglian ở Vân Nam, người theo như được ghi chép lại đã giữ gìn tiết hạnh suốt 28 năm sau khi chồng chết đã được ban thưởng và được hoàng đế nhắc đến: “những hành động chính trực và danh tiếng tuyệt vời giáo dục mọi người và thay đổi phong tục của Yi. Tại sao những người đã hướng về sự đúng đắn và chính nghĩa lại không được ban thưởng và khuyến khích”.[18]

  1. Topoi liên quan đến người khác, những người không phải người Trung Quốc.
  2. Người không phải là người Trung Quốc với tư cách như là kẻ sở hữu những đặc điểm không phải của con người.

Sự đối lập nói chung được lợi dụng trong các văn bản lịch sử của nhà Minh liên quan tới các tộc người ở biên giới phía Nam là một trong số những thứ so sánh văn hóa Trung Quốc và văn hóa bên ngoài. Văn hóa bên ngoài được gắn kèm với những tính từ như man, yi, và fan do đó luôn được nhà Minh miêu tả bằng những khái niệm phi nhân. Các topoi chính thức của nhà Minh bao gồm tư tưởng cho  rằng bởi vì những người không phải là người Trung Quốc thiếu đạo đức Trung Hoa, nên họ không khác gì chim và thú vật. một sự khẳng định của triều đình được công khai đưa ra năm 1412 nói rằng: “man và yi chỉ là thứ giống như chim và động vật. Những gì ở đó là hình phạt nghiêm khắc đối với họ”.[19]  125 năm sau, hoàng đế Jiangjing đã đưa ra ý kiến “yi và di, như chim và thú vật đều không có đạo đức con người”.[20]Cùng với sự thiếu vắng những thuộc tính cần thiết để trở thành con người văn minh, những người không phải là người Trung Quốc cũng được miêu tả  như là kẻ dối trá và không đáng tin. Năm 1430, MSL ghi lại lời phát biểu rằng “man và yi rất quỷ quyệt và dối trá. Không thể tin họ một cách dễ dàng”[21] . Trong phần cuối của thế kỉ này, Mu Cong, đô đốc địa phương của Vân Nam nói rằng “Vô số người Yi của Vân Nam là dã man, nổi loại và ngoan cố”.[22]Sự tu từ ấy đã có truyền thống lâu đời trong việc viết sử của Trung Quốc. Trong nghiên cứu của mình về nghệ thuật tu từ trong viết sử của nhà Tống, Wang Gungwu trích dẫn tu từ của nhà Đường về Xiongnu (Hung Nô) như sau: “Người Hung Nô với khuôn mặt con người và trái tim cầm thú không thuộc loài chúng ta… Bản chất của họ là những gì không có cảm quan về biết ơn và chính nghĩa”.[23]

Nhiều khía cạnh huyền ảo hơn về các Topoi này có thể được thấy trong các đoạn mà các nhà biên niên sử nhà Minh lựa chọn để đưa ra phiên âm về tên của những người không phải là người Trung Quốc trong các tác phẩm sử học Trung Quốc. Nhiều người Vân Nam trong tên của mình có âm Pa và các nhà biên niên sử đã sử dụng Pa với nghĩa “đáng sợ” để phiên âm tên. Ký hiệu  dùng cho hai âm tiết cuối của người có tên Dao Konglue từ Vân Nam, có nghĩa là “Người chỉ huy bọn cướp”[24] trong khi tên của sứ giả người Java tới Trung Quốc vào năm 1429 được phiên là “Mojiashi” có nghĩa là “bọ chét đen”.[25]

  1. Địa vị của các chính thể khác.

“Ta là hoàng đế, tiếp nhận sự ủy thác vĩ đại từ Trời, ta cai trị người Trung Quốc và yi. Văn hóa/ngôn ngữ (wen) cung cấp một quy tắc cho hàng ngàn nơi khác, trong khi ảnh hưởng văn hóa giáo hóa bốn phương. Trong số tất cả những ai ở dưới gầm trời hay được nâng đỡ bởi Đất, không có ai không thừa nhận trong tim”.[26] Đây là những từ ngữ mà hoàng đế Tianshun có ngụ ý viết cho Lê Hạo (Li Hao), vua của Đại Việt năm 1466 để giải thích về mối quan hệ hình mẫu giữa Trung Quốc và các quốc gia “triều cống” của mình. Trước đó vào thế kỉ 15, khi tàu của Trịnh Hòa mang các sứ thần nước ngoài trở lại Trung Quốc, Thượng thư bộ Lại Jian Yi đã giải thích: “người Yi từ bốn phương tranh nhau đức hạnh của hiền nhân và đó là lý do tại sao họ cử sứ thần đến triều đình. Sự kính trọng của họ dành cho bệ hạ là vô biên”.[27]Những mệnh lệnh của hoàng đế  được cho là gửi tới vua của Champa vào năm 1441[28] và 1443[29]có chứa “trách nhiệm cần thiết” của vua triều cống trong mối quan hệ với Trung Quốc. Nhà vua bị đòi hỏi (a) Kính trọng trời và phụ vụ kẻ trên (ví dụ Trung Quốc), (b) thực thi bổn phận đầy đủ như là cấp dưới của Trung Quốc, (c) thực thi đầy đủ nghĩa vụ Triều cống (Trung Quốc). Các topoi về hệ thống triều cống tương tự có thể thấy khắp MSL cũng như các văn bản chính thống và phi chính thống khác của nhà Minh (và các vương triều khác), liên quan tới tất cả các chính thể nước ngoài mà Trung Quốc đã có quan hệ.

Bất chấp rằng liệu các mệnh lệnh đó có được gửi đi hay không hay được tiếp nhận hay không, hay chưa từng bao giờ được hiểu bởi người tiếp nhận, vai trò của chúng trong việc miêu tả mối quan hệ của Trung Quốc với các chính thể khác trong các tác phẩm sử học Trung Quốc là rõ ràng. Câu hỏi cần thiết thể hiện sau đó là mức độ nào hệ thống triều cống được giới thiệu trong các văn bản Trung Quốc là  điều bịa đặt của nghệ thuật tu từ Trung Hoa và ở mức độ nào nó giới thiệu thứ bậc chính trị được công nhận.

Thêm nữa, “Địa vị” được chỉ định đối với bất cứ chính thể nào trong các tác phẩm sử học cũng đều bao gồm phần của nghệ thuật tu từ Trung Hoa và khi tình hình chính trị đòi hỏi như vậy, điều này có thể được điều chỉnh hoặc dỡ bỏ. Một ví dụ trước đó về điều này là sự thay đổi trong  địa vị “nước” (guo) của Vân Nam. Năm 1369, MSL ghi “các nước Vân Nam và Nhật Bản”[30]Tuy nhiên khi quyết tâm của Minh Thái Tổ đối với việc sáp nhập các phần của Vân Nam vào nhà Minh lên cao và rõ ràng nghệ thuật tu từ chính thống đã nhanh chóng bỏ đi những phần có liên quan đến “nước Vân Nam”. Một ví dụ khác là “địa vị quốc gia” của An Nam (Đại Việt). Có hai dịp, một lần vào đầu thế kỉ 15 và một lần nữa vào những năm 1540, các sách sử chính thống của Trung Quốc đã xóa đi địa vị “quốc gia” của An Nam, sau đó bỏ đi bất cứ trở ngại nào về mặt khái niệm đối với sự sáp nhập có thể của nó vào lãnh thổ Trung Quốc.[31]

Các chính thể nước ngoài/biên giới này bị thần phục bởi lực lượng quân đội nhà Minh sau đó đã được chỉ rõ trong các văn bản của Trung Quốc như là vô số các kiểu “tự trị”. Nhà Minh thậm chí còn  đưa ra tính từ đi kèm với các chính thể ở xa không có liên hệ trực tiếp nào, như khi nó “thiết lập” một cơ quan giám sát (xuanweisi) ở chính thể Dagula, có lẽ nằm ở Assam ngày nay.[32] Bằng việc thành lập, trong sử Trung Quốc, mối liên hệ kẻ trên/kẻ dưới giữa triều đình Trung Quốc và chính thể nước ngoài/biên giới, bất cứ hành động tiếp theo nào được tiến hành bởi nhà nước Trung Quốc để trừng phạt, quấy rối hoặc chiếm đóng chính thể đó đều có hiệu lực trước. Số phận cuối cùng của nhiều chính thể Vân Nam là bị chia thành các đơn vị nhỏ hơn (lie tu zhong jian) và sau đó lệ thuộc vào những gì mà các cuốn sử Trung Quốc gọi là “thay đổi bản xứ và bắt đầu chính thống” (gait u gui liu), nhờ đó nhà vua bản xứ và truyền thống của chính thể được thay thế bởi một thành viên chính thống của bộ máy quan liêu Trung Quốc thường là thông qua sự đe dọa hoặc sử dụng lực lượng quân sự. Tuy nhiên tài liệu chính thức của nhà Minh không thường xuyên ghi rằng quá trình này được bắt đầu với yêu cẩu của những người dân địa phương. Sự thiết lập cơ chế cai trị Trung Hoa ở Đại Việt bị chiếm đóng năm 1407 được tiến hành vì thế MSL ghi rằng đó là do sự yêu cầu của người Việt Nam. Chúng tôi đọc thấy trong “Chương về cơ quan tự trị Guizhou” của Minh sử (Ming shi) rằng “Vào năm thứ 40 của triều vua Wanli (1612/1613), Bộ lại lại đưa ra đề nghị từ Hu guifang rằng “ Jin Dazhang, người thường trú của cơ quan bình định tự trị Jinzhu, cầu khẩn rằng cơ quan tự trị bản xứ cần chuyển thành cơ quan cai trị chính thức bằng một vị trí chính thức và bộ máy chính thức nên được thiết lập, rằng hoàng đế xác định tên của của quận huyện, rằng con dấu cần được đúc và cung cấp, rằng một viên quan huyện cần được chỉ định từ bộ máy quan liêu chính thức”.[33]

[1] MSL, Xuanzong, j. 52, 10b-11b.

[2] MSL, Shizong, j. 268, 3a-b.

[3] MSL, Xuanzong, j, 40, 3a-4a.

[4] MSL, Taizong, j.57, 2b-3a.

[5] MSL, Taizong, j. 149, 2b.

[6] MSL, Xianzong, j. 108, 3b-4a.

[7] MSL, Shizong, j.4, 27b.

[8] Wang Guowei (annotor), Suijing Zhu jiao (rpt.Shanghai: Shanghai renmin chubanshe, 1984), p. 1150.

[9] MSL, Xuanzong, j.33, 1a-b.

[10] MSL, shizong, j. 268, 3a-b.

[11] MSL, Xuanzong, j. 43, 8a-10b.

[12] Sima Guang, Zhizhi tongjian, j. 223.

[13] Ouyang Xiu, Xin Tang shu, j. 222b.

[14] Charles Backus, Then Nan-chao Kingdom and Tang China’s Southwestern Frontier (Cambridge: Cambridge University Press, 1981), P.115.

[15] Jiang Yingliang (ed), Baiyi zhuan jiaozhu (Yunnan People’s Publishing House, 1980), p. 139.

[16] MSL, Xuanzong, j. 3, 12b-13a.

[17] MSL, Xianzong, j. 212, 6a-b.

[18] MSL, Xiaozong, j. 80, 1b.

[19] MSL, Taizong, j. 130, 1b-2a.

[20] MSL, Shizong,j. 199, 6b-7b.

[21] MSL, Xuangzong, j. 64, 4a-5b.

[22] MSL, Xianzong, j.273, 2a.

[23] Wang Gungwu, “ The Rhetoric of a Lesser Empire: Early Sung Relations with Its neighbors” Trong Rosabi, China Among Equals. Pp. 48-49.

[24] MSL, Yingzong, j. 34, 1b-2a.

[25] MSL, Xuanzong,j.59, 8b.

[26] MSL, Yingzong, j. 337, 4b.

[27] MSL, Taizong, j. 117, 4a-b.

[28] MSL, Yingzong, j. 81, 5b-6a.

[29] MSL, Yingzong, j. 104, 3b-4a.

[30] MSL, Taizu, j. 39, 1b.

[31] Ví dụ xem MSL, Taizong, j. 67, 4b, và Shizong, j. 248, 4a.

[32] MSL, Taizong, j. 55, 3b.

[33] Zhang Tingyu, Ming shi (Beijing: Zhonghua shuju, 1974), j. 316, p. 8197.


 

 


Cũ hơn Mới hơn