Một vài Topoi trong việc chép sử biên giới thời Minh và sự liên quan mang tính hiện đại của nó (1)


Tác giả: Geoff  Wade

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Dẫn nhập: Hình ảnh và thuật tu từ  (Topoi)  của Trung Hoa

 

“Bạn phải thực sự đi vào thứ gì đó trước khi bạn có thể hiểu nó. Dường như tôi nhớ rằng, mặc dù không rõ ràng lắm, từ thời xa xưa khi con người thường hay bị ăn thịt và vì vậy tôi bắt đầu đọc lướt qua cuốn sách lịch sử để tìm kiếm nó. Không có ngày tháng trong lịch sử, nhưng bằng cách này  tôi thấy  khắp các trang sách là các từ nhân từ, ngay thẳng và đạo đức. Bởi vì tôi không thể buồn ngủ bằng bất cứ cách nào, tôi đã đọc cuốn sách  lịch sử đó rất đầy đủ vào hầu hết các tối và cuối cùng tôi bắt đầu hiểu được những gì được viết giữa các dòng, toàn bộ tập sách được lấp đầy với dòng chữ: ăn thịt người”.

LuXun, Kuangren riji[1].

Vào tháng 4 năm 1918, nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn công bố truyện ngắn Kuang-renriji (Nhật ký người điên-ND) và đoạn trích bên trên là lấy ra từ đó. Trong khi sự phê phán xã hội nói chung đưa ra bởi Lỗ Tấn được thảo luận rộng rãi bởi các nhà phê bình, điểm cốt yếu mà Lỗ Tấn tạo ra và là  thứ đôi khi được đánh bóng bởi các nhà phê bình là chuyện biện pháp khoa trương (tu từ) của việc viết sử Trung Quốc-thường tạo ra đặc trưng bằng “nhân từ”, “ngay thẳng” và “đạo đức”- làm mờ đi sự thật, rời xa khỏi các tư tưởng nhân văn nó đưa ra. Lỗ Tấn đã tiết lộ một cách sâu sắc sự đối lập giữa cơ chế của xã hội Trung Quốc và bộ dạng ở đó giới elite đã miêu tả xã hội trong việc viết sử Trung Quốc. Trong luận văn này, tôi sẽ mở rộng ý tưởng về “nguyên bản của lịch sử” qua việc kiểm chứng về các topoi viết sử được lợi dụng trong việc miêu tả biên giới Trung Quốc và mối quan hệ bên ngoài dưới thời Minh. Đặc biệt hơn, nghiên cứu này sẽ tập trung và phân thích về topoi, bao gồm sự tu từ hoa mĩ và hình ảnh, liên quan đến các chính thể và dân tộc trên và ngoài biên giới phía nam Trung Quốc từ thế kỉ 14 tới thế kỉ 17, chủ yếu bao gồm trong Minh thực lục (MSL).

Sự quan trọng của thuật tu từ hoa mĩ và hình ảnh được lợi dụng trong việc chép sử Trung Quốc, đặc biệt khi chúng liên quan đến nghiên cứu về biên giới Trung Quốc và mối quan hệ đối ngoại đã được công nhận ngày một nhiều trong vòng 30 năm qua. Vào những năm cuối 1960, Edward Schafer đã cung cấp cho chúng ta  một trong những nghiên cứu sớm nhất về hình ảnh Trung Quốc với tác phẩm The Vermilion Bird-thứ xem xét xem các nhà văn Trung Quốc vào thời Đường đã mô tả thế giới tự nhiên và các tộc người man sống ở phía nam thế giới văn hóa Trung Hoa.[2]Ấn phẩm vào lúc cùng như đồng thời gian, của John Fairbank là The Chinese World Order đã cung cấp vô số các tiểu luận thể hiện một cách thành công  truyền thống thuật tu từ hoa mĩ quan trọng thế nào trong luật lệ Trung Hoa truyền thống  và trong việc miêu tả Trung Quốc cũng như nước khác.[3]Trong tác phẩm này, Yang Lien-sheng đã viết về “trật tự thế giới lấy Trung Quốc làm trung tâm  là một huyền thoại được sao dự phòng ở nhiều giai đoạn khác nhau bởi sự thật ở nhiều cấp độ, đôi khi tiến đến thắng lợi”.[4] Tác  phẩm China Among Equal[5] bao gồm các nghiên cứu có giá trị về cả thuật tu từ hoa mĩ và hình ảnh được lợi dụng bởi các sử gia Trung Quốc trong việc miêu tả những người, chính thể không phải là người Trung Quốc. Ví dụ như bài viết của Wang Gungwu[6], nhấn mạnh sự quan trọng  của thuật tu từ hoa mĩ dành cho nhà Tống trong khi bài của Tao Jing-shen[7] giới thiệu một nghiên cứu về  hình ảnh tộc người ở phía bắc. Gần đây các bài báo được thu thập trong tập thứ nhất của loạt bài South China and Maritime Asia,[8] và một bài báo của Roderich Ptak[9]đã cung cấp sự phân tích sâu hơn về hình ảnh được sử dụng bởi người Trung Quốc trong việc vẽ chân dung những người nằm ở ngoài biên giới chính trị và văn hóa của Trung Quốc. Qua thời kì nhà Minh, nghệ thuật tu từ elite trong việc tôn kính Trung Quốc và mối quan hệ của nó với các dân tộc và chính thể ngoài Trung Quốc, như được phản ánh trong các cuốn sử chính thống của quốc gia, với mức độ thường xuyên đáng chú ý. Nhiều hình ảnh và nghệ thuật tu từ được tiếp tục sử dụng suốt vương triều, Topoi thứ bao gồm cả nghệt thuật tu từ và  các hình ảnh cung cấp cho chúng ta những công cụ hữu ích để xác minh “thế giới quan” thứ mà các sử gia Trung Hoa của thời kì này hoặc là có ý thức hoặc là vô thức  giới thiệu đến độc giả. Thứ “Thế giới quan” elite này cung cấp cái khung (cơ cấu) cho việc ghi nhận hệ thống cấp bậc của vũ trụ và mối quan hệ của Trung Quốc với những người không phải là người Trung Quốc. Nó cũng cung cấp cái khung trong đó những thế hệ sau của người Trung Quốc hiểu lịch sử mối quan hệ của quốc gia với những tộc người khác. Xác định những topoi đó trong các cuốn sử nhà Minh do đó là việc làm quan trọng để hiểu những gì các nhà viết sử Trung Quốc muốn vẽ và đổi lại sẽ hiểu được tại sao nó lại là quan trọng đối với văn hóa Trung Quốc và nhà nước Trung Quốc.

I. Topoi liên quan tới Trung Quốc và người Trung Quốc.

1. Chính thể Trung Hoa

Trong MSL, chính thể Minh-nhà nước- hiếm khi và nếu có  thì được giới thiệu như là có tính đúng đắn bẩm sinh hoặc có tất cả đặc điểm bẩm sinh. Trong khi “Đại Minh” như là  một thực thể được tạo ra rõ ràng bởi ý chí của Trời, và thực thi ý chí của trời, nó được mô tả trong lời kể của con người ở dạng thức hữu hình, thông qua hoàng đế.

2. Hoàng đế/triều đình

Hoàng đế với tư cách là người thay mặt trời. Như là hiện thân của nhà nước, sức mạnh hoàng đế bắt nguồn từ vị trí trời ban. Bằng việc nắm giữ vị trí hoàng đế, phận sự của ông ta, như nghệ thuật tu từ Trung Hoa đề cập, là giữ nắm giữ sự ủy thác của trời. Trời, MSL nhắc nhở chúng ta, là “luật và không ai dám vi phạm nó. Đạo của trời là tối thượng và đúng đắn tuyệt đối”[10]. Những hoàng đế tiếp theo do đó là những người thừa kế quyền cai trị, cùng với tước vị. Bất cứ hành động ra lệnh nào của hoàng đế cũng đúng và phải được thừa nhận tương tự như “đúng đắn tuyệt đối”.

Hoàng đế như là người bảo hộ cuộc sống. Một thuộc tính tu từ chủ yếu của hoàng đế là tình yêu đối với cuộc sống hay nói cụ thể hơn là tình yêu đối với tất cả sự sống. Năm 1405, hoàng đế Vĩnh Lạc đã nói : “ Ta là chúa tể của hạ giới và biểu lộ tình yêu đối với muôn loài”.[11] Tình cảm tương tự đã được lặp lại 150 năm sau bởi hoàng đế Jiajing khi ông ta viết rằng: “Ta bày tỏ sức mạnh của đức hạnh trong tình yêu mến muôn loài và dõi theo niềm ước mong thần dân sống trong hòa bình”[12]. Quan niệm này đã tạo nên  một phần nghệ thuật tu từ của triều đình Trung Quốc trong ít nhất là 2 ngàn năm nó được ghi nhận trong “Lời chỉ bảo của Đại Yu” từ Shujing cổ điển thứ mà hoàng đề thừa hưởng “đức hạnh yêu mến sự sống” (hao sheng zhi de).[13].

Sự chán ghét chiến tranh là một sự mở rộng hiển nhiên của đặc tính này của hoàng đế lý tưởng. Đáp lại yêu cầu của người bảo vệ Vân Nam năm 1438 yêu cầu phái quân đội chống lại Si Renfa, người cai trị chính thể Tai Mao được Trung Quốc biết tới như là Luchuan, hoàng đế Zhengtong đáp: “Ta biểu thị tình yêu thương của trời đối với muôn loài và ta biết rằng nếu quân đội triều đình được phái đi, thì sẽ không thể nào tránh khỏi làm hại người vô tội. Và nữa, trái tim ta sẽ không chịu nổi việc lấy họ đi khỏi cha mẹ vợ con”[14]. Bằng sự mở rộng này, bất cứ cuộc chiến tranh nào mà hoàng đế Trung Quốc quyết định đánh thì chắc chắn nó sẽ diễn ra. Sự nhân từ chung chung hơn được bày tỏ trong nhiều từ ngữ và hành động của hoàng đế và điều này thường được nhấn mạnh bởi việc vẽ chân dung hoàng đế khi có vị trí hào hiệp và cao thượng hơn đối lập với chính sách thô kệch của các quan thượng thư. Ví dụ, theo Bộ lễ kiến nghị thì triều cống đưa tới bởi Menggen (chính thể người Tai ở Kengtung) sẽ không được chấp nhận để trừng phạt sự “lừa đảo” của những người Menggen, hoàng đế đã đáp lại:  “Khi Man và Di đã có thể ăn năn và đến triều đình thì đó là điểu vui. Những việc trước  là không đủ để quở trách[15]”. Có vô số các tài liệu tham khảo khắp MSL nhắc đi nhắc lại lời tuyên bố hay sự minh họa cho lòng nhân từ của hoàng đế và mở rộng ra là của nhà nước Trung Quốc.

Hoàng đế như là người công bằng. Hoàng đế, hay triều đình nói chung, là người phân xử cho bất cứ người nào hoặc chính thể nào. Đáp lại các hành động được cho là không thích hợp của các vua người Việt, hoàng đế Vĩnh Lạc nói : “Sự công bằng và đúng đắn sẽ không tha thứ cho những hành động như thế”[16]. Ở đây  MSL đang vẽ ra hoàng đế Trung Hoa như là người sở hữu và là người phân xử những đặc tính tốt đẹp đó.

Thêm nữa, trong thế giới quan được mô tả bởi các cuốn sử Trung Quốc chính thống, sự nhân từ của hoàng đế, sự công bằng liêm chính không phải là những thứ có thể được biểu thị đối với các chính thể và nó bị từ chối. Hơn nữa các hoàng đế tiếp theo đã liên tục phát biểu mong muốn của họ là “đối xử công bằng” (yi shi tong ren) và không phân biệt đối xử. Ví dụ về điều này có thể được thấy vào các năm 1431[17], 1443[18], 1460[19]. Sự tu từ này đã mở rộng trong sự hiện diện của tạp chí Qui-shi của  Đảng cộng sản Trung Quốc tuyên bố năm 1992 rằng Trung Quốc “thực hiện chính sách đối với các nước bất kể lớn nhỏ, một cách công bằng”.[20]

 

(còn tiếp)


[1] Dịch từ “Nhật ký người điên” do William A. Leell, Jr., dịch trong Diary ò Madman and Other Stories (Honolulu: University of Hawaii Press, 1990)p. 32.

[2] Edward H. Schafer, The Vermillion Bird: T’ang Images of the South (Berkeley: University of California Press, 1967).

[3] John K. Fairbank (ed), The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge, Mass: Havard University Press, 1968).

[4] Yang Lien-sheng, “Historical Notes on the Chinese World Order” trong Fairbank, The Chinese World Order, p. 20.

[5] Morris Rossabi (ed), China Among Equals: The Middle Kingdom and Its Neighbors, 10th-14th centuries (Berkeley: University of California Press, 1933).

[6] Wang Gungwu, “ The Rhetoric of a Lesser Empire: Early Sung Relaitons with its Neighbors”, in Rossabi, China among Equals , trang 47-65.

[7] Tao Jing-shen, “Barbarians or Northemes: Northern Sung Images of the Khitans”, trong Rosabi, China Among Equals, p. 66-68.

[8] Denys Lombard và Roderich Ptak (eds), Asia Maritima: Images et realite: Bilder und wrrklichkeit, 1200-18-00, South China and Maritime Asia 1 (Wiesbaden: harrasssowitz Verlg, 1994).

[9] Roderich Ptak, “Images of Maritime Asia in Two Yuan Texts: Daoyi Zhilue and Yiyu zhi”, Journal of Sung-Yuan Studies 25 (1995), pp.47-75.

[10] MSL, Yingzong, j. 190, 12b-13a.

[11] MSL, Taizong, j. 44, 5b-6b.

[12] MSL, Shizong, j.268, 3a-b.

[13] James Legge (dịch), The Chinese Classics, 5 vols, (rpt, Taipei: SMC Publishing Inc., 1994), III, The Shoo King, p. 59

[14]  MSL, Yingzong, 43, 2b.

[15] MSL, Taizong, j. 86 3a.

[16] MSL, Taizong, j. 86, 3a.

[17] MSL, Taizong, j. 44, 5b-6b.

[18] MSL, Xuangzong, j. 76, 6b.

[19] MSL, Yingzong, j. 104, 3b-4a.

[20] MSL, Yingzong, j. 319, 4b.


Cũ hơn Mới hơn