Minh -Trung Quốc và Đông Nam Á trong thế kỉ XV : Một đánh giá mới (I)

Viện nghiên cứu Châu Á

Tập luận văn số 28.

 

Minh -Trung Quốc và Đông Nam Á trong thế kỉ XV : Một  đánh giá mới.

 

Tác giả: Geoff  Wade

Viện nghiên cứu châu Á

Đại học Quốc gia Singapore

arigpw@nus.edu.sg

Tháng 7/2004

 Nguyễn Quốc Vương dịch

 

Minh-Trung Quốc và Đông Nam Á trong thế kỉ 15: Một đánh giá mới.

 

 

Dẫn Nhập.

 

Vào đầu thế kỉ 14 ở Trung Quốc nhà Nguyên rơi vào tình trạng suy thoái trên cả phương diện quyền lực chính trị và sức mạnh quân sự. Tình trạng này đã mang đến cơ hội và sự khích lệ đối với nỗ lực tìm kiếm quyền lực hay đơn giản hơn là tự vệ của các đối thủ khác. Tình trạng quân phiệt hóa cao độ của xã hội Trung Hoa trong thời kỳ này đã tạo ra các cuộc chiến tranh giữa quý tộc Nguyên, các thủ lĩnh cát cứ địa phương, những kẻ buôn lậu và các cánh quân khởi nghĩa – thứ tạo nên bộ mặt của các thập kỉ tiếp theo. Vào trước những năm 1350, các cánh quân khởi nghĩa đã biến “Trung Quốc” nơi những kẻ thống trị nhà Nguyên kiểm soát thành nhiều nước và các nước này thôn tính lẫn nhau. Một thủ lĩnh quân khởi nghĩa tên là Chu Nguyên Chương (Zhu Yuan-zhang) cuối cùng đã có khả năng kiểu soát và mở rộng những vùng lãnh thổ rộng lớn và lập nên nhà nước Trung Quốc mới – nhà nước được ông ta gọi là Đại Minh. Bằng sự ra đời của kinh đô Nam Kinh (Nan-jing) năm 1368, Chu (Nguyên Chương) đã dựng nên một triều đại mới có quyền lực kéo dài đến tận năm 1644(1). Tuy nhiên ngay cả sau khi kinh đô Nam Kinh được xây dựng, quân đội nhà Minh vẫn phải đánh lại các lực lượng kình địch trong những trận chiến lớn. Trong một trận đánh như thế với Koko Temur – qúy tộc nhà Nguyên, quân Minh đã bắt sống 85.000 quân và 15.000 ngựa chiến. Tuy nhiên trước thời điểm đó, quân Minh cũng đã chiếm đóng thủ đô của quân Nguyên ở Dadu và đổi tên nó thành Bei-ping (Bắc Bình) và sự thống nhất quốc gia tiến triển thuận lợi.

Minh e ngại những người Mông Cổ – những kẻ đã bị đuổi ra khỏi Trung Quốc nhưng vẫn có ảnh hưởng lớn tới chính sách đối nội và đối ngoại ở những thế kỉ tiếp theo và nó cũng tạo nên cơn ớn lạnh của người sáng lập nhà Minh ở thủ đô cứ điểm cuối cùng(2). Sau khi đóng đô ở Nam Kinh, phong thái tử và hoàng hậu, đặt ra sáu bộ và chỉ định các quan chức quản lý chủ yếu, Chu Nguyên Chương đã ban hành bộ luật mới của nhà Minh. Tất cả những việc làm đó đã đặt nền tảng cho triều đại mới.

Trong những năm 1370, Chu Nguyên Chương đã mở rộng cơ cấu bộ máy nhà nước triều Minh và có lẽ một phần do đa nghi mà ông đã lập ra nhiều cung điện với số lượng hoạn quan ngày càng tăng đóng vai trò như những cố vấn tin cậy và can gián trong việc trị dân. Cơ cấu quản lý do ông tạo ra này được duy trì ở những bộ phận quan trọng tới những người kế nghiệp của vương triều. Cơ cấu triều đình và hệ thống quản lý này đã được bắt đầu và thực thi cả trong chính sách đối nội và đối ngoại của nhà Minh suốt 280 năm tiếp theo.

 

Chính sách đối ngoại của nhà Minh và Đông Nam Á

 

Như chúng ta thấy trong cả các tư liệu chữ Hán chính thức và không chính thức, những kẻ cầm quyền nhà Minh coi mình hoặc ít nhất cũng mô tả mình như những minh quân sáng suốt thay trời cai trị Trung Quốc và xa hơn là “toàn bộ hạ giới”. Điều này đòi hỏi rằng họ sẽ “cấp phong thái ấp” cho các “chư hầu” ở xung quanh – những kẻ sẽ phải “triều cống” Đại Minh. Và điều này đã tạo ra nền tảng của những nghi lễ hoa mĩ trong mối quan hệ với nhà Minh dựa trên sự kiểm soát hành chính tức thời(3).

Tuy nhiên không phải tất cả các nhà nước Đông Nam Á đều đồng ý với điều trên mà thậm chí vị trí đối lập của họ với Trung Quốc rất rõ ràng thể hiện ngay trong cả các văn bản chữ Hán. Ví dụ như vào giữa thế kỉ 15, Krung Phra Nakhon Sri Ayudhya, người đứng đầu nhà nước Ayudhya từ chối tuân theo lời yêu cầu cúi đầu về phía bắc để bày tỏ sự tôn kính hoàng đế nhà Minh của sứ thần nhà Minh và sứ thần nhà Minh đã bị “cô lập” và chết sau đó(4). Tuy nhiên bất chấp những ví dụ như thế, việc có được sự công nhận từ nhà Minh ngoài mặt đã trở thành quan trọng đối với một số người đứng đầu các nhà nước và nó đã đóng vai trò rất rõ ràng trong chính trị và kinh tế của Đông Nam Á trong khoảng thời gian này. Nhà Minh đóng vai trò như là đối trọng với các Hegemon (từ gốc Hy Lạp có nghĩa là đế chế hay nước có quyền lực lớn chi phối các nhà nước khác – chú thích của người dịch) khác như Majapahit và đưa ra chính sách nhắm tới cả mối quan hệ “triều cống” – thương mại với Trung Quốc và hệ thống an ninh đặc biệt. Sự tham dự vào hệ thống này được những người Việt (annals) chấp nhận không úp mở và nó được ghi chép lại ví dụ như vua Đại Việt đã từng “cầu phong” nhà Minh năm 1457(5).

Mối quan hệ giữa nhà Minh và Đông Nam Á cũng trở thành chủ đề chú ý của học thuật(6) và dựa trên cơ sở của những tác phẩm này cũng có một vài nghiên cứu tổng quát có thể giải quyết trước. Cũng cần phải nói ngay rằng đã có sự trao đổi sứ giả thường xuyên giữa nhà Minh Trung Quốc và các nước ở Đông Nam Á. Một trong những hành động đầu tiên của các vua Minh trong việc thể hiện quyền lực là phái sứ thần tới các nước khác để thông báo về sự lên ngôi của họ. Các sứ giả nhà Minh cũng có thể được phái tới các nước với những chức năng khác bao gồm “phong cấp” hoặc là tham dự lễ tang của ông vua nào đó. Những sứ giả này thường bị giám sát bí mật bởi rất nhiều cơ quan của Lục Khoa. Một vài ví dụ dưới đây cũng đủ nói lên chức năng của những phái đoàn nói trên (ít nhất là những gì được phát biểu ra ngoài).

 

1. Thăm viếng lễ tang của vua Champa năm 1452(7).

2. Thăm viếng lễ tang của vua Xiêm và “sắc phong” cho con trai ông ta năm 1453(8).

3.  Sắc phong cho vua Malacca năm 1459(9)

4. Sắc phong cho vua Annam năm 1460(10)

5. Sắc phong cho vua Champa năm 1478(11)

 

Một nhân tố chính khác trong sự tác động qua lại giữa nhà Minh và các nhà nước ở Đông Nam Á là “triều cống” – thứ được công nhận rộng rãi như là một nhân tố mạnh mẽ thúc đẩy mậu dịch. Nó đã trở thành chủ đề của hàng loạt các bài báo và có một danh sách các bài báo tuyệt vời, thứ có thể được dùng để  lần tìm  ra những phái bộ tới nhà Minh chí ít là của các nhà nước Hồi giáo ở Đông Nam Á trong phần lớn thế kỉ 15(12). Sự thiếu tập trung vào các phái bộ đó trong bài báo này sẽ là trách nhiệm của một số lượng lớn các nghiên cứu đã được tiến hành hơn là những chỉ dẫn về sự quan trọng tương đối của chúng.

Cho dù có ai đó hoài nghi các tư liệu chữ Hán phản ánh những gì xảy ra ở Đông Nam Á trong thế kỉ 15 hay ai đó cho rằng mối quan hệ  “sắc phong” và “triều cống” mà các tư liệu nhà Minh có viết chẳng qua cũng chỉ là sự trao đổi ngoại giao giữa những nhà nước đi nữa thì chúng tôi vẫn khẳng định chắc chắn rằng nhà Minh đã có sự can dự sâu sắc vào Đông Nam Á trong suốt thế kỉ.

Để biết được ảnh hưởng của nhà Minh đối với Đông Nam Á trong thế kỉ 15, có lẽ trước tiên chúng ta cần xem xét xem những chính sách nào được các vua kế tiếp của nhà Minh theo đuổi trong vùng.

Phần đầu của bài báo này sẽ nghiên cứu về niên đại của những chính sách đó và tiếp theo sẽ cố gắng tổng hợp các chính sách và hành động riêng lẻ sao cho mạch lạc để làm rõ xem nhà Minh và các cơ quan của nó đã tác động tới Đông Nam Á trong suốt thế kỉ như thế nào.

 

(còn tiếp)

Nguyễn Quốc Vương dịch



(1)  Để biết thêm chi tiết về  di sản để lại của nhà Nguyên và sự thành lập của nhà Minh xin xem F.W. Mote, Imperial China 900-1800, Cambridge Mass., Havard University Press, 1999, pp.517-583;  F.W.Mote, “The Rise of the Ming Dynasty 1330-1367” trong cuốn Cambride History of China.

(2)  Chu Nguyên Chương đã  kiểm soát Kai-feng, tên cũ của kinh đô Song (Song capital) và nơi sinh của Feng-Yang (Hao-zhou),  cũng như Trường An, kinh đô của Hán, Đường và các kinh đô tiềm năng khác. Tuy nhiên cuối cùng ông ta chọn Ying-tian (nay là Nam Kinh) có lẽ bởi vì nó cách xa  khu trung tâm của người Mông Cổ.

(3)  Có thể tham khảo một số luận văn của các học giả có tên tuổi của nước ngoài viết về mối quan hệ đối ngoại của các vương triều Trung Hoa như  J.K. Fairbank (biên soạn), The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations, Cambrige, Massachussetts, 1968; Moriss Rossabi (biên soạn) China Among Equals: The Middle Kingdom and Its Neighbors 10th-14thCenturies; and Mark Mancall (biên soạn), China at the Center: 300 Years of Foreign Policy(Transformation of Modern China series) New York, Free Press, 1984.

 

(4) Minh Hiến Tôn thực  lục (Ming  Xian-zong  shi-lu), quyển 229.4a và Vũ Tông thực  lục (Wu-zong shi-lu), quyển   2.19a.

(5) Chen Ching-ho, (Đại Việt Sử Kí toàn thư), Tokyo, 1985-86. Xem trang 635 và 641.

(6)  Các tác phẩm của Wang Gung Wu, J.V.G. Mills, Oliver Wolters, Roderich Ptak và Sun Laichen rất nổi tiếng trong lĩnh vực này bao gồm: “ The Opening of Relations between China and Malacca” trong cuốn do J.S Bastin và R. Roolvink  biên soạn có tên “Malayan and Indonesian Studies: Essays Presented to Sir Richard Winstedt, London, trang 87-104; “Early Ming relations with Southeast Asia: A Background Essay, In Fairbank, The Chinese World Order, “The First Three Rulers of Malacca” trong tạp chí Journal of the Royal Asiatic Society Malaysian Baranch, số 41 (1968) trang 11-12 và “China and Southeast Asia 1402-24@ trong J.Chen và N. Tarling ( biên soạn)  Social History of China and Southeast Asia, Cambride 1970, trang 375-402; J.V.G Mill’ Ma Huan, Ying-yai Sen-lan, “The Overall Survey of the Ocean’s Shores” (1433), Cambridge University Press for the Hakluyt Society, Extra Series No. XLII, 1970; bài “Chinese Navigators in Insulinde about A.D.1500” trong Archipel 18 (1979), trang 69-93; cuốn The Fall or Srivijaya in Malay History, Ithaca, Cornell University Press, 1970; các tiểu luận của Roderich Ptak tập hợp trong China and the Asian Seas: Trade, Travel, and Visions of the Other (1400-1750), Ashgate, ( tuyên tập nghiên cứu, 638), 1998 và  China’s Seaborne: Trade with South and Southeast Asia 1200-1750, Ashgate ( tuyển tập nghiên cứu, 640), 1999, Fei Hsin Hsing-cha’a sheng-lan: The overall Survey of the Star Raft do J.VG. Mill dịch, Roderich Ptak, Harrassowitz Verlag biên tập, chú thích, hiệu đính, Wiesbaden 1996; bài viết  “Chinese Military Technology and Dai Viet: c.1390-1497” trong cuốn Viet Nam: Borderless Histories do Nhung Tuyết Trần và Anthony Reid  biên soạn ( Madison, Wisconsin: University of Wisconsin Press); bài “ Military Technology Transfer from Ming China and the Emergence of Northern Mainland Southeast Asia (c.1390-1527) trong tạp chí Journal of Southeast Asian Sdudies số 34 ( tháng 10 năm 2003) và “Chinese Military Technology and Dai  Viet: c.1390-1497,  Luận văn điện tử của Viện Nghiên cứu Châu Á số 11 ( tháng 9 năm 2003), http://www.ari.nus.edu.sg/docs/wps/wps03_011.pdf

(7) Anh Tông thực lục (Ying-zong shi-lu), quyển  218. 1a.

(8) Anh Tông thực lục (Ying-zong shi-lu), quyển  225. 11a-b

(9) Anh Tông thực lục (Ying-zong shi-lu), quyển  306.5a-b

(10) Anh Tông thực lục (Ying-zong shi-lu), quyển  306.5a-b

(11) Hiến Tông thực lục (Xian-zong shi-lu),  quyển 181.2a-b.

(12)  Watanabe Hiroshi, “ An Idex of Embassies and Tribute Missions from Islamic Countries to Ming China (1368-1466) as Recorded in Ming shih-lu, Classified According to Geogaraphic Area” trong Memoirs of the Research Department of the Tokyo Bunko, số 33 (1975), trang 285-347.


Cũ hơn Mới hơn