Lịch sử và nhận thức lịch sử


 

Lịch sử (tiếng La tinh: Historia, Anh: History) là sự biến đổi theo thời gian của các sự vật và cũng  chỉ sự ghi chép hay văn kiện liên quan đến nó. Chủ yếu đối tượng của nó là quốc gia, văn minh hay xã hội con người và các ghi chép cũng thường tập trung vào những vấn đề này. Theo phân loại của Wilhelm Windelband thì  nó trái ngược với  đối tượng của khoa học tự nhiên có tính lặp lại-lịch sử không hề có tính lặp lại.

Ý nghĩa của Lịch sử.

“Lịch sử” ít nhất có hai nghĩa. Thứ nhất là  sự biến đổi của “vật” tồn tại trong hiện thực được diễn đạt khác đi và định nghĩa là “Lịch sử”. Tuy nhiên việc bảo tồn quá trình đó là không có và cuối cùng biến mất. Một ý nghĩa khác của lịch sử là chỉ kết quả ghi chép lại với đối tượng là sự biến chuyển đang dần biến mất đó tức là “ghi chép lịch sử”. Như vậy cái trước được gọi là “ nghĩa rộng: toàn thể các sự kiện”, cái thứ hai được gọi là “sách lịch sử”. Các nhà nghiên cứu đều có mong muốn nghiên cứu sâu lịch sử và dự đoán tương lai.

Khi phân tích, hệ thống hóa các đối tượng theo thời gian vốn được ghi chép, ghi lại thì “Lịch sử” được tạo thành. Một dân tộc thiểu số nào đó nếu không có ghi chép lịch sử còn lại dưới dạng chữ viết hay bất cứ dạng nào khác thì cho dù họ có tồn tại trong thực tế và tạo ra “lịch sử” đi chăng nữa nhưng hậu thế cho dù có đoán định rằng có sự tồn tại đó đi chăng nữa thì cũng không thể biết được sự biến chuyển của lịch sử. Và không chỉ có thể việc không còn lại dấu tích gì thì đương nhiên người ta cũng không hề biết luôn về sự tồn tại đó.

Và như thế “Lịch sử” được hậu thế nhận thức cần đến điều kiện tối thiểu là các mảnh vỡ của sự kiện có khả năng nhận thức hiện còn đang tồn tại. Điều này phụ thuộc đậm nhạt vào nhiều yếu tố như đối tượng, thời đại, khu vực trong trường hợp lịch sử dân tộc thì nó còn phụ thuộc vào mối quan tâm của họ đối với việc ghi chép lịch sử nữa.

Nhận thức lịch sử.

Nhận thức lịch sử “Lịch sử được nhận thức bởi hậu thế” không thể thoát khỏi sự nghi nghờ về tính khách quan. Cho dù là việc cấu trúc lịch sử từ những thông tin có tính vụn vặt (mảnh vỡ) có được từ việc phân tích các di tích phát quật khảo cổ học đi nữa thì do quá trình tuyển chọn, thu nhặt việc đưa vào quan điểm chủ quan là không thể phủ định và kết quả là việc giải thích nó sẽ có khi bao gồm cả mong muốn nữa.

Cả “ghi chép lịch sử” cũng không có khả năng ghi chép toàn bộ khuôn mặt nó chịu sự chi phối của tri thức, giá trị quan, bối cảnh thời đại, lực lượng của người chấp bút và nó trở thành hiện tượng được ghi chép qua bộ lọc và bóp méo sự thật. Edward Hallett Carr trong tác phẩm “ Lịch sử là gì” đã chỉ ra điều đó. Ở Nhật Bản có thể lấy ví dụ như sự viết lại nội dung kênh chữ trong sách giáo khoa theo sự thay đổi của thể chế chính trị và sự không thống nhất trong kiến giải đối với các quốc gia ở xung quanh hiện nay. Trần Thuấn Thần đã từng nói rằng “Lịch sử được viết bởi kẻ chiến thắng”, đặc biệt do trong chính sử được viết sao cho có lợi cho kẻ chiến thắng vì thế những ghi chép lịch sử của kẻ bại trận hay các sách lưu hành bí mật, các ghi chép trong chính sử bao gồm sự phản tỉnh hay bất lợi cho kẻ thắng thường có độ tin cậy cao hơn.

Từ nguyên

Lịch sử trong tiếng Nhật có nguồn gốc từ “Sử ký của Tư Mã Thiên”.  Cuốn sách “Thái sử công thư” do Tư Mã Thiên vốn là Thái sử lệnh ở thời Vũ Đế nhà Tiền Hán viết về sau được gọi là “Sử ký” và “sử” dần được dùng với nghĩa là lịch sử. Tư Mã Thiên đã ghi chép bằng khái niệm chính thống về sự biến đổi của hoàng đế từ Hoàng đế tới Hán Vũ Đế. Về sau “Sử” đã được biên tập một cách chính thống ở mỗi thời đại cổ đại Trung Quốc với tư cách như là sách nhấn mạnh tính chính thống, đúng đắn của hoàng đế. Khái niệm chính thống cũng ảnh hưởng tới các nước châu Á xung quanh và nó cũng trở thành động cơ để biên soạn sách “Nhật Bản thư kỉ”.

Vào thời Minh Trị người ta muốn dịch từ “history” nên đã lựa chọn từ “sử” có khái niệm gần giống như thế đẻ tạo ra thuật ngữ “Lịch sử”.

Historia, history

Từ gốc   tiếng Hi lạp từ “history” trong tiếng Anh và “histoire” trong tiếng Pháp có nghĩa là “tìm kiếm, học tập, biết được”. Trong tiếng Ạnh thì nó phái sinh ra nghĩa là “câu chuyện”  (story) cả trong tiếng Tây Ban Nha, Tiếng Pháp, Đức đều có nghĩa là “lịch sử” hay “câu chuyện”.

Ghi chép lịch sử

Ghi chép lịch sử khong phải ngay từ đầu đã diễn ra một cách bao quát. Trong ghi chép thì tất nhiên phải sử dụng văn tự nhưng trong thời cổ xa xưa thì nó được viết trên nhiều nguyên liệu như đất sét và đơn giản chỉ là danh sách người, chiến lợi phẩm… Và dần dần nó có thêm nội dung điều tra dân số, tên đất, tên người. Ở Ai cập cổ đại thì còn có ghi tên kẻ chỉ huy của địch hay địa danh sinh sống… Và dần dần về sau những ghi chép này cho dù không có chủ định là ghi “lịch sử” cũng đã trở thành các ghi chép lịch sử quan trọng.

Cảm giác về thời gian

Tại sao Trung Quốc có ghi chép nhiều về lịch sử mà các nước khác ví dụ như Ấn Độ không có mấy ghi chép về lịch sử cổ đại?

Có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có liên quan đến “cảm giác về thời gian”. Người Trung Quốc coi thời gian là đi theo đường thẳng trong khi người Ấn Độ coi thời gian là “đi vòng tròn” (theo đường tuần hoàn). Theo “Pháp điển Manu” thì một năm con người bằng một ngày của thần thánh và theo sự tuần hoàn của thời gian mà thế giới này sinh rồi diệt, diệt rồi sinh. Quan niệm này cùng với quan niệm về “nghiệp” và “luân hồi” đã dẫn đến quan niệm các sự kiện của thế giới con người chỉ là chớp mắt vì thế có lẽ người Ấn Độ không khám phá ra ý nghĩa của việc ghi chép hệ thống về các sự kiện của con người. Tuy nhiên không phải tất cả các nền văn minh có “cảm giác thời gian có tính tuần hoàn” đều không để lại các ghi chép lịch sử. Ví dụ như Hy Lạp cổ đại cũng có lý luận về thời gian tuần hoàn như Pitago nói: “và rồi có lẽ trong tương lai ta lại cầm cây gậy này mà dạy các ngươi”. Câu nói này thể hiện rằng Pitago cùng các đệ tử sinh ra trong vòng thời gian tuần hoàn và lặp lại cuộc đời như thế. 

 

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật . 

 

 


Cũ hơn Mới hơn