Hình ảnh quốc gia được vẽ nên trong sách giáo khoa lịch sử dùng cho trường trung học cơ sở và sự trần thuật lịch sử kinh nghiệm chủ nghĩa.


Tác giả: Julian Dierkes

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Nguồn: dịch từ chương 6 trong cuốn sách “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử” do Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

Nhà sử học George Wilson trong cuốn sách viết về  Duy Tân Minh trị của Nhật Bản công bố năm 1992 đã rút ra kết luận rằng ở Nhật Bản quan điểm lịch sử có tính trực tiếp trở thành chủ lưu, tuy nhiên đó không phải là quan điểm lịch sử tuân theo tư duy mục đích luận mà là sự nhấn mạnh tính liên tục của lịch sử từ thời tiền sử trở đi. Trong tiểu luận này thông qua sự trần thuật dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm theo thứ tự niên đại về sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử, sự biến đổi lịch sử của sách giáo khoa lịch sử dùng cho trường THCS chúng tôi sẽ  giới thiệu quá trình hình thành việc thể hiện quan điểm lịch sử trực tiếp và khái niệm thời gian như trên.
Ở đây lịch sử mang tính chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricist historiogaphy) dùng để chỉ thứ lịch sử lấy yếu tố căn bản là sự kể lại những việc có tính kinh nghiệm trong lịch sử như sự kiện, nơi diễn ra, thời gian diễn ra. Sự trần thuật lịch sử mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa là thứ có thể đem  so sánh với hai hình thức trần thuật lịch sử tiêu biểu của thế kỉ XX là  trần thuật mang tính phân tích và trần thuật mang tính quốc gia chủ nghĩa. Sự trần thuật mang tính quốc gia chủ nghĩa  giống như nhìn thấy trong sự trần thuật của sách giáo khoa Tây Đức suốt thập niên 50 thể hiện ở chỗ đưa ra và vẽ nên hình ảnh về lịch sử và sự vĩ đại của nước đó, những người lãnh đạo xuất sắc. Nhưng sự trần thuật mang tính phân tích  lại đặt trọng tâm vào việc thuyết minh nguyên nhân tàng ẩn trong sự triển khai của lịch sử. Phương pháp trần thuật phân tích này khởi đầu từ  sách giáo khoa của Đông-Tây Đức sau đó đã được công nhận ở nhiều khu vực trên thế giới. Tuy vậy, sách giáo khoa Nhật Bản lại chú trọng truyền đạt tri thức về các sự kiện theo thứ tự thời gian chứ không phải là sự lý giải nguyên nhân sự triển khai của lịch sử. Chúng tôi cho rằng sự trần thuật mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa ở Nhật Bản diễn ra ban đầu là do  lập trường cho rằng chính sách giáo dục hậu chiến nằm trong cơ cấu mang tính hệ thống của việc quyết định. Nói một cách cụ thể, do ngay sau khi chiến tranh kết thúc trong thời kì quân Đồng minh chiếm đóng GHQ đã sử dụng hệ thống quan liêu của Nhật Bản để làm nền tảng cho cải cách giáo dục nên trong quá trình quyết định chính sách giáo dục, các quan chức của Bộ giáo dục vẫn tiếp tục nắm thực quyền và nội dung chương trình đã nằm dưới sự quản lý hoàn toàn của những người này. Trong bối cảnh chống đối đề án cải cách giáo dục lịch sử của Mĩ và những người phái tả, đã diễn ra việc biên soạn sách giáo khoa mang tính trung lập với tiêu điểm là các sự thực có tính kinh nghiệm. Và như vậy do sự thiết lập các đề án cải cách giáo dục được dựa trên nền tảng là sự quản lý của Bộ giáo dục cho nên mặc dù sách giáo khoa liên tục được sửa đổi và các động thái chính trị muốn tác động tới việc quyết định chính sách văn hóa-giáo dục đã nhiều lần diễn ra nhưng trong sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản sự trần thuật lịch sử dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm vẫn tiếp tục trong một thời gian dài.

Bởi vì sự ghi chép về Châu Á-chiến tranh Thái Bình Dương của sách giáo khoa Nhật Bản dễ gây nên sự tranh cãi cho nên sau chiến tranh những nghiên cứu về điều này rất phát triển. Gần đây  trong cuốn sách nhận giải thưởng Pulitzer “Embracing Defeat” do  John Dower chủ biên rất nhiều nhà sử học Mĩ đã tái đánh giá về trách nhiệm chiến tranh của Nhật Bản khi làm chiến tranh lan rộng. Tuy nhiên,  các nhà sử học lại không hề quan tâm đến việc sách giáo khoa lịch sử chỉ đưa vào một bộ phận thông tin về Chiến tranh Châu Á-Thái Bình Dương trong lượng thông tin khổng lồ được đưa vào sách giáo khoa cho dù nó tạo nên ảnh hưởng lớn tới các nước xung quanh đồng thời cũng không quan tâm tới các vấn đề tổng quát như  kiểu kể theo niên biểu hay phương hướng biên soạn sách giáo khoa.

Kiểu trần thuật theo chủ nghĩa kinh nghiệm-một đặc trưng của sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản  là sự phát sinh tự nhiên từ cấu tạo quyền lực của bên trong tổ chức quốc gia của Nhật Bản vì vậy những vấn đề như nếu như biên soạn sách giáo khoa theo thủ pháp khác thì sẽ tạo nên thành quả như thế nào, nội dung chương trình giáo dục lịch sử của các nước ngoài ra sao trở thành những điều xa xôi.

Trong chương này, chúng tôi chọn sách giáo khoa lịch sử dành cho trung học cơ sở làm đại diện để bàn luận về kiểu trần thuật và tính phương hướng tổng thể của sách giáo khoa lịch sử bằng việc chỉ ra việc gi chép các sự thật cụ thể đã thay đổi như thế nào dưới các nghiên cứu tuân theo thứ tự thời gian. Tiếp theo, chúng tôi sẽ vừa làm rõ  các lý do tạo nên tính phương hướng và kiểu trần thuật này đồng thời tập trung vào các nguyên nhân có tính hệ thống khi xây cựng qua strinhf quyết định chính sách giáo dục, làm rõ mối quan tâm toàn thể của những người có liên quan đến sự quyết định chinh sách này. Thêm nữa tác giả trước đó cũng đã tiến hành điều tra xem hình ảnh quốc gia được vẽ như thế nào trong giáo dục lịch sử ở Tây Đức và Đông Đức vì vậy một phần kết quả của nó sẽ được sử dụng trong tiểu luận này.

2. Phân tích sách giáo khoa lịch sử

Trong giáo dục lịch sử ở trường THCS ở Nhật Bản để bàn luận về việc sách giáo khoa được tạo ra dựa trên quan điểm nào cần phải lựa chọn vật tiêu biểu là sách giáo khoa lịch sử dành cho THCS được biên soạn sau chiến tranh. Nói một cách cụ thể, trừ một bộ phận ngoại lệ tính cho đến năm 1955 cứ 5 năm một lần chúng tôi đã chọn từ danh sách các sách giáo khoa mà Bộ giáo dục kiểm định xong  cứ 3 quyển lấy một với tổng số 30 quyển. Về 9 cuốn sách xuất bản trước năm 1958 thì có 3 cuốn vẫn qua được vòng kiểm định sách giáo khoa ngay cả khi tính bắt buộc của bản Hướng dẫn học tập tăng lên sau năm 1958, ngoài ra chọn thêm 3 cuốn không qua kiểm định năm 1958. Về ba cuốn được xuất bản từ khi sự kiểm định được tăng cường sau năm 1958 thì  sử dụng các chỉ số của bản báo cáo về sách giáo khoa của Liên đoàn lao động xuất bản và cứ 5 năm lựa chọn lấy một quyển sách giáo khoa có số lượng bán chạy  nhất và chọn trong số sách có số lượng bán ra ngoài chiếm trên 10% thị phần một quyển,  số sách còn lại chọn một quyển.

Sử dụng các sách giáo khoa này chúng tôi sẽ điều tra xem trong phần ghi chép liên quan đến 6 chương hồi lịch sử nước Nhật đã được vẽ như thế nào và xem xem nó đã biến đổi như thế nào theo thời gian. Đối với từng chương hồi (episode) chúng tôi sẽ cân nhắc sao cho các thời đại không chồng lấn nhau và lựa chọn thứ có vai trò quan trọng với sự phát triển của nước Nhật. Bằng việc đưa ra nhiều chương hồi của nhiều thời kì khác nhau nhờ vào việc điều tra về Nhật Bản của cả những thời kì còn nhiều tranh luận chứ không phải chỉ là Nhật Bản của  những thời kì mà sự đánh giá về nó đã tương đối ổn định sẽ có khả năng khảo sát về sự ghi chép đã tạo nên tranh luận về lịch sử. Nói một cách cụ thể, chúng tôi sẽ đưa ra 6 giai đoạn có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ quá trình hình thành, phát triển quốc gia là “nguồn gốc quốc gia cổ đại”, “khởi nghĩa nông dân thời phong kiến”, “Xây dựng quốc dân, quốc gia thời cận đại”, “Sự thành lập chủ nghĩa dân chủ đảng phái đầu tiên”, “sự dẫn đầu của quân đội trong những năm 30-40”, “Tái xây dựng quốc dân quốc gia sau chiến tranh”.

Khi tiến hành phân tích sẽ sử dụng rất nhiều phương pháp như là đọc hiểu văn bản, tính toán thống kê số lần sử dụng thuật ngữ, phân tích văn phạm, sự thay đổi về thuật ngữ, nhân vật của từng giai đoạn. Sử dụng các phương pháp này chúng tôi sẽ điều tra xem nước Nhật được vẽ như thế nào trong sách giáo khoa lịch sử và nó thay đổi như thế nào trong một thời gian dài.

3. Hình ảnh quốc dân quốc gia Nhật Bản được vẽ trong phần ghi chép liên quan đến 6 giai đoạn lịch sử.

 

Trong sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản các sự thật lịch sử quan trọng được xếp theo thứ tự thời gian, và lịch sử được kể theo kiểu đứng từ lập trường trung lập có kèm theo sự thuyết minh. Tóm lại, nó vừa lấy trọng tâm là lịch sử quốc gia và mối giao lưu hai chiều giữa quốc gia với thế giới vừa đảm bảo kiểu kể theo hình thức biên niên. Vì vậy, trong bài viết chính của sách giáo khoa quan điểm kinh nghiệm chủ nghĩa được coi trọng và  con đường quốc gia phát triển từ thời cổ đại đến hiện đại được vẽ với tư cách là sự phát triển tự nhiên. Ngay cả trong trường hợp đưa ra những con người hành động với tư cách là tập thể hay là cá nhân thì động cơ của những hành động của họ cũng không được thuyết minh chi tiết, thêm nữa, khi có sự phức hợp thông tin đối với các sự kiện lịch sử nhất định thì cũng không có sự đưa ra đào sâu về tác dụng tương tác của các tình thế bối cảnh. Vì vậy, trong sách giáo khoa chủ yếu là lối viết trả lời cho câu hỏi “cái gì đã xảy ra ở đâu khi nào”.

Thông qua khoảng thời gian 50 năm sau chiến tranh với tư cách là đối tượng phân tích, việc hình ảnh quốc gia được vẽ trong sách giáo khoa lịch sử Nhạt Bản thay đổi là sự thực nhưng có thể nói sự thay đổi đó chỉ là tương đối. Việc các sự thật lịch sử được sắp xếp theo thứ tự thời gian chiếm áp đảo,  là hình thức chủ lưu không thay đổi và Bộ giáo dục vẫn nắm được nó thông qua bản Hướng dẫn học tập cùng  kì thi vào đại học.

1. Nguồn gốc quốc gia

 

Trước năm 1945 truyền thuyết ra đời đất nước từ Izanaginomikoto và Izanaminoikoto được coi là sự thật  lịch sử được quốc gia công nhận nhưng trong sách giáo khoa sau chiến tranh những nội dung dựa trên thần thoại  đã bị cắt bỏ khỏi các ghi chép liên quan đến cư dân cổ đại và nguồn gốc của Nhật Bản. Thay vào đó, tác giả sách giáo khoa mặc dù công nhận có nhiều thuyết khác nhau về nguồn gốc của dân tộc Nhật và ở đó thuyết nào chính xác vẫn còn chưa rõ nhưng  trong sự thuyết minh về nguồn gốc của quốc gia lại nhấn mạnh sự tồn tại liên tục của quốc gia quốc dân gọi là Nhật Bản trên lãnh thổ này suốt từ thời tiền sử đến nay. Trong sách giáo khoa từ sau thập niên 70 trở đi với tư cách là dữ liệu bổ sung nhằm minh chứng cho tính thống nhất liên tục này các căn cứ khảo cổ học được đưa vào đồng thời bằng việc sử dụng nhiều thuật ngữ địa lý học đã nhắm tới sự hợp lý hóa của sự thuyết minh về Nhật Bản thời tiền sử. Tuy nhiên, cho dù có ý đồ nhằm hợp lý hóa theo dòng chảy của thế giới thì sự tồn tại liên tục của quốc gia đã không được đưa ra thành vấn đề trong phần bài viết chính của sách giáo khoa và học sinh THCS là người đọc sách đã có cảm giác nhất thể với người Nhật Bản cổ đại và bằng việc đó mà đặt ra việc lấp đầy khoảng trống lịch sử lớn giữa thời cổ đại và hiện đại.

2. Khởi nghĩa Ikko (Ikko Ikki)

 

Về cuộc khởi nghĩa Ikko Ikki-sự phản kháng của tập thể môn sinh chùa Hongan-ji đối với lãnh chúa phong kiến, sách giáo khoa nào cũng đưa ra nội dung này ở khoảng từ trang 93  đến trang 105 và chiếm tới hơn nửa trang giấy. Nếu suy nghĩ từ việc số lượng sách vượt qua vòng kiểm định rất lớn và  sách giáo khoa cũng được sửa đổi định kì thì có thể thấy nội dung này đã được chú ý nhất đặc biệt. Bằng việc đưa ra “thông tư” của bộ trưởng bộ giáo dục về tính bắt buộc pháp lý của bản Hướng dẫn học tập năm 1958, tiêu chuẩn kiểm định sách giáo khoa đã trở nên nghiêm ngặt hơn và từ sau khi tăng cường kiểm định thì có 7, 8 sách giáo khoa được công nhận. Bên cạnh đó, do bộ giáo dục định kì cũng sửa đổi tiêu chuẩn kiểm định cho nên cứ 3 hoặc 5 năm sách giáo khoa lại sửa đổi một lần. Cho dẫu vậy, khi sửa đổi cách sử dụng từ hay cách diễn đạt có thay đổi nhưng  cơ cấu toàn thể thì không hề thay đổi. Và nữa, những chỗ được sửa đổi ở một lần sửa đổi thì khi so sánh với sách giáo khoa của Tây Đức thì thấy chúng được sửa nhiều hơn so với các lần thứ 2 và thứ 3.

Trong ghi chép về Ikko Ikki, sự thuyết minh về nguyên nhân người nông dân phản kháng lại lãnh chúa phong kiến không có, quan chức phụ trách kiểm định sách giáo khoa của bộ giáo dục thay cho việc cần có thuyết minh đó đã cho đỗ các cuốn sách giáo khoa cân nhắc tới việc cho học sinh tiếp xúc với các thuật ngữ liên quan đến Ikko Ikki đồng thời tạo ra mối liên quan giữa các thuật ngữ này với các niên hiệu hay ít nhất là các thời đại. Về việc thuyết minh khía cạnh tôn giáo của Ikko Ikki chiếm mức độ nào trên mặt giấy thì tùy theo bộ sách giáo khoa mà có sự khác biệt nhưng  khi coi nhẹ cách tiếp cận mang tính tôn giáo thì trọng tâm sẽ chuyển sang các vấn đề cá biệt và cho dù cuộc nổi dậy của nông dân về sau có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của lịch sử Nhật Bản và quốc gia thì đoạn văn đụng chạm đến nó gần như là không có. Giữa các nhà sử học xung quanh tầm quan trọng của  Ikko Ikki nổ ra trong quá trình hình thành xã hội phong kiến vẫn tồn tại tranh luận nhưng  cũng không thấy ở đây sự phản ánh tranh luận này mà chỉ có sự thuyết minh với nhận thức lịch sử dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm của hàng loạt các cuộc nổi dậy kéo dài từ cuối thế kỉ XV đến thế kỉ XVI. Sự sửa chữa liên quan đến quốc gia thế kỉ XV, XVI được thêm vào chỉ là thứ có giới hạn và không diễn ra sự sửa chữa  nhằm hợp lý hóa lịch sử  của quốc gia như đã nhìn thấy ở sự ghi chép liên quan đến nguồn gốc của quốc gia thời cổ đại. Trái lại còn không có cả chỗ nhấn mạnh những đặc trưng Nhật Bản xoay quanh chế độ phong kiến. Lý luận về phong kiến của Mác rất phổ biến ở các nhà sử học vì thấy việc đưa vào phần viết về đặc trưng phong kiến của Nhật Bản thay cho các niêu hiệu, thuật ngữ cũng không có gì là lạ nhưng thực tế lại không thấy.

3. Duy tân Minh Trị.

Có thể thấy sự thuyết minh về Minh Trị Duy tân vào cuối những năm 1860 trong biên soạn sách giáo khoa cũng đặt trọng tâm vào nhận thức lịch sử mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Trong thời đại này nếu như đưa ra chủ đề là “lịch sử các vĩ nhân” thì các yếu tố tạo nên chủ đề học tập sẽ là các nhân tài tuy nhiên Minh Trị Duy tân đã được vẽ chỉ với sự suy yếu của chế độ Mạc Phủ, cuộc cạnh tranh giữa các phe phái nằm nắm quyền lực chính quyền….Trong rất nhiều sách giáo khoa, sự thuyết minh liên quan đến Minh Trị Duy tân tập trung vào sự cận đại hóa nhưng trong bài viết chính thì lại không luận về ý nghĩa của cận đại hóa và cũng không thấy đưa ra phần ghi chép về thế lực xúc tiến khai quốc trong nước. Sự thuyết minh về công việc vĩ đại là kiến thiết quốc gia quốc dân cận đại và các nhà lãnh đạo anh hùng cũng không được đưa thêm vào phần ghi chép về Minh Trị Duy tân.

Ví dụ như, trong cuốn “Atarashi Shakai” (Tokyo Shoseki) xuất bản năm 1961, ở phần đầu đoạn văn nói về Minh Trị Duy tân có câu: “Tại sao Mạc Phủ Edo lại bị lật đổ?”. Trong phần bài viết chính thì có tiêu đề gợi ra kì vọng thuyết minh về nguyên nhân sụp đổ của Mạc phủ Tokugawa nhưng trên thực tế chỉ sắp xếp các sự kiện dẫn đến Duy tân theo thứ tự thời gian. Và tiếp ngay sau đó là câu hỏi “Từ sau khi Mạc phủ sụp đổ cho đến khi Nhật Bản cận đại ra đời đã diễn ra những bước đi nào” và tiếp theo là hàng loạt các sự kiện liên tiếp nhau. Cơ cấu trần thuật này là khuynh hướng có thể nhìn thấy ở nhiều nơi trên thế giới tức là nó đưa ra nhằm hợp lý hóa nguồn gốc của quốc gia và tương phản với khuynh hướng tạo ra sự thuyết minh mang tính phổ biến.

Nếu lấy ví dụ là Đức thì sách giáo khoa của Đông Đức sau chiến tranh và sách giáo khoa của Tây Đức sau thập niên 60 đều đánh giá tốt về sự tiến triển của thống nhất nước Đức thế kỉ XIX nhưng cũng luận về ý nghĩa của quốc gia đối với từng nhóm đã trở thành thành viên của nước Đức thống nhất. Sách giáo khoa Đông Đức dành phần lớn cho quá trình thống nhất nước Đức tiến hành bởi các địa chủ bảo thủ “tư sản hóa”. Sách đã thuyết minh về sự thành lập của quốc gia theo sự triển khai cơ cấu và khái niệm gọi là sức mạnh lịch sử Mác-xít tức là  các quý tộc phản kháng lại quá trình kiến thiết  nước cộng hòa do tư sản tiến hành nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp. Trái lại trong sự thuyết minh của sách giáo khoa Tây Đức lại nhấn mạnh sự thống nhất quốc gia với vai trò của nhân vật Bismark. Tuy nhiên từ thập niên 60 trở đi trong bối cảnh khoa học xã hội có địa vị ưu thế trong trào lưu học thuật đã xuất hiện khuynh hướng phân tích sự thành lập quốc gia Đức từ quan điểm hệ thống có tính xã hội học. Ví dụ như  sự chuyển đổi của trần thuật từ  việc kể về quyết đoán của cá nhân Bismark chuyển sang tangencó tên “thời đại của độc tài” và trích dẫn chính cương của hai đảng lớn đương thời. Trên cơ sở đó, sách giáo khoa đã vừa  trả lời các câu hỏi phức hợp về mục đích của Bismark khi thống nhất Đức và của hai đảng vừa khuyến khích học sinh so sánh.

Hãy quay trở lại câu chuyện về sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản. Khi suy ngẫm về phân kì lịch sử trong khi khái niệm hóa sự triển khai của lịch sử thì việc xác định Minh Trị Duy tân là sự kiện của thời đại nào là việc làm rất khó khăn và vào thập kỉ 60 các nhà sử học đã tranh luận gay gắt về vấn đề này nhưng trong sách giáo khoa không hề tìm thấy dấu vết gì của cuộc tranh luận này. Trong đó cũng có cả sách giáo khoa có thể coi là giải thích Minh Trị Duy tân từ quan điểm duy vật lịch sử (ví dụ “Lịch sử Nhật Bản của chúng ta”, Aiikusha, 1952, trang 66) nhưng sự thử nghiệm thêm vào phân tích sự kiện liên quan đến Minh Trị duy tân là ngoại lệ và có cảm giác nội dung còn thiếu sót. Từ định nghĩa về Minh Trị Duy tân được thể hiện trong sách giáo khoa cũng có thể thấy sự coi trọng các sự kiện được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Trong phần mở đầu của phần viết về Minh Trị Duy tân có một bộ phận  sách giáo khoa có đề cập với chủ đề lớn về tính cận đại, cận đại hóa nhưng phần lớn các sách giáo khoa bằng việc đưa ra các sự kiện như vương chính phục cổ, sự thành lập tân chính phủ sau khi Mạc phủ trao trả quyền lực cho thiên hoàng mà tiến hành định nghĩa Duy tân (ví dụ “Lịch sử Nhật Bản với thế giới”, Kyomizu Shoin, 1986, trang 201). Sự ghi chép của sách giáo khoa với kiểu ghi chép về sự phát triển của quốc gia từ lập trường mục đích chủ nghĩa kinh nghiệm đã được tiếp tục thay vì đưa ra vấn đề về các sự kiện và tiến hành phân tích.

4. Taisho Democracy

Sự ghi chép liên quan đến thời đại Taisho có hai đặc điểm. Thứ nhất, các sách giáo khoa cho đến thập niên 60 mặc dù có đề cập đến việc các tổ chức của giai cấp lao động như Ái hữu hội (Aiyukai) lãnh đạo nhưng về  cơ bản thì lấy trọng tâm là sự phát triển văn hóa ở thời đại này. Thứ hai là các sách giáo khoa về sau có mục đặt ra lấy tên là “Taisho Democracy” và đặt trọng tâm vào sự triển khai chính trị đầu thập niên 1920. Tuy nhiên, ở trường hợp nào cũng vậy đều không có sự thuyết minh về  con người và đặc điểm kinh nghiệm chủ nghĩa đã thấy ở phần Minh Trị Duy tân vẫn được giữ nguyên. Ví dụ như từ sự ghi chép về vụ Bạo động lúa gạo của thời kì Taisho trong việc biên soạn sách giáo khoa sự trần thuật lịch sử với các sự thật lịch sử được trình bày theo thời gian được coi trọng. Vụ bạo động lúa gạo vào những năm 1910 đều được đưa ra trong tất cả các sách giáo khoa và trong phần lớn các sách giáo khoa đều có viết về việc Harakei vốn là tổng tài của Seiyukai trở thành thủ tướng tiên phong của nội các chính đảng. Tóm lại mối liên hệ giữa vụ Bạo động lúa gạo và sự thành lập nội các Hara chỉ được đề cập tới một cách đơn giản và không hề có sự thuyết minh dưới dạng gọi là quan hệ nhân quả. Nguyên nhân vụ bạo động được đưa ra chỉ là sự tăng cao của giá gạo và không có sách giáo khoa nào đề cập đến sự liên quan với bối cảnh gia tăng thế lực của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trái ngược lại, phần lớn các cuốn sách giáo khoa đều đưa ra các yêu cầu cụ thể của bạo động và giới thiệu chi tiết tình hình bạo động ở một, hai đoạn văn. Thêm nữa, trong các sách giáo khoa này đều thuyết minh đối sách chủ yếu của chính phủ đối với bạo động là trấn áp (ví dụ như-“Tân Xã hội”, Nihon Shoseki, 1978, trang 258, trang 271 bản năm 1981-chính phủ đã sử dụng quân đội để trấn áp).

Trong phần chuyển sang chủ đề là sự lãnh đạo của quân đội và sự bùng nổ chiến tranh Châu Á-Thái Bình Dương, sách giáo khoa đã đưa ra sự nhấn mạnh tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế đối với Nhật Bản đồng thời không đưa ra sự thuyết minh về nguyên nhân cho phép sự lãnh đạo của quân đội trừ việc đưa ra các hành động của quân đội ở thời đại Taisho và đầu thời Showa. Trong phần ghi chép về sách giáo khoa Nhật Bản  không đưa vào tư duy phương pháp nhị phân được các tác giả sách giáo khoa Đông Đức sử dụng (giai cấp thống trị và sự phản kháng của giai cấp bị trị) nhưng cũng đưa ra các phong trào chính trị tạo nên sự khác biệt về đánh giá. Tuy nhiên không hề có phần thêm vào sự thuyết về bối cảnh sinh ra các phong trào chính trị đó, bản thân phong trào chính trị đó có ý nghĩa như thế nào. Một khi đưa ra sự lãnh đạo của quân đội dưới dạng một sự thật đơn giản thì không thể phủ nhận nguồn gốc của chiến tranh Châu Á-Thái Bình Dương là dưới thời Taisho nhưng rõ ràng là không sử dụng phương pháp kiểm chứng nguồn gốc của chiến tranh sử dụng cái nhìn phân tích cấu tạo xã hội được chỉ ra trong sách giáo khoa của Đức và là xu hướng trên thế giới.

5. Chiến tranh Châu Á-Thái Bình Dương

 

Từ sự ghi chép về chiến tranh châu Á-Thái Bình Dương  cũng có thể thấy rõ việc coi trọng sự trần thuật lịch sử  sắp xếp các sự thật lịch sử theo thứ tự thời gian. Trong sự thuyết minh của sách giáo khoa thì thay vì phân tích vai trò của quân đội Nhật trong việc theo đuổi chiến tranh ở châu Á-Thái Bình Dương  sách tập trung vào liệt kê các sự kiện trở thành điểm chuyển đổi về quân sự, chính trị từ 1930 đến 1940.

Trong phần ghi chép về chiến tranh Thái Bình Dương và những động thái trước đó chiến tranh đã được đưa ra như là kết quả tất yếu của tình hình nhất định. Tóm lại, sách viết rằng khủng hoảng kinh tế tấn công trong nước, ý thức cho rằng các nước trên thế giới liên kết lại để bao vây kinh tế Nhật Bản trong quốc dân dâng cao và việc giải quyết vấn đề kinh tế đã trở thành một nguyên nhân tạo ra tình huống  xách động chiến tranh ở châu Á do thế lực quân đội và thế lực chủ nghĩa siêu quốc gia tiến hành. Từ sau năm 1958 cũng vậy ở các sách giáo khoa phát hành trước đó giống như viết sự tấn công xâm lược đại lục của quân đội là “Sự biến Nhật-Hoa”, các thuật ngữ trong thời chiến được sử dụng nguyên thì trái ngược lại các sách giáo khoa về sau gọi là “chiến tranh Nhật-Thanh” và do vậy các trường hợp sử dụng thuật ngữ “chiến tranh Thái Bình Dương” với tư cách là một cuộc chiến tranh khác tăng lên. Tóm lại, trong các sách giáo khoa phát hành sau năm 1958 khi đề cập đến các tội ác mà  quân đội Nhật tiến hành trong chiến tranh, các thông tin chính xác hơn đã được cung cấp nhưng lại nhấn mạnh những nạn nhân của phía Nhật Bản đặc biệt là trong phần ghi chép về bom nguyên tử thì xu hướng này thấy rất rõ.

Các ghi chép về trách nhiệm chiến tranh hay ghi chép về chế độ kiểm soát tư tưởng quốc dân của chủ nghĩa quân phiệt thì không được công nhận và ở nơi đề cập đến cá nhân thủ tướng Tojo Hideki thì không đưa ra tên gọi cá nhân với tư cách là tội phạm chiến tranh mà là ghi chép làm cho người đọc hiểu đó là trách nhiệm làm xảy ra chiến tranh trong một tập đoàn không xác định.

6. Tái kiến thiết quốc dân quốc gia.

 

Trong phần ghi chép ngay sau khi chiến tranh kết thúc sách giáo khoa đã nhấn mạnh tới việc khởi đầu xây dựng nước Nhật Bản mới hướng tới phục hưng. Không chỉ có vai trò của quốc dân mà cả vai trò của chính phủ trong việc giải tán quân đội, công nhận sự thành lập của các công đoàn lao động và chính đảng dân chủ đều là mang tính thụ động khi tiếp nhận các khuyến cáo, chỉ thị của quân Đồng Minh mà chủ đạo là quân Mĩ. Về Hiến pháp Nhật Bản sau chiến tranh đã chỉ thuyết minh đó là thứ được chế định dựa trên đề án của Bộ chỉ huy quân Đồng minh mà không có sự tham gia của người dân. Các cải cách thời hậu chiến đã được giới thiệu chủ yếu dưới hình thức là biện pháp hay chính sách của hành chính và giới quan liêu.

4. Hình ảnh quốc gia được vẽ ra trong 6 nội dung lịch sử

Đặc trưng quan trọng và rõ ràng nhất về sự miêu tả quốc gia nhìn thấy trong sách giáo khoa Nhật Bản là kiểu trần thuật sắp xếp các sự thật lịch sử theo thứ tự thời gian. Nếu chú ý đến 4 sự kiện thời cận hiện đại (từ Duy tân Minh trị đến phục hưng sau chiến tranh) thì thứ được đặt trọng trâm trong ghi chép của sách giáo khoa là các sự kiện chính trị được sắp xếp theo thứ tự thời gian vì vậy mà tiêu điểm bị bó hẹp. Các sự việc  được dạy trong giáo dục lịch sử của Nhật Bản và Đông Đức đều được sắp xếp theo thứ tự thời gian nhưng trong sách giáo khoa lịch sử của Tây Đức thì từ thập niên 70 khuynh hướng cơ cấu các sự kiện theo chủ đề  đã xuất hiện và có sự thay đổi về cách kể lịch sử theo thứ tự thời gian.

Xu hướng hoát khỏi cơ cấu nghiêm ngặt theo thể biên niên của sách giáo khoa Tây Đức xuất hiện vào đầu thập niên 70 và cũng vào thời kì này sự chỉnh sửa chương trình của bang Hessen cũng được đề xướng. Nếu như chương trình này được sử dụng thì sự bãi bỏ phương pháp dạy học lịch sử theo thể biên niên có thể sẽ diễn ra ở cả cấp độ chương trình. Tuy nhiên, phương án này đã không được chấp nhận mà cuối cùng chương trình mới có vận dụng một số yếu tố không dựa trên thể biên niên được lựa chọn.

Sự xác lập của giáo dục lịch sử tuân theo chương trình của Hessen hầu như thoát ly khỏi cơ cấu theo thời gian đã không được thực thi nhưng ở Tây Đức vào thập niên 1980 các yếu tố trần thuật lịch sử không theo thứ tự thời gian đã được đưa vào sách giáo khoa. Sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản một mặt xuất hiện động thái có một phần được trần thuật theo cơ cấu tuân theo thời gian theo từng chủ đề và tách rời với bài viết chính nhưng sách giáo khoa Tây Đức lại có xu hướng tiến theo cơ cấu giáo khoa lấy trung tâm là các chủ đề. Trong xu hướng này ở Tây Đức quan điểm tiếp cận các chủ đề theo kiểu xuyên thời gian là viết riêng và đưa trực tiếp vào bài viết chính. Ví dụ như  vai trò của nông dân đã được đưa ra thật lớn trong thông sử. Sự du nhập các đơn vị học trình có cấu tạo xuyên thời gian với các chủ đề gần đây của chương trình nước Đức có thể thấy ở chương trình của bang Nordrhein-Westfalen như: “Lịch sử môi trường”, “Đạo Hồi với tư cách là văn hóa và thế lực chính trị”, “Do Thái giáo với tư cách là văn hóa và thế lực chính trị”, “di dân trong lịch sử”. Sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản không đưa vào cơ cấu từng chủ đề như thế này nhưng từ năm 1980 trở đi thì đưa vào lịch sử địa phương và đưa vào các phần viết thêm xuyên thời gian ở bên lề.

Tuy nhiên ở Nhật Bản phương pháp trần thuật lịch sử dựa trên thể biên niên chiếm địa vị chủ lưu vì vậy cả phần ghi chép về Ikko Ikki thì động cơ người chỉ huy đưa ra quyết định là gì đã không được làm rõ. Và nữa, động cơ quyết đoán cho dù được giới thiệu ở bên trong bài viết chính đi nữa thì cũng chỉ giới hạn ở động cơ cá nhân và động cơ này không được kiểm chứng từ cái nhìn lịch sử xã hội-lịch sử tinh thần. Ở điểm quan điểm quốc gia và tư tưởng về quốc gia được duy trì liên tục không được luận bàn, sự ghi chép của sách giáo khoa về về sự phát triển của quốc gia không phải là thứ tuân theo tư duy mang tính mục đích luận. Tuy nhiên, các ghi chép này thể hiện việc quốc sử được ghi trong sách giáo khoa có đặc trưng là quốc gia được vẽ như là một tổ chức mang tính tự nhiên đối với xã hội Nhật Bản, tức là quốc sử có đặc trưng là không có sự đề xướng vấn đề.

5. Một khảo sát về sự tái hình thành quốc dân quốc gia ở Nhật Bản

Tính phương hướng và việc bất biến của phương hướng đó xét ở tổng thể của sách giáo khoa có thể giải thích được hay không? Tháng 8 năm 1945 sau khi Nhật Bản tiếp nhận tuyên bố Postdam và chấp nhận đầu hàng vô điều kiện, quân Đồng minh chủ yếu là quân Mĩ đã chiếm đóng Nhật Bản.  Khác với Đức, quân Liên hợp quốc thực thi quân chính một cách thực chất thì ở Nhật Bản sự thống trị được thực thi một cách gián tiếp thông qua  qua hệ thống quan liêu của Nhật Bản. Kết quả là, sự thống trị của quan liêu dựa trên sự bảo trợ của nhà đương cục chiếm đóng được hợp pháp hóa và bộ giáo dục trong bối cảnh có các chống đối cải cách giáo dục theo kiểu Mĩ đã xây dựng được thể chế quyết định chính sách giáo dục ngay sau thời hậu chiến và dưới chế độ chiếm đóng mối quan tâm của giới quan liêu tới nội dung chương trình đã được hình thành.

Ở đây, cũng cần phải chỉ ra rằng giới quan liêu Nhật Bản đã không tiếp nhận sự cai trị chính trị nhiều lắm để tiến hành thực thi chính sách. Quả thật, trên cơ sở thảo luận với giới quan liêu việc xây dựng mục tiêu chính sách khái quát cũng có thể là do các chính khách nhưng phần lớn việc tác nghiệp thực thi các chính sách trên là do giới quan liêu. Gần đây John Dower và những người khác đã chỉ ra giới quan liêu Nhật Bản  là thực thể độc lập không tiếp nhận sự cai trị của các chính trị gia và đặc biệt ngay sau chiến tranh quyền lực của quan liêu rất lớn. Chalmers Johnson, viện trưởng viện nghiên cứu chính sách Nhật-Mĩ, trong tác phẩm “Bộ công nghiệp giao thông và con đường Nhật Bản” (TBS Furitanika xuất bản) đã phân tích vai trò xây dựng các đề án chính sách công nghiệp của Bộ giao thông công nghiệp đồng thời đưa ra các ví dụ thực tế để làm rõ quan liêu Nhật Bản là một thực thể độc lập. Thêm nữa, chúng tôi muốn đề cập thêm tới một điểm nữa liên quan tới chính sách giáo dục. Đó là chính quyền bảo thủ của quốc gia này, đặc biệt là chính quyền bảo thủ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã sử dụng các bộ trưởng không có mối liên hề gì với các chính đảng bảo thủ. Từ sự thực như vậy cho dù là thông thường  có thể thấy có trường hợp chính đảng không tạo ra được ảnh hưởng đối với bộ giáo dục tức là ảnh hưởng của chính trị đối với chính sách giáo dục không phải là tuyệt đối. Theo Dower  khi thương thuyết với nhà đương cục chiếm đóng,  giới quan liêu của bộ giáo dục đã cho rằng từ việc cải cách được xúc tiến ở trong và ngoài nước,  việc bảo vệ các yếu tố mang tính Nhật Bản là công việc của mình. Với tư cách là là cơ quan hành chính thực thi chính sách dựa trên lập trường trung lập với chính trị khi biên soạn sách giáo khoa bằng việc cắt bỏ các phần được coi là không thích hợp do nhà cầm quyền chiếm đóng chỉ ra, khuyến khích sự trần thuật lịch sử theo chủ nghĩa kinh nghiệm mà thực thi các chỉ thị, khuyến cáo mà nước Mĩ yêu cầu đối với cuộc cải cách nội dung giáo dục. Và như vậy trong sách giáo khoa lịch sử được hoàn thành không  đưa ra các mục vốn là yêu cầu của giới bảo thủ và phản động đối với những gì được đưa ra của các nhà hoạt động và một bộ phận các nhà sử học và có cảm giác đây là giáo tài không có chút mùi chính trị. Có thể nói giới quan liêu với lý do  bản thân không có liên quan gì đến chính trị  đã tiếp nhận sự thừa nhận của nhà đương cục chiếm đóng nhưng cũng dựa trên mối quan tâm về mục tiêu của bản thân mình mà có thể chế độ hóa sự trần thuật lịch sử bảo vệ quốc gia.

 

Ở đây cần lưu ý là kể cả bên ngoài việc biên soạn sách giáo khoa dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm vẫn có sự lựa chọn khác. Ngay khi sau khi kết thúc chiến tranh, nhà đương cục chiếm đóng đã chỉ thị phải chế tạo ra sách giáo khoa tiến bộ. Bên cạnh đó, không phải chỉ có Nikkyoso (Liên hiệp công đoàn nhà giáo Nhật Bản)  mà cả các nhà sử học cũng chủ trương Nhật phải trực tiếp công nhận các hành vi tàn bạo trong chiến tranh đồng thời phải làm rõ các thế lực ủng hộ sự trần thuật lịch sử dựa trên chủ nghĩa Mác và có rất đông người dân tán đồng một bộ phận chủ trương của họ. Mặt khác, khi nhìn sang phái hữu thì thấy các chính trị gia đưa ra yêu cầu chế tạo sách giáo khoa dựa trên  nhận thức lịch sử đánh giá tích cực lịch sử quốc gia chiếm số đông. Ví dụ như, vào năm 1958, thủ tướng đương thời Yoshida đã chủ trương việc giáo dục lòng yêu nước là cần thiết đồng thời thể hiện mong muốn phục hoạt giáo dục đạo đức trước chiến tranh nhưng do sự phản đối mạnh mẽ của Nikkyoso, đảng đối lập, truyền thông nên đã không thực hiện được.

 

Chính trong thời gian ngay sau chiến tranh, giới quan liêu đã phải chống lại một cách nghiêm túc nỗ lực cải cách của từng thế lực trong và ngoài nước như Mĩ nhưng vào tháng 4 năm 1952 do Hiệp định hòa bình San Francisco có hiệu lực  nên chủ quyền của Nhật Bản được hồi phục  và ảnh hưởng của Mĩ đối với cải cách giáo dục ở Nhật Bản yếu dần. Mặt khác, nỗ lực cải cách của Nikkyoso sau đó vẫn tiếp tục và đương nhiên trong thập niên 50 và cả thập niên 60 bộ giáo dục đã va chạm mạnh mẽ với Nikkyoso và sự đối lập giữa hai bên trở nên kéo dài. Tuy nhiên, về sau ảnh hưởng của Nikkyoso đã mất dần và kết cục là vào năm 1980 chức năng với tư cách là quan hệ đương sự không phát huy được và trong thời gian này thì  thông qua chế độ kiểm định sách giáo khoa phương châm chế tạo sách giáo khoa dựa trên nhận thức lịch sử mang tính chủ nghĩa kinh nghiệm đã được thực thi. Đồng thời, trong số các nhà chuyên môn lịch sử, ngay cả khi muốn tiến hành sự trần thuật lịch sử khác với phương phướng lịch sử chủ nghĩa kinh nghiệm mà chủ yếu là triển khải sự tranh cãi dựa trên quan điểm lịch sử của chủ nghĩa Mác thì  bản thân họ  bằng việc thực thi quyền quyết định nội dung chương trình mà mình nắm giữ đã bỏ quan các tranh luận như vậy.

 

Sự thống chế sách giáo khoa và chương trình sau chiến tranh của giới quan liêu là một yếu tố đưa ra sự trần thuận của sách giáo khoa vẽ nên quốc gia với tư cách là đối tượng phân tích. Cho đến năm 1958 khi  sự kiểm định sách giáo khoa được tăng cường vẫn có một bộ phận sách giáo khoa thuyết minh về nguyên nhân của các nội dung như Ikko Ikki, Minh Trị Duy tân nhưng về sau trong quá trình kiểm định các ghi chép như vậy đã bị cắt bỏ. Trong sách giáo khoa định nghĩa quốc dân và quốc gia không được chỉ ra và không có sự ghi chép về việc các cá nhân đặc biệt nào đó và bằng hành động của các cá nhân đó vận mệnh quốc gia được quyết định. Thay vào đó, tác giả sách giáo khoa đã tiếp nhận nhận thức lịch sử của giới quan liêu, và tái hiện lịch sử Nhật Bản  bằng các sự kiện theo thứ tự thời gian. Thêm nữa những người  tạo ra sự kiện với tư cách tập thể hoặc cá nhân nếu như loại bỏ đi mối quan tâm cá biệt thì trong sách giáo khoa hầu như không có trường hợp nào  thuyết minh về động cơ của người tiến hành hành vi. Gốc rễ của kiểu ghi chép giống như vậy là do nhận thức lịch sử kinh nghiệm chủ nghĩa coi trọng việc sắp đặt các “sự thực lịch sử” theo thứ tự thời gian.

Con người của thời đại tiền sử  hay Minh Trị Duy tân là những ví dụ tốt nhưng trong sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản cũng bao gồm các yếu tố giả thiết được giới thiệu trong các văn kiện liên quan đến lý luận người Nhật Bản lưu hành trong thập niên 70 và 80- đặc biệt là liên quan đến tính đồng chất nhân loại và quan hệ xã hội riêng biệt của Nhật Bản hay tập quán của Nhật Bản. Tuy nhiên, các yếu tố như thế này  không phải là là thứ được thêm vào từ áp lực của đại chúng và áp lực chính trị mà là yếu tố cấu thành sự trần thuật lịch sử dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm đực duy trì suốt thời hậu chiến.

Khi suy nghĩ về việc với tư cách là thứ thay cho sự trần thuật lịch sử dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm  sự trần thuật lịch sử dựa trên chủ nghĩa xã hội với trung tâm là thập niên 60 đã được đề xướng và từ thập niên 70 trở đi sự trần thuật lịch sử dựa trên chủ nghĩa quốc gia được đề xướng thì thấy rằng tính phương hướng cơ bản của hình ảnh quốc gia được vẽ trong sách giáo khoa được duy trì không hề thay đổi. Nhận thức lịch sử dựa trên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa quốc gia  không xâm nhập vào giáo dục lịch sử mà một bộ phận các vân đề lịch sử trở thành vấn đề tranh luận giữa dân chúng, các chính trị gia, học giả cũng không được đưa ra. Và thay vì đưa ra các vấn đề đó trong sách giáo khoa, sự ghi chép lịch sử mang tính trung lập đã được thực hiện.

Cuối cùng, chúng tôi muốn xem xét và so sánh ảnh hưởng của quá trình và cơ cấu quyết định chính sách tác động tới sự miêu tả quốc gia và hình thức trần thuật trong sách giáo khoa lịch sử ở Nhật Bản và Đông Đức.

Ở Đông Đức, bộ phận bên trên của Đảng Xã hội nắm trong tay quyền quyết định nội dung giáo dục. Các cán bộ của Đảng Xã hội  bằng việc chế độ hóa quá trình quyết định chính sách giáo dục trong thời gian bị Xô-viết chiếm đóng đã hình thành mối quan tâm tới Liên Xô và thế giới thứ hai (các nước Xã hội chủ nghĩa). Trong thời đại hậu Stalin khi các nước xã hội chủ nghĩa phụ thuộc vào Liên Xô chuyển sang xu hướng quan điểm lịch sử chủ nghĩa quốc gia cả bộ phận phía trên của Đảng Xã hội Đông Đức cũng bắt chước theo và từ cuối thập niên 70 tới thập niên 80 đã đưa ra lịch sử với trọng tâm là lịch sử của Phổ.

Các giáo viên của Tây Đức đã thành công trong việc tái cấu trúc chế độ quyết định chính sách giáo dục của nước cộng hòa Vây-ma và khi quyết định nội dung của chương trình,  các giáo viên với tư cách là nhà chuyên môn đã trở thành người nắm toàn quyền. Việc các giáo viên công nhận quyền này là do họ đứng trên lập trường là nhà nghiên cứu và các giáo viên  đã  vừa tuân theo sự biến đổi và phát triển của nghiên cứu học thuật đồng thời vào đầu thập niên 60 đã tiến hành công việc này trong thực tế một cách nhanh chóng. Giống như vậy, ở Nhật Bản và ở cả Đông Đức, Tây Đức tính phương hướng cơ bản của hình ảnh quốc gia được vẽ ra trong giáo dục lịch sử được quyết định bởi sự gắn kết các đặc trưng của hệ thống trong quá trình quyết định chính sách giáo dục. Và dạng thức trần thuật theo đó cũng thay đổi theo. Ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới đến nay thì dạng thức trần thuật  mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa được duy trì trong khi ở Đức thì sự biến đổi của hệ thống trong quá trình quyết định chính sách giáo dục đã đem tới sự biến đổi của dạng thức trần thuật.

Trong tiểu luận này việc phân tích cơ cấu mang tính hệ thống được chế định bởi chính sách giáo dục của Nhật Bản đã được coi là chìa khóa trọng yếu trên cơ sở thuyết minh về tính phương hướng toàn thể của sự trần thuật lịch sử trong sách giáo khoa. Việc quá trình quyết định chính sách giáo dục trở thành cơ cấu như thế nào đã quyết định các đoàn thể có liên quan đến quyết định chính sách giáo dục có mối quan tâm như thế nào. Và rồi bằng  việc gắn kết giữa chế độ quyết định chính sách và mối quan tâm của những người liên quan đến việc quyết định chính sách tính phương hướng cơ bản của hình ảnh quốc gia được vẽ nên đã được quyết định.


Cũ hơn Mới hơn