VẤN ĐỀ NÀO ẨN PHÍA SAU CHUYỆN ÉP PHỤ HUYNH MUA 23 CUỐN SÁCH VÀ TÀI LIỆU?



                                                                               Nguyễn Quốc Vương


Vụ việc một trường tiểu học phía nam ép phụ huynh phải mua SGK cùng nhiều sách tham khảo, vở bài tập khác nhau đẩy tổng số đầu tài liệu lên tới con số 23 và trị giá hơn 800 nghìn đồng đang được toàn xã hội quan tâm. Nếu xem xét kĩ thì những gì xoay quanh sự việc này và bản chất của vụ việc  đã nói lên rất nhiều điều, đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết để đảm bảo quyền lợi chính đáng của phụ huynh, học sinh và lành mạnh hóa môi trường giáo dục.


Một sai lầm chứa nhiều sai lầm

Luật giáo dục hiện hành tuy có những quy định chặt chẽ về sách giáo khoa như sách giáo khoa là gì, cơ quan nào biên soạn, phát hành nhưng không có quy định nào bắt buộc học sinh tới trường phải mua sách giáo khoa từ trường. Như vậy ta có thể hiểu học sinh có thể mua ở bất cứ đâu hoặc mượn sách giáo khoa để sử dụng miễn đó là bộ sách mà nhà trường đã lựa chọn và sử dụng theo quy chế mới gọi là “một chương trình nhiều sách giáo khoa”.

Phụ huynh cũng có thể mua bộ sách giáo khoa mình cần cho con ở bất cứ đâu không nhất thiết phải mua thông qua cô giáo chủ nhiệm lớp con mình học hay mua của nhà trường.
Chính vì vậy câu chuyện trường học nọ đưa cho phụ huynh một danh mục 23 tài liệu bao gồm cả sách giáo khoa, sách-vở bài tập và sách tham khảo mà không hề nói rõ đây là thông tin mang tính chất tham khảo là một sai phạm và cũng là một sai lầm về đường hướng giáo dục.

Có rất nhiều cái sai có thể chỉ ra ở đây.

Thứ nhất là trường học, giáo viên chủ nhiệm không có chức năng phát hành sách vì nếu làm chức năng phát hành sách thì phải hưởng thù lao. Nếu như vậy, thù lao chênh lệch hưởng chiết khấu từ công ty xuất bản, phát hành sách đó sẽ đi đâu, được chi như thế nào? Nó được nộp vào ngân sách nhà trường, ngân sách địa phương hay chia cho những cá nhân tham gia vào việc phát hành sách và nếu chia thì tỉ lệ là bao nhiêu, chia thế nào thì thỏa đáng, chính đáng?

Thứ hai, phụ huynh có quyền mua tất cả sách giáo khoa, đồ dùng học tập, sách bổ trợ, tham khảo cho con mình từ các cửa hàng sách, các công ty cung cấp thiết bị trường học mà không nhất thiết phải mua chúng qua trường hay giáo viên. Nếu như các phụ huynh muốn nhờ giáo viên, nhà trường mua hộ để cho tiện khỏi phải đi lại hoặc mua tập thể được hưởng chính sách ưu tiên nào đó thì đấy là sự thỏa thuận công bằng, dân chủ với sự đồng thuận từ hai phía chứ nhà trường hay giáo viên không được phép đơn phương áp dụng chính sách mua tập thể kiểu ép buộc hoặc gây áp lực mềm (cả lớp mua hết rồi tại sao chỉ có một hai cháu không chịu mua?)

Thứ ba, việc nhà trường đưa ra một danh sách yêu cầu phụ huynh mua mà không nêu rõ đâu là sách giáo khoa học sinh bắt buộc phải có, đâu là các tài liệu nhà trường giới thiệu, không nêu rõ nếu phụ huynh có nhu cầu thì có thể mua cho học sinh ở bất cứ đâu không nhất thiết là từ kênh của nhà trường cũng là sai. Đây có lẽ là cái sai làm cho phụ huynh và dư luận bức xúc nhất. Nếu như không có công luận lên tiếng, rất có thể học sinh sẽ phải mua rất nhiều thứ mà lẽ ra không cần thiết phải mua vì không phải học sinh nào cũng có nhu cầu và có thể mua lúc này, lúc khác ở những nơi khác thay vì phải mua một lúc vào ngay đầu năm khi gia đình phải chi trả nhiều khoản khác cho giáo dục. Hơn 800 nghìn đồng với gia đình này có thể rất nhỏ nhưng với gia đình khác khi có 2-3 đứa con đi học lại là rất lớn.


Câu chuyện của trường học nói trên có lẽ cũng là câu chuyện của nhiều trường khác trong đó có những nơi phụ huynh vì e ngại mà không lên tiếng. Trong mối quan hệ giữa nhà trường-phụ huynh, giáo viên-phụ huynh nhất là ở trường công, phụ huynh nói chung ở thế yếu. Nhiều phụ huynh biết rằng chuyện mua bán đó bất hợp lý nhưng lo ngại nếu mình lên tiếng hay phản đối thì mối quan hệ giữa giáo viên, nhà trường với con mình xấu đi mà con còn nhỏ quá nên bất lợi vì vậy mà đành im lặng nhắm mắt cho qua.


Không chỉ là phụ huynh, với cách thức phát hành sách tham khảo, các loại vở bài tập nhằm vào trường học với sự tác động, chỉ đạo  vô hình, hữu hình từ phía trên của các cơ quan hành chính giáo dục (vì nếu chỉ là từ phía trường, sẽ rất hiếm hiệu trưởng trường công nào dám cả gan tự ý làm chuyện đó), cả hiệu trưởng và giáo viên cũng phải chịu áp lực. Cho dù là lệnh miệng hay công văn gợi ý mang tính “giới thiệu”,  trong cơ chế hành chính giáo dục kiểu tập quyền cao độ từ trên xuống, không hiệu trưởng nào muốn làm mất lòng phòng, sở, không giáo viên nào lại muốn gây cho hiệu trưởng sự bực bội. Kết quả là họ phải “ngoan ngoãn” làm theo chỉ đạo hoặc gợi ý.

Những sai phạm và sai lầm cơ bản nhất trong vụ việc này là nằm ở cơ chế và cung cách làm việc của các cơ quan hành chính giáo dục. Muốn loại bỏ tận gốc vấn đề này thì phải có văn bản cấm các trường, sở, phòng tham gia vào chuyện phát hành sách, tài liệu tham khảo. Các cơ quan xuất bản, nhà xuất bản đều có thể giới thiệu đến trường học những cuốn sách tốt, sách hay của mình nhưng nhà trường hay các cơ quan giáo dục cùng lắm chỉ cung cấp, chuyển tiếp thông tin tới học sinh phụ huynh một cách công khai. Phụ huynh có quyền lựa chọn mua hay không mua và mua ở đâu.  Nếu không làm được điều này, mọi chuyện sẽ vẫn tiếp diễn. Việc ngăn chặn kiểu “tiếp thị đen” này còn góp phần lành mạnh hóa môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng sách và ngăn chặn, phòng chống tham nhũng trong giáo dục.

23 tài liệu là nhiều hay ít và con số đó nói lên điều gì?

Nhân sự vụ này, trong số những ý kiến do dư luận đặt ra đối với trường học và những người có trách nhiệm có câu hỏi “đối với học sinh mới vào lớp 1thì  23 cuốn sách, tài liệu có phải là quá nhiều?”.

Ý kiến cho rằng số lượng tài liệu, sách vở như vậy là quá nhiều làm quá tải học sinh được nhiều người đồng tình. Ý kiến đó vừa chứa đựng sự có lý vừa có hàm ý chưa thỏa đáng. Học sinh lớp 1 là lớp đầu tiên của tiểu học thể chất vẫn non nớt, đọc và viết chưa thạo vì vậy các nhà làm sách, các nhà giáo dục phải cân nhắc khi biên soạn sách, nội dung giáo dục, thực hiện các hoạt động giáo dục để đảm bảo an toàn, phù hợp là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, nếu nhìn vào nội dung các cuốn sách giáo khoa và sách bổ trợ, vở bài tập bán cho học sinh nói trên và so sánh với tài liệu, sách dành cho học sinh ở các nước tiên tiến thì ta thấy vấn đề không chỉ nằm ở số lượng 23 cuốn. Vấn đề là các nội dung trong các cuốn sách tham khảo, vở bài tập đó thực chất cũng chỉ là sự minh họa, diễn giải, giải thích nội dung trong sách giáo khoa. Nói đúng hơn nó chỉ là sự “nối dài” và “minh họa” cho nội dung sách giáo khoa mà thôi. Vì thế 23 cuốn là quá nhiều. Nếu ai từng tiếp xúc với giáo dục các nước tiên tiến sẽ thấy giáo dục chỉ chăm chăm vào việc lý giải sách giáo khoa là giáo dục rất lạc hậu.
Người thầy giỏi, người thầy đúng nghĩa là người thầy hướng dẫn học sinh tiếp cận chân lý bằng nhiều cách thức, phương pháp, thông qua các trải nghiệm và hoạt đông phong phú trong đó có sử dụng sách giáo khoa chứ không phải là dạy học sinh SGK (coi nội dung SGK là nội dung giáo dục cần truyền đạt và bắt học sinh ghi nhớ). Vì thế một nội dung sgk đem diễn giải ra nhiều tài liệu khác nhau để học sinh học đi học lại vừa lãng phí vừa phản giáo dục.

Thông thường, ở nước ngoài, danh sách sách giới thiệu cho học sinh mà giáo viên đưa ra cho học sinh trong một năm học rất dài. Cho dù là lớp 1 đi nữa thì nó cũng sẽ không phải là 23 cuốn mà có thể nhiều hơn nữa. Nhưng hãy lưu ý một điều tất cả những sách đó là những sách đọc thêm thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều chủ đề với mục đích là phát triển bản thân học sinh, mở rộng kiến thức trong sách giáo khoa hay đào sâu một vấn đề, thông tin nào đó được đề cập trong sách giáo khoa. Nói một cách đơn giản đó là những cuốn sách để học sinh “Đọc sách” thực sự chứ không phải là để “làm bài tập”. Giáo viên, nhà trường chỉ nêu ra tên sách, tên tác giả, tên nhà xuất bản các cuốn sách đo để phụ huynh, học sinh biết mà tìm kiếm rồi mượn ở thư viện nhà trường (nơi có rất nhiều sách), thư viện công và thư viện trẻ em (ở Nhật nơi tôi học hầu như thành phố nào cũng có thư viện phục vụ riêng cho trẻ em). Trong lối học đó, học luôn gắn liền với đọc sách kiểu khai phóng chứ không thuần túy là đọc sgk và làm bài tập như ta đang thấy. Có thể tham khảo thông tin có liên quan dưới đây về một thư viện của một trường tiểu học Nhật Bản để thấy triết lý học tập và cách làm của họ. Các số liệu về thư viện trường này được công bố trong cuộc điều tra năm 2009 của Đại học Okayama tiến hành dưới sự ủy thác của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản, sau đó được đăng tải trong “Sổ tay sử dụng thư viện trường học” xuất bản năm 2010.

Trường tiểu học này được cấp 1 triệu yên (khoảng hơn 200 triệu đồng)/năm để mua sách mới. Trong thư viện hiện có 6.856 cuốn sách phục vụ cho 70 học sinh và 16 giáo viên, nhân viên. Số sách mượn trong năm 2009 (năm điều tra) là 3.663 cuốn. Nếu tính trung bình bằng phép chia lấy 3.663 cuốn sách được mượn chia cho 86 giáo viên, học sinh ta sẽ được con số 42, 59 cuốn. Nghĩa là mỗi giáo viên (học sinh) trung bình đã mượn gần 43 cuốn sách trong năm qua. Một con số mà người Việt chúng ta, trường học chúng ta còn đang mơ ước. Nên nhớ rằng đây chỉ là một trường tiểu học bất kì được lựa chọn nằm trong cuộc điều tra (vì là điều tra nên khi công bố, tên trường đã bị ẩn đi) chứ không phải là một trường tiêu biểu hay xuất sắc. Số tiền đầu tư mua sách, số sách có trong thư viện và số sách được mượn trong một năm nói trên đã nói lên triết lý, nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục của họ.
Nếu ta tiến hành giáo dục loanh quanh với sách giáo khoa và bài tập diễn giải nội dung của sách giáo khoa, ta lấy đâu ra cơ sở để cạnh tranh với họ trong cuộc đua toàn cầu?

Vì vậy, vấn đề đặt ra trong câu chuyện 23 đầu sách-tài liệu nói trên không phải là nhiều ít mà là tính chính đáng của việc nhà trường ép phụ huynh mua và nội dung-ý nghĩa thực sự của chúng.

Nếu nhà trường giới thiệu một danh mục các cuốn sách để học sinh đọc tham khảo, mở rộng nội dung học tập và phát triển bản thân xuyên suốt năm học hay cả cấp học để học sinh , phụ huynh tìm mượn hoặc mua tùy ý ở đâu đó thì câu chuyện sẽ khác.

Ở nước Nhật, cả nhà trường, giáo viên, Hiệp hội thư viện trường học và các tổ chức NPO, tổ chức khuyến đọc đều làm điều này. Họ định kì đưa ra các danh mục sách khuyến đọc dành cho từng nhóm đối tượng học sinh (thường theo khối lớp), gửi tới nhà trường, phụ huynh để giáo viên, phụ huynh hướng dẫn học sinh tìm đọc, mượn đọc.

Cách thức “Tiếp thị” sách như trên đã tạo ra những yếu tố thuận lợi thúc đẩy giáo dục, đọc sách phát triển và đảm bảo công bằng cho tất cả các công ty làm sách, khuyến khích họ làm ra những cuốn sách ngày một tốt hơn.
Thay vì “đi đêm”, “vận động hành lang cơ quan quản lý” họ sẽ phải đầu tư cho phát triển sản phẩm và ưu đãi tác giả để tìm được tác giả tốt.

Sự việc ép phụ huynh mua sách giáo khoa và tài liệu tham khảo nói trên là một dấu hiệu nói lên rất nhiều vấn đề của giáo dục nước ta hiện tại trong đó có những vấn đề rất lớn như triết lý, phương pháp giáo dục và cơ chế hành chính giáo dục.
Muốn hạn chế tối đa những chuyện lùm xùm, không chính đáng thậm chí phạm luật tương tự, cần phải sửa cả những vấn đề vĩ mô đó thay vì chỉ xử lí những cá nhân cụ thể.

 

 (Bài đã đăng trên Zing.vn)

 



 




 


Cũ hơn Mới hơn