Tại sao nên bỏ thi tốt nghiệp THPT?


Nguyễn Quốc Vương

Trong bối cảnh học sinh cả nước phải tạm dừng đến trường để tránh dịch covid-19 và thời điểm tiến hành kì thi THPT quốc gia đang đến gần, truyền thông đã nêu ra nhiều ý kiến thảo luận về việc có nên hoãn kì thi THPT quốc gia năm nay hoặc tổ chức bằng hình thức nào đó hợp lý hơn cho phù hợp với tình hình thực tế. Trước những diễn biến đó, thứ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Nguyễn Hữu Độ trong cuộc họp báo chiều ngày 10/4 cho biết khả năng sẽ vẫn tiến hành kỳ thi THPT quốc gia như dự kiến nếu dịch bệnh được khống chế và học sinh có thể đi học trở lại vào ngày 15/6.


Tuy nhiên, tôi cho rằng, không chỉ nên hoãn kì thi THPT quốc gia năm nay mà để giúp giáo dục phổ thông tiến lên, đi vào thực chất cần phải bỏ luôn kỳ thi tốt nghiệp THPT vĩnh viễn. Kỳ thi THPT quốc gia được bắt đầu từ năm 2015 trên cơ sở ghép hai kỳ thi vốn tách rời trước đó là thi tốt nghiệp THPT và thi đại học. Tuy nhiên, trên thực tế, khi tiến hành ghép hai kì thi vốn có chức năng khác nhau này làm một đã xảy ra rất nhiều hệ lụy. Xuất phát từ tình hình thực tế, nhà nước cần mạnh dạn bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT, một kì thi không còn ý nghĩa tồn tại nữa. Nếu vướng mắc về cơ sở pháp lý thì cần phải tiến hành các thủ tục cần thiết thậm chí là sửa luật Giáo dục. Những lý do để bỏ thi tốt nghiệp THPT có thể nêu ra như dưới đây.


Thứ nhất, tấm bằng “tốt nghiệp THPT” không còn có ý nghĩa đặc biệt nữa trong xã hội ngày nay nữa. Nhìn vào lịch sử ta sẽ thấy giáo dục cận đại ở Việt Nam hình thành muộn dưới thời Pháp thuộc. Việc có được tấm bằng tốt nghiệp giáo dục phổ thông vốn là một điều không dễ dàng đối với đông đảo người Việt. Bởi thế trong một thời gian dài, ngay cả sau khi đất nước thống nhất sau 1975 và đổi mới, tấm bằng tốt nghiệp THPT vẫn là một “tấm thẻ vào đời” quý giá. Có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, người ta có thể vào học các trường khác nhau để trở thành người làm nghề chuyên nghiệp, trở thành cán bộ viên chức nhà nước, trở thành lãnh đạo. Trong bối cảnh xã hội lúc đó, tấm bằng tốt nghiệp THPT rất có giá trị. Nếu nhìn vào lý lịch học vấn của rất nhiều cán bộ, viên chức nhà nước đã từng trưởng thành trong giai đoạn đó ta sẽ thấy có những người khởi đầu chỉ có tấm bằng tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở (hoặc các hệ tương đương). Sau này, khi có điều kiện họ mới học cao dần lên để hoàn thiện chương trình cao đẳng, đại học, thậm chí cao học. Truyền thông đại chúng đôi khi đưa tin những vụ cán bộ, lãnh đạo địa phương bị kỉ luật vì dùng văn bằng giả đặc biệt là bằng THPT đã nói lên thực tế đó. Chính vì có giá trị như vậy nên kì thi tốt nghiệp THPT trở nên rất quan trọng đối với cả quốc gia và học sinh cả nước.


Còn ngày nay thì sao? Cùng với sự tăng trưởng của kinh tế đất nước sau khi thực hiện chính sách đổi mới năm 1986, hệ thống giáo dục quốc dân trên cả nước từng bước hoàn thiện và tăng cường chức năng. Từ phổ cập giáo dục tiểu học, Việt Nam đã tiến tới phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lên học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở học lên trung học phổ thông ngày càng cao và cùng với nó là tỷ lệ gia tăng của các học sinh tốt nghiệp THPT vào học đại học. Cho dù muộn hơn một số nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cũng đã bước vào thời kì “Đại chúng hóa đại học”. Hệ thống đại học tư ra đời và ngày một phát triển cùng với sự mở rộng quy mô và đa dạng hóa ngành nghề đào tạo của các trường đại học công lập đã làm cho “giấc mơ học đại học” của thanh niên trở nên hiện thực hơn bao giờ hết. Vào đại học (trừ các đại học thuộc diện khó vào và tuyển sinh yêu cầu gắt gao) không còn là một chuyện gì đó khó khăn hay ghê gớm nữa. Và tất nhiên, đi kèm với nó, việc tốt nghiệp đại học và có tấm bằng đại học cũng không còn là chuyện hiếm hay khó khăn. Chính vì vậy, ý nghĩa của việc sở hữu một tấm bằng THPT đã thu hẹp và giảm nhẹ rất nhiều. Trên thực tế nó được hiểu là một điều kiện tối thiểu cần có để cá nhân nộp hồ sơ thi tuyển vào các trường ở bậc học cao hơn. Ý nghĩa “tiến thân” của nó hay sự “tinh hoa” của nó so với mặt bằng chung của xã hội không còn nữa. Logic tất yếu của nó sẽ dẫn đến việc xã hội sẽ coi những học sinh đã học 12 năm học phổ thông trở thành người đủ tư cách tốt nghiệp THPT, nghĩa là việc dùng một kì thi quốc gia để sát hạch và cấp cho học sinh một tấm bằng tốt không còn cần thiết.


Thứ hai, việc tiếp tục tổ chức kì thi THPT quốc gia kết hợp hai trong một như đang làm gây khó cho công tác tổ chức. Tuy rằng việc ghép hai làm một và tổ chức đồng loạt trên cả nước giúp cho các đô thị “giảm nhiệt” trong kì thi tuyển sinh đại học và đỡ cho phụ huynh, thí sinh phải đổ về thành phố dự thi. Tuy nhiên, khi tổ chức các kì thi ở địa phương, chấm thi tại địa phương và ghép hai kì thi với tính chất, chức năng khác nhau làm một đã tạo ra kẽ hở cho nảy sinh tiêu cực, gian lận và làm khó những người làm công tác thi. Kì thi tốt nghiệp có chức năng là kiểm tra kiến thức cơ bản của học sinh để công nhận tốt nghiệp trong khi thi đại học là tìm ra những thí sinh có năng lực trí tuệ phù hợp với ngành học, trường học mà thí sinh đăng kí. Cho dù người ra đề có cân nhắc để tính toán, phân bố các vấn đề các bài trong đề thi một cách hợp lý để phân hóa thí sinh đi chăng nữa thì nó cũng tạo ra một cái khó trong công tác coi thi, chấm thi. Những sai phạm nghiên trọng của các địa phương như Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 đã cho thấy điều đó. Cho dù không tán thành chuyện gian lận ở bất cứ hình thức nào tôi vẫn phải dẫn ra một thực tế rằng đối với thi tốt nghiệp, cán bộ coi thi ít nhiều sẽ có tâm lý thoải mái và lơi lỏng hơn so với thi tuyển sinh đại học. Chính vì vậy mà khi ghép hai vào một và tổ chức ở các địa phương, sự hòa trộn tâm lý nương nhẹ đó sẽ tạo ra một kẽ hở. Hơn nữa, thành thật mà nói, mấy ai tin rằng trong khi tình trạng “ngồi nhầm lớp” diễn ra phổ biến ở khắp nơi, tình trạng học lệch cũng tương tự mà tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp của ta lại rất cao (năm 2019 là 94,6%) là một sự hợp lý? Sẽ giải thích thế nào khi tỉ lệ tốt nghiệp xuống rất thấp khi thực hiện triệt để “hai không” như đã thấy? Tại sao khi thực hiện quyết liệt chống tiêu cực, gian lận trong giáo dục lại nổi lên những vụ việc như ở THPT Đồi Ngô, THPT Phú Xuyên A? Có chăng tồn tại một thực tế rằng việc bắt buộc thi tốt nghiệp THPT đã không làm cho giáo viên, học sinh học tốt lên mà để có thành tích, để đối phó, cả giáo viên và học sinh, thậm chí cả cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ làm công tác thi đã phải dùng đến các “thủ đoạn” để đối phó? Nếu muốn duy trì kì thi tốt nghiệp THPT như là một điều kiện để xét tốt nghiệp quan trọng và thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục thì liệu ngành giáo dục có dám làm nghiêm túc như đã từng làm “hai không” và dám đánh trượt tới lần thứ 2, lần thứ 3 các thí sinh không đạt điểm trong kì thi này? Trên thực tế việc để một học sinh có điểm thi tốt nghiệp dưới trung bình có thể cải thiện học lực để thi tốt hơn ở các lần sau (trên thực tế hầu như không có thí sinh nào trượt tốt nghiệp THPT đến lần thứ hai) không phải chuyện đơn giản. Và một khi không dám làm như vậy, thì có phải chăng bề ngoài thì tiến hành kì thi với lý do đảm bảo chất lượng nhưng thực chất, trong thực tế thì nó lại thúc đẩy bệnh thành tích, bệnh hình thức và buộc nhiều người phải dùng thủ đoạn để vượt qua?

Thứ ba, việc xét tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ dựa vào các môn thi được quy định như hiện tại là bất hợp lý. Trong luật giáo dục có đề ra mục tiêu của giáo dục là “nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam” (Điều 2) và mục tiêu giáo dục phổ thông được xác định là “phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 29), nghĩa là đều chú trọng sự “phát triển toàn diện”. Sự phát triển toàn diện này của học sinh có được là nhờ vào toàn bộ các hoạt động giáo dục trong nhà trường mà học sinh tham gia cùng trải nghiệm của học sinh ở đó chứ không chỉ là các môn giáo khoa, càng không phải chỉ là nhờ vào các môn học được chỉ định, bắt buộc thi (hoặc là được phép lựa chọn). Như vậy, câu hỏi đặt ra là để công nhận học sinh tốt nghiệp THPT thì nếu chỉ dựa vào một kì thi tốt nghiệp có số môn thi giới hạn, với hình thức thi trên giấy để kiểm tra tri thức như đã và đang làm có công bằng không và có chính xác không? Tất nhiên, như ta biết là ở phổ thông còn có các điều kiện khác có liên quan đến việc xét tốt nghiệp như hạnh kiểm hay điểm trung bình của các môn để xác định học sinh có được lên lớp hay không. Nhưng trên thực tế hầu như không có học sinh nào bị ở lại lớp và việc đánh giá hạnh kiểm cũng gặp rất nhiều vấn đề đi vào chủ nghĩa hình thức, có ảnh hưởng xấu đến học sinh. Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu giáo dục đặt ra và kiểm tra đánh giá mục tiêu này sẽ dẫn tới lý do thứ tư cần bỏ kì thi tốt nghiệp THPT. 


Thứ tư, việc tồn tại kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông (nằm trong thi THPT quốc gia) như hiện tại đã làm giảm động lực học tập thật sự của học sinh, thu hẹp cơ hội sáng tạo của giáo viên và đẩy việc dạy và học ở trường phổ thông vào tình trạng đối phó và hình thức. Lý luận của rất nhiều người bảo vệ kì thi THPT là “nếu như không có thi thì học sinh sẽ không học”. Tuy nhiên, thực tế là ngược lại. Như đã nói ở trên, để đạt được mục tiêu “phát triển toàn diện” ở người học thì không thể chỉ dựa vào dạy và học các môn giáo khoa, càng không thể dựa vào việc học và thi một vài môn “chính” ở trong đó. Nó phải dựa vào vào sự trải nghiệm và học tập phong phú, đa dạng của học sinh thông qua tất cả các môn học, hoạt động giáo dục ở trong trường. Tuy nhiên, khi có “thi tốt nghiệp” kì thi dành cho tất cả các học sinh có tính chất bắt buộc, học sinh, phụ huynh, giáo viên sẽ nảy sinh phản xạ sinh tồn tự nhiên là cắt bỏ tất cả những gì không trực tiếp phục vụ kì thi tốt nghiệp trong nhà trường. Từ đó nảy sinh ra tâm lý “môn chính”, “môn phụ” và các môn không được lựa chọn thi tốt nghiệp sẽ phải hi sinh thời lượng cho các môn thi trong thực tế. Học sinh chỉ học (kể cả học thêm) các môn phải thi tốt nghiệp. Và thế là cho dù luật giáo dục quy định, chương trình nhấn mạnh tính toàn diện, trên thực tế sẽ là một sự lộn ngược khi giáo viên và học sinh chỉ dạy vào học môn thi tốt nghiệp. Điều này tạo ra sự nhận thức lệch lạc về việc học và khuyết thiếu trong tri thức, phẩm chất, năng lực của học sinh. Giáo dục phổ thông sẽ chịu trách nhiệm như thế nào khi suốt mấy chục năm vừa qua đã tạo ra rất nhiều thế hệ học sinh không có năng lực thưởng thức văn chương, nghệ thuật, thể thao, và có sức khỏe, kĩ năng sống tốt? Tại sao học sinh học suốt 12 năm phổ thông có hạnh kiểm tốt, học lực khá, giỏi mà lại trở thành những công dân sống thiếu kĩ năng và không thể tự lập trong đời sống? Lý luận “chỉ có thi mới làm học sinh học” là một lý luận dựa trên nhận thức sai lầm và hời hợt về tâm lý học giáo dục. Nó đã chỉ nhấn mạnh và tuyệt đối hóa động lực ngoài tác động tới việc học của học sinh là sự thúc ép của thi, của trừng phạt, phần thưởng mà quên mất động lực bên trong của người học đó là khao khát tìm cái mới, khao khát trở nên hiểu biết hơn và niềm hạnh phúc nội tâm khi thỏa mãn khao khát đó trong học tập. Khi nhận thức và lý luận như vậy, trường học và giáo viên sẽ có cái nhìn “robot hóa học sinh”, coi học sinh chỉ là một thực thể thụ động. Hơn nữa cái “sự học” ở học sinh mà giáo viên nhìn thấy, cảm nhận thấy khi dùng thi để ép buộc đó có thật sự là học không khi có rất nhiều học sinh “mất gốc” kiến thức cơ bản, không có khả năng theo kịp và những cái học sinh học chỉ là để chọn được đáp án đúng khi làm bài thi và sau đó khi kì thi kết thúc thì xóa sạch khỏi tâm trí mà không hề hiểu được ý nghĩa của nó?



Về phía giáo viên, khi dạy học với nhận thức và tâm thế như trên điều họ lo lắng nhất là “làm sao để học sinh thi đỗ tốt nghiệp” (sau đó là thi đỗ đại học) vì thế họ sẽ chỉ chú tâm đến việc truyền đạt sao cho học sinh lĩnh hội được kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa. Họ sẽ coi kiến thức cơ bản của sách giáo khoa là toàn bộ nội dung giáo dục bất chấp chương trình thế nào đi nữa. Với quan niệm như vậy, họ sẽ thành “thợ dạy” đúng nghĩa thay vì là “nhà giáo dục”. Công việc của họ sẽ dừng ở mức “tối thiểu” thay vì “tối đa”. Một khi như vậy, niềm tin, tình yêu, sự say mê đối với nghề sẽ phai nhạt và mục tiêu phấn đấu trong nghề sẽ rất khó vượt qua các con số chỉ tiêu được giao. Sự khó khăn đối với nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong cải cách giáo dục và sự mờ nhạt của “cải cách giáo dục từ dưới lên” trong lịch sử cải cách giáo dục ở nước ta cho thấy hệ lụy này. Sẽ không thể nào đánh thức được tình yêu nghề, động lực sáng tạo ở giáo viên nếu như ở trong họ luôn thường trực tâm lý dạy học là để “luyện cho học sinh thi đỗ”. Những hoạt động giáo dục thú vị, những bài học giúp học sinh khám phá sâu bản chất của hiện tượng, sự vật, những nội dung giúp phát triển toàn diện học sinh tất yếu sẽ trở thành vật hi sinh. Khi bỏ thi tốt nghiệp, giải tỏa áp lực nói trên, giáo viên và học sinh sẽ có điều kiện học chậm rãi (chậm rãi là điều kiện rất cần cho sáng tạo và đi vào chiều sâu) và theo đuổi những nội dung hữu ích, phong phú, thú vị. Có thể thấy điều này sẽ phù hợp với mục tiêu của giáo dục phổ thông và nhu cầu thực tế của học sinh khi có rất nhiều gia đình và học sinh xác định chỉ học hết trung học phổ thông sau đó sẽ học nghề hoặc tham gia lao động sản xuất. Khi xác định mục tiêu như vậy, việc trang bị cho bản thân vốn văn hóa nền tảng, kĩ năng sống cơ bản và thể lực tốt khi học phổ thông sẽ trở nên rất quan trọng và có ý nghĩa. Khi không còn kì thi tốt nghiệp THPT, giáo viên và nhà trường sẽ có không gian và thời gian để đáp ứng nhu cầu của các học sinh đó, nghĩa là việc thực hiện giáo dục “cá biệt hóa”-một yêu cầu của giáo dục hiện đại sẽ có điều kiện để thực hiện tốt.


Cuối cùng, bỏ thi tốt nghiệp THPT trả kì thi tuyển sinh đại học về cho các trường đại học sẽ tạo điều kiện tốt cho các trường tuyển được người phù hợp với ngành nghề đào tạo. Ở Việt Nam trong suốt thời gian dài đã chỉ tuyển thí sinh vào các ngành học dựa trên điểm số của các bài thi kiểm tra tri thức giáo khoa (toán, lý, hóa, văn…). Ngoại trừ một số trường có tuyển năng khiếu ra, đơn vị tuyển sinh hầu như không hề biết mặt thí sinh. Chính vì vậy mà rất nhiều sinh viên khi vào học thậm chí học xong đi làm mới phát hiện ra mình hoàn toàn không phù hợp với nghề mình học, trường mình học. Khi đó lại mất công đi học lại nghề mới lãng phí nhiều thời gian và tiền bạc. Ở nước ngoài từ lâu trong tuyển sinh đại học, ví dụ như ở Nhật Bản, người ta đã áp dụng tuyển sinh đại học kết hợp nhiều phương thức khác nhau như thi môn giáo khoa, tiến cử (với những học sinh có thành tích đặc biệt xuất sắc), viết luận, phỏng vấn. Bằng nhiều phương thức kết hợp như vậy, các trường đại học, cao đẳng có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn được người phù hợp (tính cách, khí chất, thể lực, ngôn ngữ, tư duy…). Ở Việt Nam hiện tại cũng có một số trường trên cơ sở xét điểm của kì thi THPT quốc gia cũng tiến hành theo hướng này. Tất nhiên, sẽ có những người cho rằng như vậy sẽ dễ nảy sinh tiêu cực ở các trường đại học hoặc nảy sinh tình trạng luyện thi với các lò luyện của trường. Lo ngại đó là có cơ sở vì nó đã từng xảy ra nhưng nếu muốn phòng ngừa cũng chẳng khó. Tình hình hiện nay rất khác so với chục năm về trước. Xu hướng kiểm định giáo dục độc lập đối với các trường đại học đã mạnh lên rất nhiều, xã hội thông tin đã làm cho bức tường vây quanh các trường đai học trở nên trong suốt hơn nhiều 10 năm trước đó, hơn nữa trong tình trạng các trường phải căng mình tìm kiếm sinh viên vào trường thay vì học sinh chen nhau giành một suất vào đại học như xưa thì chính các trường sẽ phải cố gắng duy trì thương hiệu của mình bằng việc tìm được thí sinh phù hợp. Hơn nữa, sự sàng lọc của thực tiễn và đánh giá của xã hội sẽ thúc đẩy các trường làm tốt trong khâu tuyển sinh. Đối với lò luyện thi và dạy thêm, muốn chặn rất dễ. Hãy học Nhật Bản và nhiều nước khác. Học thêm là nhu cầu nên tất yếu sẽ có dạy thêm nhưng họ cấm các giáo viên, giảng viên đang giảng dạy chính thức ở các trường phổ thông và đại học, cao đẳng tham gia dạy thêm, luyện thi dưới bất cứ hình thức nào. Giáo viên đảm nhận công việc đó là giáo viên tự do hoặc giáo viên của trung tâm luyện thi đó. Việc ai nấy làm. Điều này tránh được các tiêu cực và mâu thuẫn về mặt đạo đức nghề nghiệp đi kèm. Nhật Bản từ lâu cũng đã không thực hiện thi tốt nghiệp THP nữa và sắp tới có khả năng cao sẽ bỏ luôn cả kì thi thứ nhất vào đại học (kì thi trắc nghiệm kiểm tra kiến thức các môn giáo khoa ở phổ thông) để chuyển sang các hình thức đánh giá năng lực cá biệt của từng học sinh thông qua viết luận, phỏng vấn, kiểm tra tư duy, thử thách năng lực toán học và khoa học…



Thời điểm hiện nay là thời điểm thích hợp nhất để đưa sự tồn tại của kỳ thi tốt nghiệp THPT lên bàn nghị sự quốc gia. Nhiều người sẽ e ngại kêu lên rằng nếu bỏ thi tốt nghiệp THPT, trả kỳ thi đại học về các trường thì hóa ra là “cải lùi là về chỗ cũ ư?”. Đúng là như thế. Khi đi sai đường việc đầu tiên ta phải làm là dừng lại suy nghĩ và sau đó sau khi xác định được mình đi sai đường thì phải quay trở lại chỗ ban đầu để làm lại. Đấy là tất yếu. Không thể lấy một cái sai mới hay duy trì cái sai đã thấy để giải quyết vấn đề mà cuộc sống đặt ra.

 

 

 

 


Cũ hơn Mới hơn