TA CẦN SÁCH GÌ?


Tháng này là tháng sách. Năm nay vì Covid-19 nên mọi thứ chỉ là trên mạng. Muốn Việt Nam văn minh thì người Việt cần phải nói nhiều hơn, viết nhiều hơn, đọc nhiều hơn, xuất bản nhiều hơn nữa.

Nhưng không chỉ chạy theo số lượng mà còn cần phải chú ý đến thiết thực, chất lượng, đa dạng.

Cho dù Việt Nam ngày càng có nhiều người giỏi ngoại ngữ, tôi vẫn tán thành lời của nhiều trí thức đầu thế kỉ XX như Phan Châu Trinh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Triệu Luật, Huỳnh Thúc Kháng…cho rằng nước Nam này muốn văn minh tiến bộ thì cần rất nhiều sách Tây dịch ra tiếng Việt (quốc ngữ) cho người Việt đọc và người Việt phải tích cực trước tác, dịch thuật.

Không thể trông cậy vào tiếng Tây thuần túy và người biết tiếng Tây thuần túy mà khai sáng và thúc đẩy được dân tộc tiến lên.

Xin giới thiệu một bài viết của tác giả Hoa Trung trên báo Tiếng Dân (cụ Huỳnh Thúc Kháng làm chủ bút) về vấn đề này.

TA CẦN SÁCH GÌ?

“Nói đến kho sách của ta thì buồn thật.

Về thời đại học chữ Hán, học giả của ta không phải là người không có tài. Từ đời Lý đã có tiếng là một đời văn thịnh, cho đến đời Trần, đời Lê nào ông Mạc Đĩnh Chi, ông Bỉnh Khiêm, ông Phạm Huy Chú, ông Lê Quý Đôn cho đến gần đây như ông Cao Bá Quát, ông Dương Khuê, ông Nguyễn Khuyến đều nổi danh là tay văn hào. Song cứ bình tình mà xét, thì có công lao trong học thuật nước nhà ít lắm. Ông thì gọi là tài sử học, nhưng sử học thì chẳng qua chép việc triều đình, mà cũng không có được mấy sách sử, ông thì gọi là giỏi văn chương nhưng văn chương thì chẳng qua thi phú ca ngâm; còn ra những sách trước thuật thiệt có giá trị trong sự học thì hiếm có lắm. Song mục đích bài này không phải bàn về văn học sử, không thể nói cho kỹ được.

cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Gần mấy năm nay chữ quốc ngữ nhiều người ham học, nhân đó mà sự trước thuật cũng được mở mang, điều ấy thật cũng đáng mừng. Nào tiểu thuyết, nào luận thuyết, nào thơ văn, nào ngụ ngôn, ở thành phố Hà Nội và Sài Gòn trong các nhà in có ngày nào là ngày không có sách xuất bản, trên các tờ báo có ngày nào là không có sách giới thiệu? Như vậy thì sách để đâu cho hết, mà lại phàn nàn rằng “Kho sách của ta nói đến mà buồn”. Ôi vui làm sao được mà chẳng buồn! Nào những sách gì ta hãy kể lên: nhan nhản bìa màu giấy trắng, nhìn thì cũng đẹp thật, mà phần nhiều rặt những đồ tiểu thuyết hoa tình, thơ văn yếm thế, đọc đến thì chết lòng, tối tri không khác gì vị thuốc độc, cùng đạo bùa mê cho tinh thần. Ôi! Ít thì chịu ít, chứ các thứ sách ấy mà để cho nó tràn ra trong chốn dân gian thì nguy hiểm lắm!

Ngoài những thứ sách văn tác ác ấy cũng có ít sách về luận thuyết, nhưng gọi là văn cổ động thì phải hơn. Sách này không phải là không có ích. Đang lúc quốc dân còn say cơn mê mộng mà không đem những lời khẳng khái giọng hùng tráng làm chuông làm mõ réo rắt vào óc, khuyên nhủ bên tai, thì làm sao mà thức giấc mê giậy để tự nhận lấy vận mệnh mình, cùng nhìn ra nước nhà và thế giới! Những thứ sách để đề tỉnh người ta trong buổi giao thời nước nào không có, mà cái công hiệu của nó cũng không ai giám chối cãi hẳn đi. Song le chỉ có một, những sách cổ động không cũng chưa có thể gọi là đủ để đem đường chỉ lối cho quốc dân được. Thiết tưởng muốn làm việc gì, vô luận dễ khó trước cũng phải biết đã rồi hạ tay làm mới dễ dàng. Biết đã chín thì làm không khó. “Tri nan hành dị”ông Tôn Trung Sơn sở dĩ làm rúng động nước Trung Hoa nước Trung Hoa là cũng vì hiểu nguyên lý ấy.

Một tấm lòng tốt, một tấm lòng thương bầy yêu nước, mẫn thế ưu thời không chưa đủ mà làm lợi cho bầy, phúc cho nước, sửa được thế xong được thời; muốn làm một sự nghiệp gì, cho đến nhỏ hẹp cũng phải cần có một phần tri thức cùng lịch duyệt. Nói riêng về ta thì dân ta hiện nay phải cần gọi lòng cho tỉnh lại mà cũng cần soi trí cho sáng ra. Thế mà những sách nói về “thời-thế”ta hiện có nay, thứ hại thì không kể chứ thứ hay thì cũng chẳng qua là khua chuông gõ mõ tỉnh thức người ta trong một lúc tạm thời nghĩa là cũng có nghĩ về “Lòng” chứ sách nói về “Trí” thì không có, ví như thức người ta dậy mà không chỉ đường đi cho đúng thì trách sao cho hỏi lầm lạc. Ấy là: Kho sách của ta thực có một chỗ khuyết điểm to làm vậy.
Muốn bổ cứu điều khuyết điểm ấy, ta tất nhiên phải chú ý về các sách có thực dụng cũng cần như các sách về thường thức (thường thức về thực nghiệp, về khoa học, về pháp luật, về chính trị, về lịch sử v.v). Mà những sách có tính chất nghiên cứu và phê bình lại càng thiết hơn, vì có phê bình thì người ta mới phân biệt được thứ hay mà đọc, thứ dở thì chừa, để khỏi lựa càn chọn bậy. Những sách như thế có được nhiều thì mới mong trình độ tri thức của dân cao được, mà trình độ tri thức có cao thì mới mong làm được việc to lớn.

Những sách ấy bây giờ mình mong vào ai làm được? Nước ta tuy bây giờ số người học giỏi vẫn là còn ít, nhưng nói rằng không thì chẳng phải không. Nào các nhà Hán học uyên súc vẫn còn thiếu nhiều, nào những nhà Âu học ưu tú cũng ngày một thêm, như thế lo gì không có người làm sách. Người đủ tài lực làm sách quyết rằng không lo, chỉ sợ thiếu người gắng công nghiên cứu để làm.

Phần nhiều kẻ vì chối cái trách nhiệm ấy mà ta sự nói rằng: “Học thuật xưa của nước ta thì có gì mà học, bất quá có được khoa sử học thì còn tạm nghiên cứu được mà thôi, còn như học thuật mới thì đã có sách Tây sách Tàu (sách Tàu có sách mới nhiều) bề bộn đó, hà tất ta còn phải làm. Nhưng họ không nghĩ cho rằng người đọc sách Tàu phỏng còn độ mấy, mà người học chữ Pháp rồi đương độ bao nhiêu, còn đại đa số trong dân gian, trừ những người không đi học không nói, thì ngoài ra chỉ biết quốc ngữ mà thôi; thế mà sách quốc ngữ không có, chỉ giơ những sách Tây sách Tàu cho họ thì còn ai biết “gặm” vào đâu? Ở đây không phải chỗ bàn về địa vị chữ quốc ngữ đối với nền học ta, nhưng không phải nói thì ai cũng đã công nhận rằng muốn truyền bá tư tưởng, học thuật trong dân gian thì phải dùng chữ quốc ngữ. Vậy có gì cần bằng đem dịch những sách Tây sách Tàu ra chữ quốc ngữ nữa không?

Kia nước Nhật Bản nước Trung Hoa, không ai ép họ học chữ Tây mà họ học cũng rất là thấu đáo, từ quyển kịch bản Tây đến đến sách khoa học, triết lý họ cũng dịch sang chữ Nhật chữ Tàu, huống chi ta đây trước học chữ Tàu còn lại vẫn còn, mà nay học chữ Pháp lại là nền học duy nhất cưỡng bức , thế mà nào sách Tàu sách Tây mình đã dịch được quyển gì thực có giá trị đâu? Nghĩ cho đến cũng đành cúi đầu mà xấu hổ.

Người viết bài này rất mong rằng từ rầy về sau các nhà trước thuật và dịch thuật sẽ chú ý về các thứ sách cần có nói trên kia”
(Báo Tiếng Dân, số 30 năm 1927)


Cũ hơn Mới hơn