Những khó khăn của việc đưa y tá, hộ lý người Việt tới Nhật Bản


“Sự di động của con người” có tính chất quốc tế đang ngày một lan rộng khắp thế giới. Cả Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Điều đặc biệt đáng chú ý là việc đưa các y tá, hộ lý người Việt Nam tới Nhật Bản theo Hiệp định hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản và Việt Nam (EPA). Ở Việt Nam vào cuối tháng 1 năm 2012, đã tiến hành đào tạo tiếng Nhật cho những người dự tuyển nói trên trước khi tới Nhật Bản và dự định sẽ đưa các ứng cử viên  đầu tiên tới Nhật Bản vào cuối tháng 1 năm 2014. Tuy nhiên việc tiếp nhận các ứng cử viên y tá, hộ lý người nước ngoài đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Những vẫn đề này cần phải được giải quyết như thế nào?

Đối với Việt Nam, nơi xúc tiến việc đưa người ra nước ngoài làm ăn thì sự kì vọng vào việc giải quyết này là rất lớn. Số tiền mà những người Việt Nam ở hải ngoại như những người ra nước ngoài làm ăn gửi về Việt Nam đang nâng đỡ cho nền kinh tế Việt Nam. Vào năm 2011 số lao động từ Việt Nam được đưa ra nước ngoài ước chừng  883.000 người và cùng thời điểm đó có hơn 50 vạn người Việt Nam lao động tại các nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, các nước Trung Đông…Nơi họ làm việc là ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng và các ngành dịch vụ như làm việc nhà… Cũng có những người đến Nhật Bản với tư cách là thực tập sinh, tu nghiệp sinh.

Trong bối cảnh đó, việc đưa các hộ lý, y tá theo Hiệp định EPA Nhật-Việt được kì vọng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế bằng việc gia tăng số tiền gửi từ nước ngoài về nhờ vào việc mở rộng cơ hội kiếm tiền ở nước ngoài của người Việt Nam. Đồng thời, việc những người Việt Nam học được kĩ thuật y tá, hộ lý với trình độ cao của Nhật Bản trong tương lai sẽ trở về hoạt động trong lĩnh vực y tế của Việt Nam cũng được trông chờ.

Đối với Nhật Bản, nơi sự già hóa dân số đang tiến triển và vấn đề thiếu nhân lực làm y tá, hộ lý đang tăng lên thì ý nghĩa của việc tiếp nhận người lao động nước ngoài là không hề nhỏ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang tiến triển ở rất nhiều phương diện, việc tiếp nhận lao động có chuyên môn của nước ngoài cũng sẽ có ý nghĩa quốc tế hóa xã hội Nhật Bản.

Ứng cử viên y tá người Việt cần có 3 điều kiện: 1. Tốt nghiệp chương trình y tá 3 hoặc 4 năm; 2. Có bằng (chứng chỉ) y tá quốc gia của Việt Nam; 3. Có kinh nghiệm thực tiễn 2 năm. Ứng cử viên hộ lý phải tốt nghiệp chương trình đào tạo 3 hoặc 4 năm.

Ứng cử viên sau khi kết thúc khóa trình đào tạo ở Việt Nam trước khi đến Nhật, sẽ trải qua quá trình làm quen với các cơ sở y tế, chăm sóc người già ở Nhật Bản và  2, 3 tháng thực tập sau khi đến Nhật (thực tập tiếng Nhật, thực tập về môi trường xã hội, văn hóa, tiếng Nhật ở nơi làm việc và thực tập nhập môn công việc làm y tá, hộ lý), sau đó sẽ được gửi đến nơi tiếp nhận. Sau đó những ứng cử viên y tá sẽ trải qua quá trình thực tập, lao động ở các bệnh viện tối đa là 3 năm và trong khoảng thời gian này sẽ họ có thể  tham dự tối đa là 3 lần để thi  lấy bằng y tá quốc gia của Nhật Bản. Người làm hộ lý chỉ có thể dự thi một lần duy nhất để lấy bằng hộ lý quốc gia của Nhật Bản. Người vượt qua kì thi và lấy được bằng quốc gia có thể sống và làm việc tại Nhật Bản.

■ Tỉ lệ thi đỗ kì thi quốc gia rất thấp.

Tuy nhiên, trong chương trình tiếp nhận ứng cử viên hộ lý, y tá của Indonesia, Philippin theo hiệp định EPA với Nhật Bản đã bắt đầu trước đó thì việc tỉ lệ vượt qua kì thi quốc gia thấp đã trở thành vấn đề đặt ra.

Lý do tỉ lệ thi đỗ thấp được chỉ  ra  nằm ở vấn đề tiếng Nhật. Các thuật ngữ chuyên môn được dùng trong kì thi quốc gia đối với nước người nước ngoài rất khó và việc nâng cao  năng lực tiếng Nhật trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Không phải chỉ là đối sách thi cử mà để phục vụ thiết thực và đảm bảo an toàn khi làm công việc y tá, hộ lý, tiếng Nhật dùng trong giao tiếp với bệnh nhân và nhân viên khi làm việc thực tế cũng trở thành thứ vô cùng quan trọng.

Thêm nữa, việc tiếp nhận người Indonesia và Philippin cũng chỉ ra rằng trong bối cảnh vừa thực tập, lao động vừa học tập tiếng Nhật và thi kì thi quốc gia nên không thể đảm bảo thời gian học tập đầy đủ.. Ngược lại ở các cơ quan tiếp nhận thì việc chưa hề có kinh nghiệm tiếp nhận người nước ngoài hay thiếu những người đảm nhận ở hiện trường dẫn đến việc không giúp đỡ đầy đủ cho việc thi cử của ứng cử viên cũng diễn ra, ngoài ra còn có cả trường hợp việc giúp đỡ học tập trở thành gánh nặng. Tuy nhiên, nếu như ứng cử viên không vượt qua kì thi quốc gia họ sẽ bị gửi trả về nước và cả chính phủ, cơ quan tiếp nhận cùng  ứng cử viên sẽ phải gánh chịu chi phí suốt đến thời điểm này. Việc nâng cao tỉ lệ đỗ trở thành vấn đề đặt ra.

REPORT THIS AD

■ Sự di động quốc tế của nguồn nhân lực y tế, hộ lý đang trở nên sôi nổi.

Sự di động nguồn nhân lực y tế, hộ lý đang trở thành trào lưu cũng là vấn đề đáng chú ý. Trong bối cảnh ấy nếu như chúng ta không cảm nhận được những lợi ích có được từ chế độ tiếp nhận ứng cử viên y tá, hộ lý người người ngoài theo hiệp định EPA thì có thể họ sẽ đổ sang các nước khác. Ví dụ như các y tá người Philippin trước đó đã làm việc ở các nước như Anh, Mĩ, Ả rập xê út và ngoài Nhật Bản họ cũng có các lựa chọn khác.

Người Việt Nam cũng có các cơ hội ở nước ngoài. Truyền thông quốc doanh Việt Nam vào ngày 14 tháng 1 năm 2013 đưa tin Việt Nam sẽ đưa y tá, hộ lý sang Đức theo thỏa thuận giữa hai nước. Trước hết khoảng 100 người dưới 25 tuổi tốt nghiệp chương trình y tá của Việt Nam sẽ sang tu nghiệp chăm sóc người già trong thời hạn 2 năm ở Đức. Trong trường hợp này chính phủ Đức sẽ chi trả mỗi tháng khoảng 800-900 Ơ-rô học bổng. Sau đó nếu như họ vượt qua kì thi quốc gia của Đức thì sẽ có thể lao động trong 3 năm với mức lương 1800-2000 Ơ-rô/tháng.

■ Chứng chỉ tiếng Nhật trở thành điều kiện cần.

Sự kì vọng với tư cách là đối sách với vấn đề này là sự đào tạo trước khi đến Nhật dành cho các ứng cử viên y tá, hộ lý người Việt Nam được bắt đầu vào cuối tháng 11 năm 2012 ở tỉnh Hưng Yên. Trong thời hạn 1 năm tổng số 150 người sẽ học tiếng Nhật. Toàn bộ chi phí như học phí, ở… cần thiết do chính phủ Nhật chi trả. Đặc biệt việc người học có chứng chỉ năng lực tiếng Nhật N3 sau khi kết thúc khóa học trước khi đến Nhật trở thành điều kiện cần là điều đáng chú ý. Trong số 5 mức độ xếp theo thứ tự  khó đến dễ từ N1 đến N5 của kì thi thì N3 vừa đúng nằm ở giữa và là “mức độ có thể hiểu được ở một mức độ nhất định  tiếng Nhật được dùng ở các tình huống thường ngày”.

Ứng cử viên người Indonesia và Philippin cũng tiếp nhận việc đào tạo trước khi đến Nhật nhưng thời gian ngắn hơn thời gian nói trên và việc vượt qua kì thi năng lực tiếng Nhật không trở thành điều kiện cần và do việc nâng cao năng lực tiếng Nhật đối với trường hợp hai nước trở thành vấn đề đặt ra cho nên việc tiếp nhận nhân lực từ Việt Nam đã đặt trọng tâm vào việc nâng cao năng lực tiếng Nhật. Thêm nữa sau khi tiếp nhận lượt đầu tiên 5 năm sẽ tiến hành xem xét lại và nếu cần thiết thì sẽ nâng cao mức độ năng lực tiếng Nhật trở thành điều kiện cần.

■Môi trường lao động cũng đặt ra.

Mặt khác, việc thiếu y tá, hộ lý ở Nhật cũng một phần là do sự khắc nghiệt về điều kiện làm việc. Trong bối cảnh sự di động quốc tế của những người làm y tá, hộ lý trở nên sôi nổi, để thu hút nhân lực chuyên môn từ nước ngoài thì không chỉ đối sách với kì thi quốc gia mà việc cải thiện môi trường làm việc cũng trở nên cần thiết.

Bên cạnh đó tình hình của nước gửi người đi thì sao? Trong trường hợp của Philippin nơi việc y tá, hộ lý ra nước ngoài kiếm sống sôi nổi,  việc nhân lực chuyên môn y tế ra ngoài ngược lại đã làm cho chính nước này thiếu nhân lực y tế và làm cho hệ thống y tế bị tổn hại. Bên cạnh những lợi ích có được như hiệu quả kinh tế từ việc nhận tiền gửi từ nước ngoài và sự thu nhận kĩ thuật của Nhật Bản thì liệu việc đưa y tá, hộ lý từ Việt Nam đến Nhật Bản có gây ra bất lợi nào không cũng cần phải nghiên cứu.

Việc tiếp nhận y tá, hộ lý người nước ngoài không đơn giản là việc “vì thiếu nhân lực nên cứ thuê người nước ngoài là ổn”. Cần phải nghiên cứu  đa chiều và làm rõ việc đó nhằm mục đích gì, tiếp nhận như thế nào. Và rồi cần phải suy nghĩ xem có thể đảm bảo được lợi ích  của Nhật Bản và nước gửi người, quyền lợi của người lao động và người Nhật, lợi ích của người bệnh và người cao tuổi hay  không.

Tác giả: Sunai Naoko

Sinh năm 1981, khi đang học tại Đại học Tokyogakuei, đã tham gia làm phim tài liệu. Sau khi tốt nghiệp có làm cho báo của giới công nghiệp Nhật Bản và sống tại Pháp. Về sau hoạt động với vai trò là kí giả tại Indonesia, Philippin. Tác giả hiện sống và viết  ở Việt Nam.

Nguyễn Quốc Vương dịch

 

http://webronza.asahi.com/global/2013012300001.html


Cũ hơn Mới hơn