Một bình luận ngắn về cải cách giáo dục

Nguyễn Quốc Vương

Báo Thanh niên điện tử ngày 3/1/2017 có đăng bài phỏng vấn GS.Nguyễn Minh Thuyết với tựa đề “Chương trình giáo dục phổ thông mới: Chạy đua nước rút”. Trên một diễn đàn về giáo dục trên Facebook, các thành viên đã thảo luận sôi nổi về những thông tin do GS. Nguyễn Minh Thuyết đưa ra. Nhiều người bày tỏ sự vui mừng và lạc quan về tiền đồ của chương trình giáo dục mới.

Một bài phỏng vấn ngắn ngủi khó có thể bao quát hết được những thông tin có liên quan đến chương trình cải cách sắp được ban hành. Tuy nhiên, ở mức độ nhất định nó cũng cung cấp cho bạn đọc một vài thông tin đáng chú ý. Trong các thông tin đó, tôi chú ý đặc biệt và muốn đưa ra bình luận về các thông tin sau đây.
Thứ nhất, bài phỏng vấn cho biết trong lần biên soạn chương trình này GS. Nguyễn Minh Thuyết sẽ là tổng chủ biên.

Thứ hai, chương trình mới có khả năng sẽ giảm số lượng các môn học và học sinh có khả năng lựa chọn các môn học tự chọn ở cấp trung học phổ thông.

Thứ ba, việc biên soạn chương trình đang gấp rút được tiến hành cho kịp đưa vào sử dụng trong năm học 2018-2019.

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử cải cách giáo dục ở Việt Nam từ sau 1945, Bộ giáo dục và đào tạo công bố công khai vị trí “Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông”. Trong 3 lần cải cách trước đó, trên thực tế có thể có người đóng vai trò trung tâm nhưng vai trò đó không thể hiện công khai và chính thức. Vì thế khi cải cách giáo dục không đem lại hiệu quả nhiều người đã cho rằng hệ quả ấy đến từ việc thiếu “tổng chỉ huy”, thiếu “nhạc trưởng” trong xây dựng chương trình.

Lần này, vị trí tổng chủ biên chương trình được khẳng định công khai đồng nghĩa với việc trách nhiệm của GS. Nguyễn Minh Thuyết sẽ rất nặng nề. Những diễn biến về sau của cuộc cải cách rất có thể sẽ chứng minh điều đó.

Thông tin về vị trí tổng chủ biên chương trình có vẻ như không nhận được nhiều sự quan tâm như thông tin về việc học sinh sẽ có cơ hội học ít môn hơn. Rất nhiều người hào hứng về điều đó.

Tuy nhiên, nếu suy ngẫm kĩ ta sẽ thấy điều đó là hiển nhiên. Bởi vì khi Bộ giáo dục và đào tạo chủ trương dạy học tích hợp và hợp nhất các môn học cũ tạo ra môn học mới như môn Khoa học xã hội, Khoa học tự nhiên, Cuộc sống quanh ta…số lượng các môn học tất yếu sẽ giảm đi.

Xét trên quan điểm giáo dục hiện đại, việc chương trình môn học có ít hay nhiều môn cũng quan trọng nhưng quan trọng hơn là chương trình đó phải được xây dựng khoa học dựa trên các nghiên cứu và khảo sát thực tế kĩ lưỡng. Đặc biệt chương trình đó cho dù ưu tú cũng chỉ đóng vai trò là tài liệu “tham khảo”, “hướng dẫn” và có tính “mở”. Tính chất khai phóng của nó sẽ là điều kiện cơ bản để thích hợp với cơ chế “một chương trình-nhiều sách giáo khoa” lần đầu tiên được vận hành ở Việt Nam.

Trong bối cảnh học sinh và giáo viên Việt Nam đang chạy như đèn cù trong cái vòng tròn thi cử thì sự háo hức với thông tin nói trên là dễ hiểu. Tuy nhiên, các nhà biên soạn chương trình cần ghi nhớ rằng, cho dù có ít môn nhưng nếu chương trình này không tạo điều kiện cho các chương trình nhà trường và chương trình tự chủ của giáo viên tồn tại, phát triển thì nó sẽ lại rơi vào vũng lầy của các chương trình trước đó.

Mặt khác, cách thức thực hiện cải cách giáo dục nói chung và cách làm chương trình-sách giáo khoa trong lần cải cách này khá gấp gáp. Chỉ còn chưa đầy hai năm nữa cả chương trình tổng thể, chương trình từng môn và sách giáo khoa phải được đưa vào sử dụng tuy nhiên thông tin trong bài phỏng vấn cho biết việc biên soạn chương trình vẫn đang nằm ở chỗ lựa chọn đội ngũ biên soạn?! Các văn bản quan trọng như quy chế đăng kí và thẩm định sách giáo khoa, quy chế lựa chọn sách giáo khoa… chưa hề được công bố.

Muốn biên soạn chương trình-sách giáo khoa và rộng hơn là tiến hành cải cách, tất yếu phải làm hai công việc lớn là điều tra và đưa ra báo cáo về toàn bộ nền giáo dục hiện hành và nghiên cứu về các mô hình giáo dục tiên tiến có thể áp dụng. Rất tiếc cho đến nay trải qua cả 4 cuộc cải cách tính từ 1945, Việt Nam vẫn chưa một lần đưa ra được hai bản báo cáo công phu tổng kết hai công việc ấy.

Ở Nhật trong công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến sau 1945, chương trình mới được ban hành vào tháng 3 năm 1947, chưa đầy hai năm sau khi bại trận. Tuy nhiên, trong hai năm đó, các nhà giáo dục Nhật Bản và Bộ giáo dục đã làm một khối lượng công việc khổng lồ trong đó quan trọng nhất là điều tra và phân tích đánh giá lại toàn bộ nền giáo dục trước chiến tranh và nghiên cứu giáo dục Mĩ.

Bản báo cáo của Sứ đoàn giáo dục Mĩ về giáo dục Nhật Bản và Bản báo cáo của Ủy ban cải cách giáo dục Nhật Bản là những tài liệu quan trọng nhất tạo nền tảng cho cải cách. Cho dẫu gấp gáp chương trình mới của Nhật Bản với hàng loạt các môn học mới như “Nghiên cứu xã hội”, “Các vấn đề thời sự”, “Nghiên cứu tự do”…đã được thử nghiệm trên thực tế và các kết quả thực chứng thu được đã được phân tích kĩ. Chính vì vậy mà cải cách đã nhanh chóng thành công, tạo ra nền tảng phát triển cho Nhật Bản.

Cách thức cải cách gấp gáp và có phần “chữa cháy” như trên ẩn chứa rất nhiều rủi ro trong đó rủi ro lớn nhất là đẩy các gánh nặng của giáo dục lên vai giáo viên trực tiếp giảng dạy. Trong bối cảnh của Việt Nam hiện tại nếu như cải cách giáo dục từ trên xuống bắt đầu từ triết lý giáo dục gặp khó khăn thì con đường khả dĩ nhất là tích cực thúc đẩy cải cách từ dưới lên thông qua sự giác ngộ, tự chủ, sáng tạo của giáo viên phổ thông và các trường. Những cải cách từ trên xuống (vĩ mô) cần làm chậm và chắc thay vì ưu tiên tiến độ.

Sách giáo khoa hay chương trình cho dù ưu tú cũng chỉ là thứ có “hạn sử dụng” nhưng các cơ chế, nguyên lý, hành lang pháp lý được tạo ra trong cải cách phải là những thứ có thể sử dụng lâu dài. Muốn thế nó phải đảm bảo và hướng tới các giá trị phổ quát của thế giới.

Nhật Bản, 6.1.2017