Đừng lãng phí nguồn năng lượng vô tận của thanh niên Việt



Cách đây 150 năm, cuộc duy tân Minh Trị với những cải cách sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực đã đưa Nhật Bản vượt trở thành một trong những cường quốc trên thế giới.

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nhiều trí thức nước nhà cũng nung nấu khát khao cháy bỏng canh tân để làm cho nước Việt hùng cường, thoát ách đô hộ của người Pháp. Nhưng đến nay, Việt Nam vẫn chưa thực sự có một cuộc canh tân để đất nước vượt lên hùng mạnh.

Rất lâu rồi đất nước mới được chứng kiến hàng triệu người hâm mộ trên mọi miền Tổ quốc cháy hết mình cùng tinh thần bóng đá quả cảm của các tuyển thủ U23 Việt Nam.

Đầu năm mới, Tuổi Trẻ có cuộc trò chuyện với dịch giả Nguyễn Quốc Vương, người có nhiều năm du học tại Nhật Bản về để tìm lời giải khai phóng nguồn năng lượng vô tận của người trẻ vào công cuộc kiến thiết đất nước.

Đến nay, nhiều học giả và trí thức vẫn đau đáu câu hỏi, vì sao Việt Nam vẫn chưa thể thực hiện cuộc duy tân để thay đổi số phận dân tộc, như người Nhật từng làm?

Giới học giả Việt Nam chuyên tâm nghiên cứu về Nhật Bản không nhiều, nên nhận thức về cuộc duy tân Minh Trị có khoảng cách lớn so với giới học giả ở Nhật Bản.

Nếu nhìn nhận đây là cuộc khai sáng có vai trò tuyệt đối của minh quân Minh Trị thì nhiều quốc gia Đông Á sẽ than trách những ông vua và triều đình đương thời mỗi nước. Bởi họ đã không sáng suốt tiến hành cuộc canh tân đưa đất nước trở nên hùng cường như Nhật Bản. Nếu nhận thức như vậy thì rất đơn giản.

Để cuộc cải cách thay đổi quốc dân cần có sự dịch chuyển của tầng lớp tinh hoa có ảnh hưởng lớn trong xã hội.

Giai đoạn duy tân Minh Trị, tầng lớp trí thức đóng vai trò quan trọng rất quan trọng. Lớp người này am hiểu cả Đông – Tây và rất trẻ. Các chí sĩ “đảo Mạc” hầu hết chỉ từ 25 – 30 tuổi, sẵn sàng rời bỏ quê hương, gia đình, sẵn sàng bỏ mạng để quyết tâm ra nước ngoài học tập.

Fukuzawa Yukichi là tấm gương điển hình của trí thức thời ấy quyết theo đuổi lý tưởng của mình. Nhưng khi đó ở Nhật đã có hàng trăm, hàng nghìn thanh niên, trí thức có lý tưởng như ông.

Có tư liệu còn ghi lại rằng trong cuộc trò chuyện với một du học sinh đồng thời cũng là học giả của Trung Quốc ở châu Âu, Fukuzawa Yukichi hỏi Trung Quốc khi đó có bao nhiêu người đọc được “chữ ngang” (tiếng Anh, Pháp, Hà Lan…). Du học sinh đó trả lời chỉ có khoảng 50 người. Nhưng Fukuzawa Yukichi nói ở Nhật khi đó đã có khoảng 500 trí thức, học giả am hiểu Hán học và Tây học.

Thời ấy, Nhật Bản đã có gần  50% dân số biết chữ, đóng vai trò quan trọng trong cuộc khai sáng. Vậy nên những cuốn sách Fukuzawa Yukichi đã in và bán được cả triệu bản.

Những điều này hoàn toàn khác với hoàn cảnh Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Các trí thức đều có khát vọng canh tân đất nước, nhưng những người có thể đọc và hiểu họ không nhiều. Vậy nên dù nhiều người kính trọng, cảm phục những người như Phan Châu Trinh, nhưng rất ít người có thể lý giải cặn kẽ tư tưởng của ông ở góc độ lý tính và trí tuệ.

Việt Nam khi đó cũng chưa có nền tảng kinh tế công thương nghiệp với hoạt động buôn bán tấp nập như Nhật Bản.

Trí thức Nhật tiếp cận Nho giáo trong tâm thế tự do, dưới góc độ học thuật. Còn Việt Nam lại tiếp nhận Nho giáo trong tâm thế khoa cử. Nhật Bản có Nho giáo mà không có khoa cử. Đấy là một điểm rất đáng suy ngẫm.

Bài toán đặt ra ở Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 không khác với thời kỳ Minh Trị duy tân, nhưng tiềm lực mỗi nước khác nhau.

Những người phản tỉnh lại là những nhà nho có tuổi như Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... Tầng lớp thanh niên có vốn Hán học vững vàng và đủ khả năng lĩnh hội được những điều mới mẻ ở phương Tây như đọc và nói được tiếng Anh, tiếng Pháp và dấn thân cho hoạt động đó không nhiều.

Vậy nên không phải ngẫu nhiên mà trong những bài viết cuối đời những trí thức đều hướng đến thanh niên vì nhận ra sức mạnh của tuổi trẻ với cuộc canh tân đất nước.

Hơn nữa, Nhật Bản tiến hành canh tân đất nước khi đất nước không mất chủ quyền, còn nước ta những người yêu nước có tư tưởng cải cách  vừa bị chính quyền nhà Nguyễn và chính quyền Pháp đàn áp. Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ tồn tại được vài tháng là một ví dụ tiêu biểu.

Nhìn ở khía cạnh khai sáng từ Minh Trị duy tân, nước ta hiện nay có thể học hỏi được điều gì trong xây dựng và kiến tạo đất nước?

Điều mà Việt Nam có thể học hỏi rõ nhất là trí thức người Việt thay vì chỉ nghĩ đến lợi ích kinh tế hay giải các bài toán cá nhân thì phải nghiêm túc nhìn vào hiện thực đất nước trước mắt và tuỳ từng vị trí của mình để đối mặt với, giải quyết nó.

Nhiều người thường nói vì sao trí thức đầu thế kỷ 20 có thể nói trước được thực trạng đất nước ta hiện nay? Tôi cho rằng, vì những vấn đề mà xã hội nước nhà đặt ra, cần giải quyết từ một thế kỷ trước, đến bây giờ vẫn chưa giải quyết được.

Rất nhiều người Việt trong đó có cả những người có hiểu biết và trí tuệ  đã luôn tìm cách trốn tránh nó. Nhưng qua một thế kỷ, đến nay gia tốc của những vấn đề đó càng lớn, gây sức ép nặng nề hơn với mỗi cá nhân và xã hội. Câu chuyện khai dân trí, chấn dân khí được đặt ra từ lâu, nhưng gần như bị lãng quên suốt thời gian dài.

Học Nhật Bản là  phải nhìn thẳng vào thực trạng đất nước để tìm nhiều con đường khác nhau đóng góp cho đất nước. Một người không làm được, nhưng nhiều người sẽ làm được. Nếu đứng riêng rẽ sức mạnh của từng cá nhân sẽ không đáng kể nhưng khi các cá nhân tự thân giác ngộ và có sự đồng cảm, liên kết sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng to lớn.

Bài học thứ hai là nếu chỉ kỳ vọng duy nhất vào con đường thay đổi kiến trúc thượng tầng khi mà nền tảng xã hội chưa vững vàng thì sự thay đổi đó cũng  chỉ như cơn lốc vụt qua và ẩn chứa rất nhiều rủi ro.

Người Nhật luôn được dạy, “dân chủ là toàn dân trị nước”, đất nước không thể thay đổi nếu từng người dân không thay đổi.

Từng gia đình giáo dục nên người con tốt, từng nhà trường đào tạo những học sinh tốt, từng cá nhân nỗ lực phản tỉnh để văn minh hoá thì xã hội tất yếu sẽ thay đổi mà không ai có thể cưỡng lại được.

Trong xã hội nước ta hiện nay, sợi dây liên kết giữa trí thức và người dân rất lỏng lẻo và có khoảng cách lớn.

Trí thức đứng ở đâu giữa người dân và Chính phủ? Họ là một bánh răng trong hệ thống chính quyền hay đứng về phía người dân. Trong cái nhìn của tôi, có lẽ  trí thức là cầu nối giữa Chính phủ và người dân.

Tôi nhớ, một học giả từng nói trí thức là người dùng tiếng nói để nói với quyền lực về chân lý.

Fukuzawa Yukichi dù có công rất lớn với cuộc duy tân Minh Trị nhưng ông không tham gia vào hệ thống chính quyền mà nỗ lực nâng cao dân trí bằng viết sách, mở trường học. Nhiều học trò của ông đã trở thành các yếu nhân trong chính quyền và các nhà hoạt động xã hội, các nhà khoa học hoạt động sôi nổi và có đóng góp lớn cho đất nước.  

Trí thức Việt Nam nhiều người tài giỏi nhưng ít tham gia khai dân trí. Còn ở Nhật, tầng lớp trí thức lại coi đó là lý tưởng. Điều đó có quan hệ mật thiết với sự tiến triển của dân trí. Minh chứng rõ nhất là nhiều đầu sách người Nhật đã đọc cách đây hàng thế kỷ với hàng triệu bản in thì bây giờ người Việt mới dần được tiếp cận ở mức rất khiêm tốn.

Bản thân mỗi trí thức nên tôn trọng các con đường khác nhau vì mỗi người đều chung một mục đích kiến tạo, canh tân làm cho đất nước giàu mạnh. Đã đến lúc, mỗi người Việt hãy thẳng thắn nhìn ra thế giới để biết vị trí của đất nước đang ở đâu trên bản đồ văn minh nhân loại.

Có lẽ lâu lắm rồi, đất nước mới lại được thấy những hình ảnh xúc động hàng triệu người đổ ra đường chung niềm vui với đội tuyển U23 Việt Nam. Ai cũng cảm nhận rõ nguồn năng lượng vô tận của đất nước khi đó. Nhưng dường như nguồn năng lượng ấy chưa được phát huy trong việc xây dựng đất nước?

Khát vọng kiến tạo đất nước hay sáng tạo trong công việc đều phải bắt nguồn từ cảm hứng tự do. Khát vọng thể hiện bản thân, khát vọng chinh phục đỉnh cao được thôi thúc bởi khát vọng tự do sẽ tạo ra nguồn năng lượng tinh thần rất lớn.

Đội tuyển U23 Việt Nam đã tạo ra chất xúc tác khơi dậy được khát vọng tự do chinh phục đỉnh cao với hàng triệu người hâm mộ.

Nhưng ở nhiều lĩnh vực khác lại bị hạn chế tự do biểu đạt, tự do sáng tạo. Nên năng lượng của mỗi người không được giải phóng hết mức.

Nhật Bản và nhiều quốc gia khác đang mơ ước có được nguồn năng lượng từ dân số trẻ như Việt Nam hiện nay. Nhưng liệu có bao nhiêu bạn trẻ đang nhận thức được vai trò của mình ra sao trong xã hội? Đất nước đang đối mặt với những vấn đề gì? Tương lai dân tộc sẽ ra sao?...

Khi thanh niên chưa tự vấn những câu hỏi ấy thì đất nước sẽ rất lãng phí nguồn năng lượng khổng lồ. Khi đó, dù đang trong thời kỳ dân số trẻ, nguồn sức mạnh quốc gia sẽ ngủ quên và đất nước khó bứt phá vượt lên.

Nếu hàng triệu người hâm mộ bóng đá dùng tất cả năng lượng say mê như vậy để làm những việc thiết thân hằng ngày thì chắc chắn đất nước sẽ đổi khác.

Vì sao thanh niên Việt Nam chưa có được những thôi thúc khát khao kiến tạo quốc gia như thế hệ thanh niên sôi sục nhiệt huyết canh tân đất nước của Nhật thời kỳ Minh trị duy tân?

Tôi nghĩ chính thiết chế, bối cảnh của Việt Nam đã và đang làm ức chế mầm mống khát khao sáng tạo. Ngay từ khi sinh ra, giáo dục gia đình Việt Nam chưa tốt đã tạo ra các định kiến với trẻ. Khi đến trường, học sinh bị hạn chế tự do biểu đạt, hạn chế sáng tạo. Đến khi đi làm, nếu ngay thẳng, trung thực với lý tưởng có khi sẽ bị trù dập. Vậy nên tôi cảm nhận rất rõ trong xã hội hiện nay là ai cũng cố gắng co mình lại để tồn tại.

Thanh niên Việt Nam hiện nay chưa phát huy hết nguồn năng lượng trong công việc còn là hệ quả của lịch sử, văn hoá từ rất lâu tích luỹ lại, đè nặng lên vai các bạn trẻ.

Thể hiện niềm đam mê bóng đá là cách dễ dàng nhất để giải phóng năng lượng. Nhưng trong công việc đòi hỏi sự thầm lặng tiêu tốn nhiều năng lượng lại không dễ như vậy.

Sự kiện U23 Việt Nam vừa rồi đã gợi cảm hứng để mỗi người suy ngẫm về sức mạnh của thế hệ thanh niên hiện nay. Để phát huy nguồn năng lượng đó, mỗi thanh niên cần có nghị lực, ý chí, mục tiêu, triết lý để theo đuổi.

Con người là nguồn lực quý giá nhất, nếu để lãng phí nguồn lực trẻ hiện nay, đất nước sẽ lỡ thời cơ vươn lên.

Thời gian dân số trẻ của Việt Nam không còn nhiều. Làm sao để khơi dậy cảm hứng, đánh thức nguồn năng lượng vô tận của thế hệ thanh niên hiện nay vào công cuộc xây dựng đất nước?

Trước hết, cần có môi trường xã hội dân chủ tự do để mỗi người khẳng định được giá trị cá nhân của mình, đảm bảo cho sự sáng tạo.

Cần có chính sách cải cách giáo dục thực sự bởi giáo dục có thể thay đổi con người. Cải cách phải tạo ra môi trường giáo dục đích thực, nơi học sinh cảm động với việc học và học thực sự. Như vậy thì con người mới có thể thay đổi được.

Nguồn năng lượng của thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay như những chất quặng thô, cần tinh chế qua môi trường giáo dục, môi trường xã hội để đào luyện thành những sản phẩm quý.

Còn ngắn hạn, Chính phủ cần nỗ lực cải cách nhiều hơn để người dân được tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình quản trị nhà nước.

Nhà nước nên tôn trọng và đảm bảo môi trường pháp lý tốt đảm bảo cho giáo dục tư phát triển cùng với đẩy mạnh cải cách giáo dục công.

Cần có môi trường đảm bảo để thanh niên tham gia tích cực vào các hoạt động của xã hội dân sự như các câu lạc bộ chống nghiện rượu, bia, đau xe, bảo vệ môi trường... để tạo cân bằng xã hội.

VŨ VIẾT TUÂN thực hiện

p.s. Bài pv này được thực hiện 01 năm về trước và một phần đã đăng trên báo Tuổi Trẻ.