Xã hội hóa (Socialization)


Xã hội hóa là gì?

Xã hội hóa là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình con người thông qua tác dụng tương hỗ với người khác, mà có được các giá trị tập đoàn  như  thái độ giá trị, kĩ năng, tri thức của tập đoàn hay xã hội phụ thuộc vào và từ đó hình thành tư duy, mô thức hành động trong phạm vi cho phép nhất định trong tập đoàn hay xã hội đó với tư cách là thành viên phụ thuộc. Tóm lại, đó là quá trình  trẻ em (học sinh) trở thành người trưởng thành trong xã hội mà chúng phụ thuộc vào.

Do đó, xã hội hóa là quá trình gắn kết tương hỗ giữa cá nhân và xã hội và được quy định từ cả hai phía cá nhân và xã hội. Nếu xét từ phía cá nhân thì xã hội hóa  là quá trình cá nhân có được giá trị mang tính tập đoàn và phát triển nên nhân cách (personality) của bản thân. Nếu xem xét từ phía xã hội thì đó là quá trình  truyền đạt giá trị mang tính tập đoàn cho cá nhân mới sinh ra và làm cho các nhân đó thích hợp với mô thức cuộc sống nhất định của tập đoàn hay xã hội đó. Xã hội hóa như vậy là quá trình diễn ra đồng thời hai chức năng là học tập mang tính cá nhân và truyền đạt văn hóa. Vì thế, xã hội hóa  là quá trình ứng đối có tính điển hình ở thời kì trẻ bú sữa và thời kì thanh niên-quãng thời gian đang trên đường phát triển trưởng thành hòa vào xã hội.

Thứ tương ứng với công việc xã hội hóa của thành viên mới của xã hội là agent. Trong agent thứ có vai trò quan trọng nhất là gia đình. Bên cạnh đó còn có bè bạn, địa phương, trường học, nơi làm việc, phương tiện truyền thông.

Nghiên cứu xã hội hóa được tiến hành trên các phương diện chính trị, kinh tế, đạo đức, nghề nghiệp, văn hóa.

Xã hội hóa chính trị

Xã hội hóa chính trị là quá trình cá nhân có được mối quan tâm, thái độ, tri thức về chính trị và chủ yếu được nghiên cứu ở 4 phương diện sau.

(1) hình thành nhân cách chính trị

Nhân cách chính trị có mối quan hệ mạnh mẽ với  hành động chính trị. Nếu như vào thời niên thiếu, mà không phát triển lòng tín nhiệm đối với chính trị khi tin rằng chính trị là thứ bảo vệ mình thì sẽ có sự bất tín đối với chính trị và dẫn đến hình thành nhân cách quyền uy chủ nghĩa.

(2) phát triển mối quan tâm chính trị

Đối tượng của mối quan tâm chính trị bắt đầu từ  cá nhân ví dụ như  chính trị gia và cùng với tuổi tác nó sẽ chuyển thành mối quan tâm tới chế độ chính trị. Thêm nữa, chí hướng đối với quyền uy chính trị như thủ tướng sẽ bắt đầu từ sự đánh giá tích cực và trên thực tế thì dần dần sẽ chuyển sang sự đánh giá tiêu cực.

(3) Hình thành lòng mong muốn tham gia.

Mối quan tâm chính trị không phải khi nào cũng đem tới sự tham gia chính trị. Lòng mong muốn tham gia chính trị có hai loại thuộc về hai cảm quan đối với tác dụng của chính trị: cảm quan nghĩa vụ công dân muốn tham gia quá trình chính trị dù không rõ hiểu quả của hành động tham gia của bản thân thế nào và cảm quan cho rằng hành vi chính trị của cá nhân sẽ tạo ra ảnh hưởng đối với quá trình chính trị và có khả năng tạo nên hiệu quả. Cả cảm quan nghĩa vụ công dân và cảm quan về tính hiệu quả của chính trị được bắt đầu hình thành từ rất sớm và được lưu giữ sau khi trưởng thành.

(4) Hình thành thái độ ủng hộ đảng chính trị (chính đảng)

Trong nghiên cứu xã hội hóa chính trị, lĩnh vực này được nghiên cứu nhiều nhất. Hình ảnh và lòng yêu mến đối với chính đảng được hình thành tương đối sớm và ảnh hưởng từ cha mẹ cũng rất lớn. Ở nước ta, học tập về chính trị  được tiến hành ở lớp 6 tiểu học và lặp lại ở lĩnh vực công dân năm thứ ba trung học cơ sở và ở môn công dân cấp THPT. Tuy nhiên nhìn vào sự suy giảm của tỉ lệ người đi bỏ phiếu và tỉ lệ đi bỏ phiếu thấp của giới trẻ thì có thể nói sự hình thành ý thức chính trị là chưa đầy đủ. Cần phải sửa đổi học tập chính trị từ cái nhìn xã hội hóa chính trị.

Xã hội hóa kinh tế

Xã hội hóa kinh tế là quá trình cá nhân có được các phẩm chất cần thiết trong quá trình duy trì hệ thống kinh tế xã hội tương ứng và tiến hành hành vi kinh tế hay đóng vai trò kinh tế. Trong xã hội hóa kinh tế có hai phương diện là phương diện hành động trong hành vi kinh tế ở đó lòng mong muốn của cá nhân thông qua phương diện trung gian là tiền bạc sẽ biến thành khả năng và phương diện thái độ như động cơ, giá trị đối với các hiện tượng kinh tế, hành động thói quan và suy nghĩ.

Trong môn Xã hội của nước ta, học tập kinh tế được tiến hành dưới hình thức học tập về nghề nghiệp, sản xuất, học tập kinh tế học đúng nghĩa được tiến hành ở lĩnh vực công dân đối với học sinh năm thứ ba THCS và ở môn công dân cấp THPT.  Thêm nữa, để ứng phó với vấn đề người tiêu dùng luật bảo hộ người tiêu dùng được công bố năm 1968 dã đưa vào nội dung “người tiêu dùng thông minh”. Tiếp nhận điều này, trong môn Xã hội và môn Gia đình giáo dục tiêu dùng đã được triển khai một cách tích cực.

Đặc trưng của xã hội hóa hiện đại

Xã hội hiện đại là xã hội với sự đa dạng hóa về giá trị. Vì vậy, xã hội hóa không phải là thứ tiến hành một cách tự nhiên và giản đơn như trong xã hội thuần nhất, truyền thống. Trong xã hội truyền thống, thuần nhất, mô hình xã hội hóa hay nói cách khác tiêu chuẩn trở thành người trưởng thành rất rõ ràng và trẻ em chỉ việc tiến theo hướng đó. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại do sự đa dạng hóa về giá trị mà có sự xung đột về giá trị giữa các thế hệ, tập đoàn và mô hình xã hội hóa từ trước tới này không còn thông dụng nữa. Do đó sự xã hội hóa trẻ em trở thành trách nhiệm của cha  mẹ. Tuy nhiên giá trị quan của thế hệ cha mẹ lại lung lay vì thế thế hệ cha mẹ rơi vào tình cảnh bất an do mất đi quyền uy và sự tự tin. Các bậc cha me muốn che giấu điều này nên trái lại đã hướng về phương hướng có vẻ đồng điệu. Việc làm cho trẻ em tất bật trong cuộc cạnh tranh thi cử có lẽ là một hành vi tỏ ra đồng điệu xuất phát từ nỗi bất an và mất tự tin của cha mẹ. Xã hội bằng cấp có lẽ là kết quả sinh ra từ  hành vi có vẻ đồng điệu đó.

Bên cạnh đó, trong xã hội hiện đại với những biến động mạnh mẽ, do sự mất mát của mô hình xã hội hóa như trên, tái xã hội hóa thế hệ người trưởng thành cũng là điều cần thiết. Hình ảnh người trưởng thành đạt tới xã hội hóa, có năng lực ứng phó với xã hội đa nguyên hóa và thay đổi nhanh chóng về giá trị, kĩ thuật, tri thức đang sụp đổ. Cá nhân cần phải được xã hội hóa trong suốt cuộc đời mình.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)