Vở ghi

Vấn đề đặt ra đối với chỉ đạo vở ghi

“Bây giờ chúng ta hãy tóm tắt bài học vào vở ghi nào”. Học sinh khi nghe lời chỉ đạo này của giáo viên sẽ tiến hành chép các mục được ghi trên bảng vào vở. Những lớp học như vậy vẫn còn đâu đó ở cấp tiểu học, trung học cơ sở. Đó là những giờ học mà phần lớn thời gian dành cho việc thuyết giảng và viết bảng của giáo viên và ghi chép vào vở của học sinh. Đây cũng là kiểu giờ học hay thấy ở cấp THCS và THPT. Từ tình huống mà ở đó cả giáo viên và học sinh đều cho rằng chỉ cần ghi chép nội dung trên bảng vào vở là ổn có thể thấy được “quan điểm về vở ghi” của họ. Ngoài ra lại có giờ học có sự trao đổi diễn ra sôi nổi nhưng kết cục thì từng học sinh lại không có cơ hội ghi suy nghĩ vào vở. Trong giờ học Xã hội sử dụng nhiều hoạt động thảo luận, sự chỉ đạo học tập không đảm bảo việc ghi vở của học sinh cũng rất đáng chú ý. Thêm nữa, nếu như nhìn vào vở của học sinh trong giờ học, ta cũng nhận ra vấn đề sau. Đó là việc học sinh đã cất công  ghi chép cảm tưởng và suy nghĩ nhưng ở đó không hề thấy dấu vết của câu trả lời từ phía giáo viên. Ở đó không thấy bóng dáng người giáo viên đọc hiểu, công nhận suy nghĩ của từng học sinh và dùng nó vào sự triển khai giờ học.

Bản chất của cuốn vở phải là nơi ghi dấu quá trình học giữa giáo viên và học ính thông qua các giờ học. Với tư cách là sự thực hiện nhất thể hóa giữa chỉ đạo và đánh giá và phong phú trong học tập, vở ghi xứng đáng được đặt nhiều kì vọng. Tuy nhiên, nhìn vào vở ghi của học sinh hiện tại, chúng ta lại thấy ở đó những vấn đề về sự chỉ đạo học tập của giáo viên trong giờ học.

Chức năng của vở ghi

Higashi Yoshio đã chỉ ra bốn chức năng của vở ghi là: “chức năng là vở luyện tập”, “chức năng ghi chép cho khỏi quên”, “chức năng lưu giữ, chỉnh lý”, “chức năng tìm kiếm”. (“Học lực nuôi dưỡng thôn làng”, Meiji Tosho, 1957). Thông thường khi nói tới việc “ghi vở” thì phần lớn học sinh ghi chép các nội dung chủ yếu, những điểm muốn ghi nhớ. Tức là thực hiện chức năng “ghi chép cho khỏi quên”. Hoặc là sử dụng nó để tính toán hay viết chữ Hán tức là thực hiện chức năng “luyện tập”. Tuy nhiên từ giờ trở đi  chức năng của vở ghi phải chuyển từ chỗ là nơi “lưu giữ, chỉnh lý” sang “tìm kiếm”. Shimoda Kazutoshi đã nói về điều này như sau: “Vở ban đầu có chức năng với tư cách là dụng cụ chủ thể hóa việc học tập, bản thân trẻ em viết tự do và nhờ việc viết như vậy mà phát triển được tư duy” (“Cách sống của trẻ em trong quá trình giờ học”, “Giáo dục môn Xã hội”, Meiji Tosho, số tháng 2 năm 1972). Nói tóm lại đó là việc “vừa viết vừa nghĩ, vừa nghĩ vừa viết” và vở phải là nơi ghi lại con đường nhận thức được phản ánh trong các biểu hiện mang tính cá nhân đó. Tức là chuyển từ “vở ghi” một cách thụ động sang “vở sáng tạo” có tính chủ động nâng đỡ lòng mong muốn tìm kiếm của học sinh.

 

Hình thức của vở ghi và đánh giá

Bên cạnh đó Shimoda cũng cho rằng cần phải thay đổi “quan điểm về vở ghi” vốn coi nó như là một thứ phải viết theo hình thức và quy cách do giáo viên đặt ra. Tiếp theo Shimoda đưa ra quan điểm về đánh giá vở ghi (“vở ghi sử dụng trong giờ học”, “Nghiên cứu giờ học”, Meiji Tosho, số tháng 9 năm 1980): “Vở ghi phải là nơi biểu hiện chân thực suy nghĩ và cảm nhận thực tế của học sinh”, “Vở có chức năng chủ thế hóa học tập vì thế phải thấy ở đó dấu vết của việc truy tìm vấn đề mang tính cá nhân”, “cần phải đánh giá bản thân xem học được gì từ thầy cô, bạn bè, giáo tài, bằng việc học như vậy đã đem đến sự phát triển tư duy như thế nào”.

Nếu như đứng trên quan điểm về vở ghi như trên, đương nhiên  sẽ không còn việc đánh giá vở ghi cực đoan dựa trên hình thức như “ghi đẹp”, “dễ nhìn”. Trái lại giáo viên sẽ có  xem xét  xem “tư duy và cảm nhận của học sinh” tương ứng với sự phong phú, cá tính như thế nào, xem xét xem “dấu vết của sự truy tìm” hay “đánh giá bản thân” có ý nghĩa như thế nào…

Sử dụng vở ghi trong giờ học

Vở ghi thường không được giáo viên đọc cho dù học sinh đã cất công viết vào đó cả ý kiến, cảm tưởng. Có trường hợp giáo viên chỉ đóng con dấu vào đó kèm theo ngày tháng và lời khen chung chung “tốt”. Yêu cầu đặt ra là giáo viên phải đọc, khuyến khích, đôi khi là kích thích học sinh dao động, suy nghĩ. Đó là sự trả lời của giáo viên đối với học sinh. Sự trả lời này nên viết bằng mực đỏ.

Việc trả lời bằng mực đỏ kèm theo sự khen ngợi, khuyến khích, đưa ra câu hỏi…. sẽ giúp nâng cao lòng mong muốn tìm kiếm của học sinh. Đó không chỉ là sự giao lưu về trí tuệ mà còn là chìa khóa mở ra cánh cửa trái tim thầy-trò tạo nên mối quan hệ tin tưởng qua lại. Việc chỉ đạo vở ghi như vậy cũng có thể nói là “một giờ học khác” mang tính cá biệt và công phu khác với giờ học nhất loạt diễn ra cùng với học sinh theo đơn vị lớp.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)