Văn hóa đời sống


Văn hóa đời sống trong lịch sử.

Thế giới lịch sử tồn tại trong quá khứ có thể được phân chia thành các lĩnh vực như lịch sử chính trị, lịch sử kinh tế, lịch sử xã hội, lịch sử quan hệ đối ngoại, lịch sử văn hóa…. tùy theo hiện tượng lịch sử mà nó lấy làm đối tượng. Trong đó lịch sử văn hóa lấy văn hóa của quá khứ làm đối tượng khảo sát có thể được phân chia thành biểu tầng văn hóa và cơ tầng văn hóa-chúng đan cài vào nhau và có ảnh hưởng tương hỗ với nhau. Biểu tầng văn hóa  là văn hóa thể hiện mạnh mẽ tính thời đại, có tính sáng tạo độc đáo được đại diện bởi những nhân vật và tác phẩm kiệt xuất. Ngược lại, văn hóa cơ tầng là văn hóa mang đặc trưng kế thừa, có tính loại hình, tập đoàn và là dòng chảy dưới đáy ý thức, hành động trong cuộc sống thường ngày của quốc dân, dân tộc nào đó. Văn hóa đời sống là thứ tương ứng với văn hóa cơ tầng trong thứ văn hóa như thế.

Khi suy ngẫm về nội dung văn hóa đời sống, các chủng loại văn hóa dân tục hữu hình và vô hình sẽ trở thành thứ tham khảo. Trong luật bảo hộ tài sản văn hóa có quy định  tài sản văn hóa dân tục là “ăn mặc ở, sinh nghiệp, tín ngưỡng, các phong tục liên quan đến các nghi lễ trong năm, văn nghệ dân tục và các dụng cụ, y phục, nhà cửa sử dụng trong đó cùng các điều kiện khác không thể thiếu nhằm lý giải sự biến đổi của đời sống quốc dân”. Có  thể coi nội dung văn hóa đời sống được thể hiện ở ăn mặc ở, sinh sản, sinh nghiệp, giao thông vận tải, liên lạc, mậu dịch, sinh hoạt xã hội, tín ngưỡng, tri thức dân tục, nghệ thuật, giải trí, trò chơi dân tục, cuộc đời con người.

Văn hóa đời sống trong bản Hướng dẫn học tập.

Trong bản Hướng dẫn học tập  năm 1947 và 1951,  nội dung liên quan đến văn hóa đời sống nằm trong tangen ví dụ của môn Xã hội được đưa ra. Bên cạnh đó, trong sách giáo khoa môn Xã hội ở trường tiểu học có tên “Xã hội Nhật Bản” do Yanagi Kunio biên soạn được phát hành từ năm 1954 đến 1959 có đưa vào nội dung liên quan đến văn hóa đời sống. Tuy nhiên về sau, trong học tập lịch sử  trong môn Xã hội ở cấp trung học và trung học cơ sở, học tập kiểu thông sử mạnh lên  nên nội dung văn hóa đời sống không còn được đưa ra với tư cách là nội dung độc lập.

Tuy nhiên trong bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1977 (bản dành cho THPT công bố năm 1978), thuật ngữ văn hóa đời sống lần đầu tiên được sử dụng và việc sử dụng nó được ghi rõ. Theo đó trong lĩnh vực lịch sử của môn Xã hội THCS có ghi “sử dụng thành quả của dân tục học, làm cho học sinh chạm đến văn hóa đời sống của quê hương”. Thêm nữa, ở môn Xã hội THPT ở môn “Xã hội hiện đại” mới được thiết lập cũng đưa ra nội dung “văn hóa đời sống Nhật Bản và truyền thống” đồng thời trong môn “Lịch sử Nhật Bản” cũng ghi rõ cách sử dụng văn hóa đời sống. Trong bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1998 (bản dành cho THCS ban hành năm 1999) vẫn tiếp tục cách ghi như trên và tiếp tục được bổ sung cho đến ngày nay.

 Bối cảnh đề xướng học tập văn hóa đời sống

Từ nửa sau thập kỉ 70, học tập văn hóa đời sống được nhấn mạnh trong hoàn cảnh như sau.

Trước hết, với tư cách là động thái học thuật, dưới ảnh hưởng của “trường phái Annals” của Pháp, trong nghiên cứu lịch sử học của nước ta, nghiên cứu “lịch sử xã hội” cũng trở nên phổ biến. Nghiên cứu lịch sử xã hội coi trọng việc hướng đến nắm vững toàn bộ thế giới lịch sử quá khứ và để làm được điều đó thì khi khảo sát các hiện tượng biểu hiện ở bên ngoài lịch sử, việc tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng tiếp diễn trường kì ở phần sâu bên trong lịch sử và hiện tượng chỉ thay đổi ở thời điểm nào đó có vai trò quan trọng. Nói một cách khác là vừa tìm ra mối liên hệ với văn hóa đời sống trên vũ đài lịch sử  vừa khảo sát lịch sử chính trị, lịch sử kinh tế, lịch sử quan hệ đối ngoại…

Tiếp theo, với tư cách là động thái xã hội, trong quá trình nền kinh tế tăng trưởng cao từ thập niên 60 trở đi,  do sự thay đổi cơ cấu sản xuất và đô thị hóa, xã hội địa phương thay đổi đột ngột  và kết quả là phần lớn văn hóa đời sống đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt. Trong bối cảnh như thế, các câu hỏi như người Nhật là gì, đặc trưng của văn hóa Nhật Bản là gì… đã được đặt ra. Ngay cả khi so sánh với tình hình phát triển quốc tế hóa những năm gần đây cũng thấy sự cần thiết của các câu hỏi như vậy vẫn đang tiếp diễn.

Thêm nữa, với tư cách là động thái của giáo dục,  đó là phản tỉnh từ giáo dục lịch sử truyền thống chú trọng việc truyền thụ tri thức về nhân vật, sự kiện, niên hiệu. Đối với học sinh, do không hiểu được ý nghĩa của việc học lịch sử cho nên việc cảm nhận được sự liên hệ giữa thế giới lịch sử trong quá khứ với bản thân gặp nhiều khó khăn. Để cải thiện tình trạng đó thì một trong những phương pháp là nhấn mạnh học tập văn hóa đời sống mamg đậm đặc trưng khu vực, tính quần chúng và tính thường ngày.

Một số điểm lưu ý khi chỉ đạo học tập văn hóa đời sống

Nếu như suy nghĩ tổng hợp từ các nội dung nêu trên thì thấy  khi đưa ra nội dung về văn hóa đời sống trong học tập lịch sử từ giờ về sau, việc lưu ý những điểm sau là cực kì quan trọng.

Trước hết, không nên đưa ra các chủ đề về nội dung văn hóa đời sống theo kiểu chọn điều tốt thuần túy mà cần phải đưa ra các động thái chính trị, xã hội từng thời kì và mối liên hệ giữa chúng. Thứ nữa, không tiếp cận văn hóa đời sống chung chung, trừu tượng mà cần đưa ra các nội dung tiêu biểu của địa phương cùng điều kiện cụ thể và mối liên hệ giữa chúng.

Thứ ba, việc tiến hành các hoạt động học tập lấy học sinh làm chủ thể với sự tham gia tích cực của học sinh như tham quan bảo tàng, phòng bảo quản tư liệu, điều tra, phỏng vấn người địa phương có vai trò quan trọng.

Thứ tư, việc đứng trên lập trường rộng lớn để nhìn Nhật Bản trong lòng thế giới  và tạo ra sự liên hệ với việc lý giải đa văn hóa là rất cần thiết. Và việc học sinh thông qua học tập văn hóa đời sống mà có cái nhìn sửa đổi đối với văn hóa địa phương và lối sống bản thân, tạo ra cơ hội học tập sáng tạo  về văn hóa đời sống là điều đang được kì vọng.
Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)