“Vấn đề thời sự” và “Nghiên cứu tự do” trong chương trình giáo dục phổ thông Nhật Bản thời hậu chiến (1945-1955)


  1. Sự ra đời

Cuộc cải cách giáo dục ở Nhật Bản diễn ra sau năm 1945 trong bối cảnh Nhật Bản bị quân Đồng minh chiếm đóng là một cuộc cải cách giáo dục toàn diện và triệt để. Triết lý giáo dục thay đổi từ giáo hóa “thần dân” sang giáo dục “công dân”; hệ thống trường học chuyển thành 6-3-3-4 (6 năm tiểu học, 3 năm THCS, 3 năm THPT và 4 năm đại học); hành chính giáo dục chuyển từ trung ương tập quyền sang phân quyền cho Ủy ban giáo dục ở các địa phương; hành chính giáo dục tách dần khỏi hành chính nói chung; xây dựng lại toàn bộ khóa trình giáo dục mới; sách giáo khoa chuyển từ “quốc định” sang “kiểm định”… Trong khóa trình giáo dục mới, môn Nghiên cứu Xã hội (Social Studies – gọi tắt là môn Xã hội) được thiết lập với tư cách là môn học hoàn toàn mới đảm nhận vai trò hạt nhân của công cuộc cải cách giáo dục nhằm tạo ra người công dân của xã hội dân chủ. Sự ra đời của môn Xã hội xuất phát từ triết lý giáo dục mới đã kéo theo sự ra đời của “Nghiên cứu tự do” và “Vấn đề thời sự”.

“Nghiên cứu tự do” ra đời khi Bộ giáo dục Nhật Bản phát hành Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1947 và chính thức biến mất trong Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1951. “Vấn đề thời sự” cũng ra đời cùng với Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1947 và chấm dứt sứ mệnh khi Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1955 phát hành. Có thể nói “Nghiên cứu tự do” có mối quan hệ mật thiết với sự ra đời của môn Xã hội và “Vấn đề thời sự” là môn tự chọn có tính chất tổng hợp nhất trong số các môn thuộc môn Xã hội ở trường THPT cho dù cả hai chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.

Trước khi Bản hướng dẫn học tập ra đời, “ Nghiên cứu tự do” đã diễn ra ở khắp các địa phương dưới những hình thức rất phong phú. “Nghiên cứu tự do” dưới thời này được tiến hành dưới dạng hoạt động của câu lạc bộ, đơn vị hành chính tự trị, hoạt động nghiên cứu khám phá… Một số trường hợp đã trở thành nền tảng và phá triển thành môn Xã hội.

  1. “Nghiên cứu tự do” trở thành môn giáo khoa

    Bản hướng dẫn học tập năm 1947 đã thiết lập “Nghiên cứu tự do” cùng với các môn giáo khoa nói chung khác ở trường phổ thông. Thời lượng dành cho nó ở cấp học tiểu học là trên 2-4 giờ một tuần, ở cấp THCS là từ 1-4 giờ một tuần. Mục đích chủ yếu của “Nghiên cứu tự do” là đảm bảo về mặt thời gian cho học sinh nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu những vấn đề mà học sinh có hứng thú trong quá trình học tập các môn giáo khoa. Bên cạnh đó, thời gian dành cho “Nghiên cứu tự do” ở nhiều trường còn diễn ra dưới hình thức câu lạc bộ, trực tuần hay hoạt động của Ủy viên lớp.

Tình hình tổng quát của việc thực thi “Nghiên cứu tự do” được Bộ giáo dục Nhật Bản chỉ ra trong ấn bản “Kết quả thực hiện Nghiên cứu tự do” (1950). Kết quả này có thể tóm tắt gọn lại ở mấy điểu sau:
(1) Rất nhiều trường bố trí 2 giờ/tuần
(2) Các trường tiến hành dưới hình thức câu lạc bộ chiếm đa số.
(3) Các môn giáo khoa liên quan đến nghiên cứu nhiều nhất là Toán, Khoa học, Quốc ngữ, Thể dục. Thực chất hoạt động này là hoạt động học phụ đạo.
Từ sự tổng kết nói trên có thể thấy mục đích của “Nghiên cứu tự do” nhằm phát triển cá tính sáng tạo của học sinh trong học tập các môn giáo khoa là không đạt được. Các nghiên cứu về thực tiễn ở hiện trường thời kỳ này cũng rất ít ỏi. Tiếp nhận thực tiễn này, Bộ giáo dục Nhật Bản vào năm 1949 đã đình chỉ “Nghiên cứu tự do” ở cấp THCS và xóa bỏ nó trong hoạt động ngoại khóa. Ở cấp học THPT “Nghiên cứu tự do” không được thiết lập nhưng ở các trường có “Nghiên cứu tự do” trong chương trình về sau cũng chuyển thành “Luận văn tốt nghiệp”.

  1. “Vấn đề thời sự” 
    Bằng Bản hướng dẫn học tập năm 1947 từ cấp tiểu học đến năm thứ nhất THPT, môn “Xã hội tổng quát” được lập ra với tư cách là môn học tự chọn. Môn học này bao gồm Đông dương sử, Tây dương sử (về sau hợp lại thành Lịch sử thế giới), Địa lý nhân văn (về sau còn có cả Lịch sử Nhật Bản), và “Vấn đề thời sự”. “Vấn đề thời sự” được coi là môn giáo khoa không có sách giáo khoa. Giáo tài được tạo ra từ các “topic” hiện thực và là môn có tính tổng hợp của “Xã hội tổng quát”.
    Tuy nhiên vào năm 1950, Bản hướng dẫn đại cương về thiết kế các bài học “Vấn đề thời sự” được công bố. Thêm nữa từ năm 1952 trở đi sách giáo khoa cũng được phát hành và nội dung được biên soạn theo hướng hệ thống hóa. Tuy nhiên đến năm 1955 thì “Vấn đề thời sự” hoàn toàn biến mất trong Bản hướng dẫn học tập.
    Chương trình (plan) của “Vấn đề thời sự” được từng tỉnh tạo ra. Trong các thực tiễn giáo dục ở các địa phương này, học sinh đã vừa sử dụng báo chí vừa nghiên cứu nhóm và tiến hành phát biểu sôi nổi. Theo kết quả điều tra bằng bảng hỏi của Wakana Toshiyuki thì các giáo viên, người tiến hành thực tiễn, đáp: “rất khó tiến hành” còn học sinh thì đáp: “Rất thú vị”. Ở đây có một sự trái ngược giữa người “dạy” và người “học” về “Vấn đề thời sự”. Có lẽ giờ học đưa ra các vấn đề hiện thực là điều khó khăn đối với các giáo viên nhưng học sinh lại thích thú và đánh giá cao.
  2. Nguyên nhân suy thoái của “Vấn đề thời sự”.

Nguyên nhân rất phức tạp. Có thể liệt kê như sau:
(1) Việc vừa đưa ra các chủ đề thời sự vừa quy nạp về các vấn đề phổ biến trên thực tế cần đến phương pháp tổ chức giờ học ở trình độ cao.
(2) Sự chiếm đóng của quân Đồng minh kết thúc làm cho ngoại lực tác động xúc tiến môn Xã hội sơ kỳ không còn nữa.
(3) Trong bối cảnh chiến tranh lạnh với sự đối đầu về tư tưởng việc tiến hành các giờ học tranh luận về thời sự trở nên khó khăn.
(4) Sự thay đổi quan chức phụ trách trong bộ giáo dục.
(5) Áp lực thi cử tăng cao.
Cho dù là nguyên nhân nào đi nữa thì sự chưa trưởng thành của việc tiếp nhận nơi hiện trường vẫn là lý đo lớn. Việc biên soạn hướng dẫn thiết lập các bài học và cả sự ra đời của sách giáo khoa đã nói lên yêu cầu này. Sự biến mất của “Nghiên cứu tự do” và “Vấn đề thời sự” chính là sự quay trở lại giờ học theo kiểu truyền đạt. Trong bối cảnh cải cách giáo dục hiện nay khi vấn đề phát huy tính tự chủ, sáng tạo của học sinh được coi trọng, các nhà giáo dục Nhật Bản lại có xu hướng đánh giá cao “Nghiên cứu tự do” và “Vấn đề thời sự”.

Tháng 11/2012.
Nguyễn Quốc Vương dịch