Vấn đề ô nhiễm môi trường và môn Xã hội


  1. Sự ứng phó với vấn đề ô nhiễm và giáo dục môi trường

Sự tăng trưởng kinh tế cao độ của Nhật Bản sau chiến tranh vào thập niên 60 đã làm xảy ra vấn đề xã hội lớn lao là ô nhiễm môi trường. Đây là sự kiện vô cùng bi thảm gây hại cho sinh mệnh của con người. Đối phó với vấn đề này, môn Xã hội đã đối ứng bằng hình thức học tập về ô nhiễm và bộ môn này cũng đóng vai trò trung tâm. Điều này được thể hiện chính thức công khai trong sự sửa đổi một phần bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội sau khi thảo luận ở quốc hội về vấn đề ô nhiễm năm 1970 (năm Showa thứ 45). Trong bản sửa đổi này có nhấn mạnh: “bảo vệ sức khỏe của quốc dân và môi trường cuộc sống” khỏi ô nhiễm.

Bước vào nửa đầu thập niên 70, tính cần thiết của “giáo dục môi trường” đã được đặt ra và tư duy đi từ “học tập về ô nhiễm sang giáo dục môi trường” đã trở nên phổ quát. Điều này cũng thể hiện sự tự giác về giới hạn của học tập về ô nhiễm. Tức là trong học tập về ô nhiễm với tích chất như là liệu pháp trị bệnh có chứa đặc điểm hạn chế là nó không có quan hệ gì với việc giải quyết một cách cơ bản các vấn đề môi trường. Thêm nữa, điều này còn có liên quan mật thiết tới việc trung tâm của các vấn đề môi trường đã chuyển từ ô nhiễm công nghiệp sang ô nhiễm đô thị, ô nhiễm sinh hoạt hay vấn đề phá hoại tự nhiên. Trong bối cảnh đó giáo dục môi trường nhắm tới hình thành đạo đức môi trường và nhận thức môi trường dựa trên tư tưởng sinh thái học, hướng tầm mắt về môi trường ở nghĩa rộng đã được đặt ra. Giống như Hội nghị liên hợp quốc về môi trường con người (United Nations Conference on the Human Environment)năm 1972 chỉ ra, sự cần thiết của việc giải quyết vấn đề môi trường và giáo dục môi trường đã được chú ý với tư cách là vấn đề quốc tế.

Giáo dục môi trường không chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề môi trường mà nó phải phát triển tới việc sáng tạo ra môi trường khác tốt đẹp hơn. “Sáng tạo ra môi trường khác tốt đẹp hơn” tức là việc tạo ra mối quan hệ tốt đẹp hơn đối với mọi sự vật ở xung quanh”. Nói một cách đơn giản thì nó không phải là việc nhắm đến đạt được các tri thức về môi trường, vấn đề môi trường và sự lý giải chúng mà nhắm đến việc giáo dục nên con người có thể hành động dựa trên sự tự giác và trách nhiệm trong tư cách là người tạo nên môi trường. Nếu như vậy thì có thể nói giáo dục môi trường sẽ thống nhất với môn xã hội trong việc nhắm đến mục tiêu làm sâu sắc nhận thức xã hội và giáo dục phẩm chất công dân. Với tư cách là một chủ đề quan trọng của môn Xã hội, giáo dục môi trường đã bắt đầu được thực hiện.

  1. Sự ứng phó với vấn đề môi trường có quy mô toàn cầu.

Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế đình trệ và hiện tượng ô nhiễm được cải thiện, giáo dục môi trường đã không đạt đến sự phát triển vững chắc trong thực tiễn. Thêm nữa giáo dục môi trường của giáo dục xã hội coi trọng trải nghiệm tự nhiên và giáo dục môi trường của giáo dục trường học với trung tâm là các thực tiễn có liên quan đến môi trường sinh thái đã biến giáo dục môi trường thành học tập trải nghiệm tự nhiên, bảo hộ thiên nhiên, học tập về thiên nhiên. Liên quan đến điểm này thì trách nhiệm của môn Xã hội có thể nói là rất lớn.

Vào cuối thập niên 80, một lần nữa giáo dục môi trường lại được chú ý. Điều này có mối quan hệ mật thiết với việc vấn đề môi trường có quy mô toàn cầu đã được chính trị, truyền thông đưa ra ở nhiều phương diện. Thêm nữa, bối cảnh của việc giáo dục môi trường được tiến hành tích cực hơn thời trước là do có sự đối ứng của Bộ giáo dục. Bộ giáo dục vào năm 1991 (năm Heisei thứ 3), năm 1992 (năm Heisei thứ 4), năm 1995 (năm Heisei thứ 7) đã lần lượt cho biên soạn : “Tài liệu chỉ đạo giáo dục môi trường” (bản dành cho trường THCS, THPT), “Tài liệu chỉ đạo giáo dục môi trường “(bản dành cho trường tiểu học), “Tài liệu chỉ đạo giáo dục môi trường” (Bản mẫu) và tiến hành giáo dục môi trường ở trong trường học.

Với tư cách là sự tiến hành giáo dục môi trường vào thập niên 90, nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992, khái niệm “phát triển bền vững” đã trở thành khái niệm trung tâm của giáo dục môi trường. Bằng khái niệm này, ở Nhật Bản giáo dục môi trường vốn nghiêng về hình ảnh mang tính phiến diện như trải nghiệm thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, học tập về thiên nhiên đã lấy lại được tính chất tổng hợp bao gồm cả các vấn đề như xã hội, kinh tế, lịch sử, văn hóa. Đây là điều rất quan trọng.

Trong giáo dục môi trường với trung tâm là khái niệm “phát triển bền vững” việc môn Xã hội phải đóng vai trò xúc tiến có thể hiểu được một cách rất đơn giản. Có thể nói không quá rằng sự phát triển của giáo dục môi trường từ giờ trở đi có liên quan đến cách thức tiến hành môn Xã hội.

  1. Cải cách giáo dục và giáo dục môi trường.

Bước vào nửa sau thập niên 90 do mối quan hệ với cải cách giáo dục mà giáo dục môi trường trở thành đề tài được dư luận quan tâm. Trong bản Báo cáo lần thứ nhất của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương tháng 7 năm 1996 (năm Heisei thứ 8) trong “chương 5. Vấn đề môi trường và giáo dục” của “phần 3. Nền giáo dục ứng phó với sự biến đổi của xã hội phát triển với khoa học kĩ thuật, quốc tế hóa, thông tin hóa” đã nhấn mạnh tính cần thiết và tầm quan trọng của giáo dục môi trường và đề xướng tiến hành giáo dục môi trường một cách tích cực. Sau đó trải qua báo cáo của Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục và sự công bố Bản hướng dẫn giảng dạy, “thời gian học tập tổng hợp” đã được thiết lập và trong thời gian này các vấn đề tổng hợp về môi trường đã được coi trọng.

Vậy thì, giáo dục môi trường trong môn Xã hội nên được tư duy như thế nào?

Trong giáo dục môi trường có ba quan điểm được coi trọng là “trong môi trường”, “về môi trường” và “vì môi trường”. Môn Xã hội nên đóng vai trò lớn trong việc thống hợp ba quan điểm này. Môn Xã hội nhắm đến giáo dục tổng hợp phẩm chất công dân và làm sâu sắc nhận thức xã hội chắc chắc sẽ có thể tạo nên sự cống hiến lớn đối với ba cách nhìn trên.

Thêm nữa, đối với việc giải quyết vấn đề môi trường thì cần phải diễn ra sự nghiên cứu kĩ ở cả mức độ các nhân và cấp độ xã hội. Việc giáo dục tình cảm phong phú trong giáo dục môi trường là cần thiết. Tuy nhiên nếu chỉ có tình cảm phong thú không thôi thì sẽ không thể giải quyết vấn đề môi trường. Cần phải có sự nghiên cứu về xã hội, kinh tế, văn hóa. Môn Xã hội cần phải tự nhận thức được rằng môn này đang nắm giữ trách nhiệm lớn với công việc đó.


Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000).

 


Cũ hơn Mới hơn