Tuyển chọn


 

Trong bản báo cáo lần thứ nhất của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương tháng 7 năm 1996, giáo dục năng lực sống trong sự thong thả, thực hiện triệt để tuyển chọn nội dung giáo dục với nền tảng-cơ sở, tôn trọng cá tính, thực hiện thời gian học tập tổng hợp đã được nêu ra. Bên cạnh bản báo cáo này, dựa trên nhiều bản báo cáo khác, Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục vào tháng 7 năm 1998 đã đưa ra phương châm cải cách gồm 4 điểm: “giáo dục năng lực tự mình học tập; tự mình suy nghĩ”, “trong bối cảnh triển khai hoạt động giáo dục yutori, nhắm đến hình thành nền tảng vững chắc, giáo dục làm phong phú cá tính”…Trong sửa đổi nội dung bản Hướng dẫn học tập học tập địa phương, học tập sản xuất và lãnh thổ, học tập lịch sử, học tập chính trị, học tập về lý giải quốc tế đã được nhấn mạnh đặc biệt và để nhắm tới học tập dựa trên mối quan tâm, hứng thú của học sinh, bản Hướng dẫn học tập đã cố gắng tuyển chọn đối tượng học tập và các ví dụ. Ví dụ như, Trong phần “Xử lý chất thải” ở lớp 3 và lớp 4, rác hoặc nước thải được lựa chọn, ở lớp 5 về “ô nhiễm” sẽ lựa chọn ô nhiễm không khí hoặc ô nhiễm nước. Ở lớp 6 sẽ đưa ra một vài nước có mối quan hệ sâu sắc với Nhật Bản và cho học sinh lựa chọn một nước để điều tra.

Căn cứ của sự sửa đổi trên là sự chuyển đổi từ học tập coi trọng tri thức trình bày la liệt sang tuyển chọn chặt chẽ nội dung giáo dục, học tập chú ý đến trang bị cho học sinh cách học, cách tìm kiếm thông tin, coi trọng học tập giải quyết vấn đề, học tập tìm ra ý nghĩa và cơ cấu các hiện tượng xã hội. Khi đó điều cần  chú ý là mức độ trừu tượng của nội dung học tập. Khi lựa chọn nội dung giáo dục sẽ đặt ra yêu cầu cấu trúc nội dung giáo dục theo tri thức cụ thể chứ không phải là sự thu nhận tri thức một cách hệ thống. Tuy nhiên, nếu như cụ thể thì cũng dễ rơi vào tình trạng các nhận thức về sự thật, hiện tượng một cách đơn nhất trở thành trung tâm và làm cho khó tạo ra mối quan tâm, hứng thú nơi học sinh làm cho sự triển khai giờ học rơi vào tình trạng coi trọng sự lý giải tri thức. Để tránh tình trạng này, cần phải nắm trước mối quan tâm, trải nghiệm đời sống và môi trường cuộc sống của học sinh, và xúc tiến học tập gắn kết nội dung học tập với đời sống của học sinh.

Thứ nhất là “hình thành lòng mong muốn học tập và ý chí”. Bằng việc làm cho cho học sinh có mối quan tâm, hứng thú với vấn đề học tập và đặt ra các nghi vấn, ý thức vấn đề ở học sinh sẽ được tạo ra. Chính lòng mong muốn giải quyết một cách tích cực các vấn đế sẽ trở thành chìa khóa hình thành phẩm chất công dân. Ở đó cần phải nâng cao lòng mong muốn đặt ra các nghi vấn của học sinh bằng việc khơi dậy trí tò mò, nâng cao tính tự giác bên trong của học sinh.

Thứ hai là “thu nhận cách thức học tập”. Trong môn Xã hội cần tiến hành tìm kiếm vấn đề học tập liên quan đến sự vận hành cơ cấu xã hội. Ở đây học sinh sẽ học cách tìm kiếm và học cách tiếp cận tìm ra mối liên quan giữa các sự vật, hiện tượng. Do vậy việc trang bị cho học sinh cách nhận thức sự vật, hiện tượng và hiểu ý nghĩa của chúng rất cần thiết. Năng lực tích cực đặt ra các nghi vấn với hiện tượng xã hội, năng lực lựa chọn thông tin, tri thức cần thiết nhằm  thiết lập và đạt được mục tiêu của chính bản thân trở thành yêu cầu đặt ra. Trong quá trình trang bị cho bản thân các năng lực đó cần phải biết được cách học, cách tư duy đồng thời phải có được cách giải thích, phê phán riêng.

Thứ ba là “Truy tìm lẽ sống”. Trong xã hội đang liên tục biến đổi hướng đến tương lai,tính chủ thể của con người đang đặt ra. Khả năng tự mình ứng phó một cách chủ động với biến đổi của xã hội và tự mình có thể lựa chọn con đường tiến lên ở đây được hiểu là tính chủ thể. Phẩm chất của con người vừa mang tính chủ thể này vừa có khả năng tôn trọng người khác và kiến tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người  trở thành thứ mà xã hội quốc tế hóa từ giờ về sau hướng tới. Vì vậy việc phát triển năng lực này thông qua giải quyết các chủ đề học tập là rất cần thiết. Đó là việc học sinh tìm ra mối quan hệ giữa các sự thật và tìm kiếm các vấn đề (chủ đề) mới. Để làm được điều đó,  cần phải hình thành cý chí muốn duy trì và giải quyết vấn đề suốt đời. Để việc học tập không chỉ dừng lại ở việc nắm chắc các sự thật một cách khách quan cần thông qua việc hình thành học tập giải quyết vấn đề, tìm kiếm vấn đề  để tạo ra mối liên hệ với các hiện tượng cụ thể trong đời sống thực tế. Bằng cách đó sẽ làm cho học sinh tìm kếm các hiện tượng với tư cách là vấn đề của chính bản thân mình. Việc học sinh tiếp cận chủ đề học tập một cách chủ thể, sau khi giải quyết một vấn đề lại tiếp tục sinh ra một vấn đề khác và duy trì cơ cấu tìm kiếm liên tục như vậy là rất quan trọng.

Khi lựa chọn nội dung cần chú ý đó phải là các vấn đề học tập có thể hình thành nên ý chí duy trì việc học tập hướng đến tương lai của chính bản thân học sinh. Khi đó các vấn đề sau là phù hợp:

(1) Các hiện tượng có thể giải quyết với mối quan tâm, hứng thú của học sinh

(2) Các hiện tượng chưa đựng các nghi vấn chưa được làm rõ, có thể khuếch đại hứng thú của học sinh hơn là các tri thức đã được chỉnh lý

(3) Các hiện tượng có thể được khảo sát đa diện và có nhiều cách tư duy.

(4) Các hiện tượng mà khi giải quyết xong có khả năng sinh ra vấn đề mới.

 

Ví dụ như thực tiễn giáo dục đưa ra các chủ đề mà học sinh quan tâm, sau đó tóm tắt các kết quả điều tra được ở địa phương  trên một tấm bản đồ  và coi nó như là sở hữu chung. Học sinh rất quan tâm đến các con sông ô nhiễm ở gần trường, công viên, kiến sống trong công viên, cửa hàng bán vật nuôi, mèo hoang… Vì vậy cần chú ý không đưa vào các vấn đề riêng rẽ để tránh làm cho vấn đề học tập trở nên rời rạc không đạt được kết quả. Tấm bản đồ chung có thể đặt tên là “Bản đồ chúng em quan tâm”. Đây là kết quả tập hợp lại của các tấm bản đồ khác do từng học sinh chế tạo. Bằng cách làm như vậy có thể làm cho học sinh so sánh được sự quan tâm của mình với người khác. Từ có có thể tiếp tục tuyển chọn vấn đề nhỏ hơn để cùng tiến hành học tập

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)