“Tự quốc sử” và “tha quốc sử”

Giáo dục lịch sử của khóa trình giáo dục mới

Về học tập  lịch sử ở lớp 6 tiểu học, học sinh được học lịch sử nước ta với các nhân vật (42 nhân vật) và di sản văn hóa làm trung tâm. Việc học tập đó được chỉ đạo nhằm làm cho học sinh suy nghĩ về lịch sử và truyền thống của nước ta và giáo dục tình yêu đối với những thứ ấy. Khi đó đẻ cho việc tiếp cận không trở thành thông sử nội dung đã được chia thành 8 nội dung (cho đến nay là 12 nội dung). Theo đó  học tập lịch sử ở trường tiểu học có mục tiêu là làm cho học sinh có được sự lý giải và tình yêu đối với lịch sử nước ta và học tập lịch sử Nhật Bản với tư cách là “tự quốc sử” trở thành giáo dục lịch sử.

Ở lĩnh vực lịch sử cấp THCS, mục tiêu của nó nhắm tới việc lý giải và xác định vị trí cảu lịch sử nước mình trong dòng chảy của lịch sử thế giới từ tầm nhìn rộng lớn. Tuy nhiên, trong việc  tiếp cận nội dung  lại giới hạn “về lịch sử thế giới, chỉ dừng lại ở việc đưa ra các sự việc có liên quan trực tiếp với lịch sử nước ta với tư cách là bối cảnh khi lý giải lịch sử nước ta”. Việc này sẽ thúc đẩy sự lý giải lịch sử nước khác thông qua giao lưu giữa nước ta và các nước ngoài.

 

Trong môn Lịch sử -Địa lý cấp THPT, “Lịch sử thế giới” trở thành môn bắt buộc và môn “Lịch sử Nhật Bản” trở thành môn tự chọn-bắt buộc (từ trước đến nay chỉ có “Lịch sử thế giới” là môn bắt buộc). Cả Lịch sử Nhật Bản và Lịch sử thế giới đều nhắm tới mục tiêu giáo dục tư duy lịch sử, giáo dục phẩm chất người Nhật Bản sống trong xã hội quốc tế. Điểm chung giữa Lịch sử thế giới A và Lịch sử thế giới B là sự liên hệ càng nhiều càng tốt tới Nhật Bản, Lịch sử Nhật Bản A và Lịch sử Nhật Bản B có điểm chung là việc đứng trên tầm nhìn lịch sử thế giới để lý giải lịch sử nước ta. Mối liên quan giữa “Tự quốc sử” và “Tha quốc sử” xác định vị trí lịch sử Nhật Bản như thế nào  và làm sâu sắc lịch sử Nhật Bản với tư cách là “tự quốc sử” như thế nào trở thành vấn đề.

Lịch sử Nhật Bản và Lịch sử nước ngoài

Trong môn học Lịch sử cần có để lấy giấy phép giáo viên môn Xã hội. có ghi “Lịch sử Nhật Bản và lịch sử nước ngoài”. Lịch sử Nhật Bản này vào năm 1949, đã đổi tên Lịch sử phương Đông-Lịch sử Phương Tây và thiết lập Lịch sử thế giới. Cho đến trước thời điểm này nó là quốc sử. Quốc sử cũng đã được sử dụng vào thời Edo nhưng sau chiến tranh Nhật-Thanh  chế độ phân chia làm ba môn Quốc sử, Lịch sử phương Đông, Lịch sử phương Tây đã được đưa vào giáo dục lịch sử và nghiên cứu lịch sử. Quốc sử này đã bị giới hạn bởi yêu cầu của giai cấp thống trị Đại đế quốc Nhật Bản, về sau nó trở thành “hoàng quốc sử quan” thứ lịch sử mang nặng chủ nghĩa quốc gia. Nishigawa  Masao từng  nói: “Nếu coi  quốc sử là thứ chính thống hóa lịch sử quốc gia Nhật Bản thì  sẽ dẫn đến việc coi Lịch sử đại đế quốc Nhật Bản là điểm xuất phát của lịch sử Nhật Bản”.

Trái ngược với lịch sử Nhật Bản-tự quốc sử này, lịch sử nước ngoài được sử dụng rộng rãi. Trước đó nó đã từng được thể hiện dưới dạng Lịch sử phương Đông, Lịch sử phương Tây. Lịch sử nước ngoài là lịch sử các nước ở phía xa ngoài biển và là thứ đêm lại ý thức lịch sử giống như thấy trong các cuốn sách có tranh minh họa. Ngược lại “Tha quốc sử” là lịch sử của các nước lấy căn cứ từ mối quan hệ gốc rễ của con người giữa bản thân và người khác, khái niệm trái ngược với  “tự quốc sử” không phải là lịch sử nước ngoài mà là “tha quốc sử”.

Hiến pháp Nhật Bản viết : “Chúng ta, cho dù là quốc gia nào, cũng không thể coi trọng nước mình mà coi khinh nước khác, quy tắc của đạo đức chính trị là thứ phổ biến, việc tuân thủ theo quy tắc này sẽ duy trì chủ quyền nước mình và là trách nhiệm của mỗi nước nhằm xây dựng quan hệ bình đẳng” . Chính mối quan hệ giữa “tự quốc” và “tha quốc” này là mối quan hệ lấy ra từ lịch sử và nhận thức quan hệ giữa “Tự quốc sử” và “tha quốc sử” là rất quan trọng. Đó không phải là thứ “tự quốc sử” duy ngã độc tôn mà nơi học tập lịch sử Nhật Bản, lịch sử thế giới nhắm đến hình thành hình ảnh lịch sử tự chủ không coi thường “tha quốc sử”.

 

 

Nắm vững một cách thống nhất  “Tự quốc sử” và  “thế giới sử”.

Giáo dục lịch sử được phân chia thành Lịch sử Nhật Bản và Lịch sử thế giới. Lịch sử thế giới là lịch sử nước ngoài ở bên ngoài lịch sử Nhật Bản, chia thành Lịch sử phương Đông và phương Tây với quan điểm lịch sử nhìn nhận châu Âu là trung tâm đi từ bán khai dã man tới văn minh.

Tuy nhiên, trong bối cảnh ngày nay khi toàn cầu hóa và quốc tế hóa đang diễn ra mạnh mẽ, ngay cả trong bản Hướng dẫn giảng dạy cũng thấy xu hướng kết hợp lịch sử Nhật Bản vào lịch sử thế giới. Trước đó Uehara đã từng đề xướng “nắm vững một cách thống nhất “tự quốc sử” và “thế giới sử” với tư cách là vấn đề của nhận thức lịch sử. Sự nắm chắc một cách thống nhất này là phương pháp nhận thức sau. Trong cả lịch sử Nhật Bản và lịch sử thế giới đều có sự nhất quán đó là phương pháp nhận thức và cho dù tính vấn đề, giá trị nhắm tới có là một đi nữa thì do vị trí, cục diện khác biệt vấn đề xác định vị trí lịch sử Nhật Bản và lịch sử thế giới với tư cách là một bộ phận trong một chỉnh thể hữu cơ như thế nào chính là phương pháp nhận thức. Phương pháp nhận thức đảm bảo hai hướng đó chính là sự nắm vững một cách thống nhất.

“Tự quốc sử” là lịch sử của tập đoàn chính trị ở một khu vực nhất định tạo ra identity của chính bản thân mình và không không là thứ có một cơ cấu cố định. Lịch sử Nhật Bản không phải là lịch sử được  lặp đi lặp lại và mở rộng từ trước đến nay với vũ đài  là quần đảo Nhật Bản mà là lịch sử của tập đoàn người coi lích  sử Nhật Bản là lịch sử của bản thân mình. Mặt khác, “tự quốc sử” là một bộ phận của lịch sử thế giới và tồn tại khách quan có liên quan về mặt cấu tạo với “tha quốc sử”. Nếu chỉ nhìn vào “tự quốc sử” thì sẽ không thể lý giải được “tự quốc sử”. Chỉ khi so sánh với “tha quốc sử” thì khi ấy mới có thể phát hiện ra chính bản thân mình. Và ở đó lần đầu tiên trở thành vấn đề. Nếu như thiếu nhận thức lịch sử thế giới, thì sự lý giải  “tự quốc sử”  không thể nào đầy đủ. Và đồng thời khi đó việc  phát hiện ra sự tự lập và cộng sinh của các dân tộc, các khu vực, các quốc gia sẽ trở nên khó khăn.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)