Tranh vẽ


Định nghĩa

Dùng để chỉ các tranh vẽ hay tranh cuộn. Tư liệu lịch sử bằng tranh được coi là một trong những nguồn sử liệu “phát ngôn” (lời nói)

Sử liệu “lời nói” bao gồm các loại sau: sử liệu digital, sử liệu analog, sử liệu digital-analog. Trong ba loại sử liệu “lời nói” này thì hai loại sau là tranh vẽ.

Sử liệu “lời nói”

(1) Sử liệu digital (sử liệu chữ viết)

Các cuốn sách cổ văn, nhật kí, câu chuyện, truyền thuyết, ca dao, hòa ca, rakugo, renka, haiku, lịch sử, senryo, phong tục chí, từ điển, chính sử, thần thoại, và các loại sách, văn kiện khác.

(2) Sử liệu analog (sử liệu tranh vẽ)

Bích họa, hoa văn, họa tiết, hoa văn thêu, tranh, hình dáng đồ gốm, tranh vẽ các đồ dùng gia dụng, tranh phật giáo, tranh vẽ truyền thần chân dung nhân vật, tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật, ảnh , phim không lời, bản đồ tranh, sơ đồ kiến trúc, bản đồ tưởng tượng, sơ đồ hướng dẫn, bản đồ du lịch, bản đồ địa hình, bản đồ khu vực quốc gia, bản đồ thiên văn…

(3) Sử liệu digital-analog (Sử liệu vừa có tranh vừa có chữ viết)

Tranh cuộn, tranh có kèm theo chú thích, thuyết minh, tiểu thuyết có tranh minh họa, phim, truyện tranh, quảng cáo

(phân loại của Kuroda Hideo).

Cách đọc tranh vẽ

Ở đây, sẽ đưa ra cách đọc một loại tranh tiêu biểu là tranh cuộn.

(1) Tranh cuộn

Tranh cuộn ban đầu là từ Trung Quốc truyền sang. Ở Nhật sự phát triển rực rỡ của mô thức tranh kết hợp với lời tạo nên tính phong phú của câu chuyện kể là một đặc trưng. Theo  ghi chép thì Nhật Bản có khoảng 400 bộ tranh cuộn khác nhau. Hiện tại Nhật Bản còn giữ được khoảng hơn 100 bộ. Các bộ tranh cuộn thường được biết đến là “Tranh cuộn câu chuyện Genji”, “Shigisan Engi” , “Bandaina goe kotoba”.

(2) Đối tượng được vẽ

Đối tượng được vẽ rất rộng từ Thiên hoàng, quý tộc cho tới thường dân. Đồng thời những người bị phân biệt đối  xử, người bị tật nguyền về thân thể, người bị bệnh phong cũng được vẽ. Bên cạnh đó tranh còn truyền tải rất sinh động cuộc sống, phong tục của mọi người, nam nữ, phong cảnh, kiến trúc, xã hội…

(3) Thủ pháp và quy luật của tranh cuộn

Tranh cuộn có đặc tính  chiều dọc ngắn, chiều ngang rộng vì vậy nó có kĩ thuật và các công phu sáng tạo tương ứng.

Thứ nhất, đó là “đồ pháp” và “cấu pháp”.  Tranh cuộn sử dụng thủ pháp vẽ từ nơi cao đổ nghiêng xuống bên trong. Khi đó phần mái nhà bị loại đi chỉ còn cột và các vách ngăn làm hiện rõ các nhân vật ở bên trong tòa nhà.

Thứ hai, câu chuyện được kể từ  phải sang trái. Tức là thời gian sẽ trôi chảy theo hướng từ phải sang trái cùng với sự triển khai của câu chuyện.

Thứ ba là cách chuyển đổi các tình huống của câu chuyện. Ở đây có hai cách

– Kiểu cấu tạo theo hình thức đoạn: chia làm từng cảnh một. Ví dụ như “Tranh cuộn câu chuyện Genji”.

– Kiểu cấu tạo theo hình thức liên tục: các cảnh núi non, sông biển, đông ruộng, nhà, suối…

Thứ tư là  “phương pháp diễn tả thời gian khác biệt trong cùng một bức tranh”. Ở một cảnh sẽ vẽ hai, ba lần cùng một nhân vật, diễn tả hành động hoặc diễn biến của câu chuyện.

Thứ năm là vễ nhân vật chính lớn, các nhân vật phụ và cảnh vật nhỏ.

Thứ sau là loại bỏ phong cảnh, nhà cửa và vẽ các nhân vật từ cái nhìn theo chiều ngang.

Phương pháp sử dụng tranh vẽ

(1) “Tranh kể về sự xâm lược của Mông Cổ”.

Trong học tập lịch sử hay sử dụng “Tranh kể về sự xâm lược của Mông Cổ”. Tranh kể về chuyện Takesaki Suenaga đã chiến đấu chống quân Mông Cổ  và nhận được đất phong từ tay Mạc phủ. Các bức tranh cuộn được xếp theo thứ tự thời gian và sự khác biệt về chiến pháp cũng như vũ khí của quân Mông Cổ và quân Mạc phủ được thể hiện rõ. Ngoài ra còn có cảnh chiến đấu từ đất liền tới trên biển, sự can đảm của võ sĩ trên những chiếc thuyền nhỏ đánh nhau với quân Mông Cổ trên thuyền lớn.

Bên cạnh đó, tranh cũng diễn tả việc ban cấp ruộng đất của Mạc phủ cho võ sĩ dưới quyền. Quân Mông Cổ  thường mang theo các loại trống lớn. Tùy theo hiệu lệnh trống mà tiến thoái. Nói tóm lại là  phương pháp chiến đấu theo tập đoàn. Trung tâm của trận chiến là tướng của quân Mông Cổ. Ngoài ra còn có thể hiểu cuộc tấn công của quân Mông Cổ  đã có lợi cho sự phát triển hàng hải phục vụ buôn bán Nhật-Trung.

(2) Tranh có chủ đề

“Tranh về cuộc đời Ippen” thể hiện mối quan hệ giữa phái Thời Tông và dân chúng cũng như  tình cảnh của những người dân bị phân biệt đối xử.

Ngoài ra từ sự thay đổi của râu nói lên sự khác biệt giữa thời Trung thế và Cận thế, việc coi trong  ngựa khi cho chúng đeo móng cỏ, sự thay đổi về đồ ăn-những yếu tố lịch sử có ý nghĩa cũng bao gồm trong bức tranh cuộn này.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)