Tính công cộng

Định nghĩa và bối cảnh tranh luận

Tính từ “công cộng” có nghĩa giống như tài sản công cộng hay cơ sở công cộng và cũng có ý nghĩa chỉ thứ “do chính phủ tiến hành” giống như sự trợ giúp có tính chất công hay công việc công ích. Thêm nữa báo chí được gọi là “công cụ công cộng”, và cũng giống như giáo dục trường tư cũng có trường hợp được gọi là “giáo dục công”, những công việc do các xí nghiệp tư nhân tiến hành nhưng lại tìm kiếm lợi ích công cộng thì cũng được gọi là công việc công. Từ “công cộng” vì vậy có rất nhiều nghĩa, cũng giống như từ “Public” trong tiếng Anh và từ “offentlich” trong tiếng Đức.

Tính công cộng là từ ngữ được dùng chỉ trường hợp diễn ra công luận đối lập với lĩnh vực truy tìm lợi ích tư nhân (private) hoặc là từ được công luận  dùng đối với lĩnh vực phải truy tìm công ích. Trong các trường hợp này thì nó cũng còn dược dịch là khu vực công cộng, lĩnh vực công cộng. Trong trường hợp luận bàn về  tính chất công việc và giá trị cần phải tìm kiếm trong lĩnh vực, khu vực đó, nó thường được dịch là tính công cộng.

 

Ở quốc gia mà quyền bầu cử và quyền từ chối bầu của của quốc dân được mở rộng và cho dù không phải là nhà tư sản cũng có trong tay văn hóa và sự phong phú về kinh tế, chắc chắn tất cả quốc dân đều có thể tham chiếu các vấn đề công của quốc gia, xã hội với lợi ích công cộng và tạo ra sự tranh luận công bằng. Tuy nhiên, trong lịch sử thế kỉ 20, công luận đã không thể ngăn được hai cuộc chiến tranh thế giới khiến cho rất nhiều người chết, không ngăn được sự độc tài của chủ nghĩa phát xít và sự phát triển, phát tán của vũ khí hạt nhân. Thêm nữa, khuynh hướng bất tín, coi thường chính trị trở nên mạnh lên và con người mất đi lòng tự hào cùng trách nhiệm của người làm chủ, sa vào hố thẳm của dục vọng và mối quan tâm cá nhân. Tại sao toàn thể quốc dân đã có điều kiện nắm trong tay tính công cộng lại làm nảy sinh ra tình trạng như trên? Tính công cộng, trong bối cảnh đầy nguy cơ như thế, đã được chú ý vào những năm 50-60 và gần đây một lần nữa lại trở thành khái niệm được chú ý.

 

Sự triển khai  trong lịch sử

 

Trong lịch sử phương Tây sự phân biệt công và tư bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại. Cuộc sống công cộng (chính trị) ở các quốc gia đô thị (Polis) được tạo nên bởi sự đối thoại của thị dân bình đẳng ở các quảng trường. Thị dân là người đứng đầu từng gia đình và ở đây quá trình tái sản xuất tạo nên kinh tế gia đình được dựa trên cơ sở lao động nô lệ. Sự phân biệt giữa Political và Economic bắt nguồn từ đó và tương ứng với nó là sự phân biệt giữa công và tư. Vào thời trung đại, cuộc sống của cư dân trong lãnh địa bị lôi cuốn vào kinh tế của chủ lãnh địa và khu vực công cộng được tạo dựng từ công luận không hề có.

Đến thời cận đại, chế độ phân quyền trung đại đã bị tập trung vào tay vương quyền tuyệt đối và tạo nên chính phủ và chính trị quốc gia lãnh địa. Mặt khác,  từ cuối thời trung đại kinh tế hàng hóa phát triển dưới mở rộng của vương chính tuyệt đối đã tạo tầng lớp thị dân giàu có có thể bình đẳng với quý tộc. Những người này trước tiên đã tạo nên địa điểm dành cho công luận với tư cách là các sa lông nghệ thuật và cuối cùng thì phát triển nó thành sa lông chính trị. Thị dân, để bảo vệ lợi ích kinh tế đã phản kháng lại quyền lực quốc gia và yêu cầu  nhà nước phải có quy phạm pháp luật bảo vệ sự phát triển kinh tế. yêu cầu của tầng lớp thị dân này đã hình thành nên  triết lý chính trị phổ biết như lý tính, nhân quyền và điều này thông qua công luận ở khu vực công cộng mà trở thành nguyên lý dân chủ thời cận đại.

Xã hội cận đại khi phát triển kinh tế và độc chiếm tư bản thì phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, khi đó cùng với sự phát triển của sự đại chúng hóa xã hội và phương tiện truyền thông đại chúng, sự thống trị và quan liêu hóa cũng khuếch đại theo khiến cho trật tự vốn tồn tại cho đến thế kỉ 19 sụp đổ làm sinh ra chủ nghĩa toàn trị. Tấn bi kịch này  được  Arendt phân tích rằng nó  bắt nguồn từ sự thiếu vắng của tính công cộng và cần tới sự phục hoạt lĩnh vực công đảm bảo hoạt động thwo mối quan tâm tới công cộng một cách thuần khiết.

Mặt khác, Habermas-người dựa trên sự khảo sát lịch sử tương tự-lại cho rằng con người hiện đại trở thành client của quốc gia và bị quyền lực quốc gia cai trị một cách tinh vi và thế giới bị thuộc địa hóa tuy nhiên họ lại có quyền lực phản kháng thông qua sự phê phán của truyền thông và có khả năng tiến hành công luận ở thời hiện đại với tư cách là hành vi giao tiếp. Cuộc tranh luận về tính công cộng 40 năm về trước này  đang được tái quan tâm nhiệt thành trở lại khi diễn ra quá trình dân chủ hóa ở các nước trung cận đông.

Thêm nữa, sự tranh luận về tính công cộng trong kinh tế học công cộng và lý luận tuyển chọn công cộng là một thủ pháp trong kinh tế học và tương đối khác biệt so với cuộc tranh luận nói trên.

Những năm gần đây từ quan điểm cho rằng người Nhật đang thiếu trái tim và sự tự giác hướng đến cái chung, cũng có luận điểm cho rằng cần phải phục hưng tính công cộng đó.

 

Sự đối xử với tính công cộng trong giáo dục công dân

 

Nếu như kinh tế thị trường là vạn năng thì giáo dục công dân trở nên không cần thiết.

Sự thất bại của thị trường, sự cần thiết của chính sách công cộng và việc xã hội hiện đại làm cho  tính công cộng suy giảm là những sự thực lịch sử trở thành căn cứ cho việc cần thiết phải giáo dục cho học sinh về những thứ thuộc về công cộng. Vậy thì giáo dục năng lực tranh luận về lợi ích công ở những nơi vượt qua lợi ích cá nhân như thế nào? Đây là vấn đề đặt ra  đối với giáo dục tính công cộng vốn được giao phó cho giáo dục công dân.

Rất tiếc phải nói rằng vấn đề này chưa được thực hiện có kết quả. Sự không quan tâm tới chính trị của thanh niên, tỉ lệ đi bỏ phiếu thấp rồi sự thiếu quan tâm tới người khác, sự hung ác hóa của tội ác hiển hiện trước mắt chúng ta.

Tuy nhiên  nếu chỉ nhồi nhét đạo đức kiểu nhấn mạnh trái tim đạo đức công cộng, nâng cao mối quan tâm tới chính trị bằng cách tiến hành mô phỏng các cuộc bầu cử mà không có tranh luận chính trị thì sẽ mắc sai lầm trong giáo dục tính công cộng ở giáo dục công dân.

Sự tranh luận trong khu vực công cộng là điều kiện không thể bỏ qua là quy tắc đạo đức đông đảo mọi người thừa nhận như Rút-xô đã từng chỉ ra. Chỉ có cách là chúng ta phải tin vào sự thảo luận với tư cách là hành vi giao tiếp, rèn luyện và làm sâu sắc nó bắt đầu từ những nơi mà sự minh bạch của cái thiện công cộng và hình dáng của lợi ích công cộng chưa  được rõ ràng.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)