TÌM HIỂU VỀ BA HÌNH THÁI GIÁO DỤC LỊCH SỬ TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ở Nhật Bản đã diễn ra cuộc cải cách giáo dục toàn diện. Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản thời hậu chiến với ba hình thái giáo dục lịch sử chủ yếu là “thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng” gắn liền với sự ra đời và phát triển của môn Nghiên cứu Xã hội (thường được gọi tắt là môn Xã hội) đã có đóng góp lớn tạo nên sự thành công của giáo dục Nhật Bản. Bài viết này sẽ tìm hiểu về sự hiện diện của ba hình thái giáo dục lịch sử nói trên trong hệ thống chương trình cũng như trong thực tiễn đồng thời rút ra một vài nhận xét khi liên hệ với giáo dục lịch sử trong trường phổ thông ở Việt Nam hiện tại.

 

1. Cải cách giáo dục thời hậu chiến và sự ra đời của môn Nghiên cứu xã hội.

Sau ngày 15-8-1945, giáo dục Nhật Bản  trải qua một khoảng thời gian “hỗn loạn” ngắn  do hậu quả của chiến tranh. Để khắc phục, Bộ giáo dục Nhật Bản đã nhanh chóng có những bước đi cần thiết để đưa họat động trường học trở lại bình thường. Tròn một tháng sau ngày thiên hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, Bộ giáo dục Nhật Bản công bố “Phương châm giáo dục nhằm xây dựng nước Nhật Bản mới”. Bản phương châm 11 điểm  này nêu rõ nước Nhật cần xây dựng ngay một nền giáo dục mới để “loại trừ chủ nghĩa quân phiệt”, “giáo dục tư duy khoa học”, “làm sâu sắc văn hóa quốc dân”, “xây dựng quốc gia hòa bình” và “đóng góp vào sự tiến bộ của thế giới”. Bản phương châm cũng nêu lên những nguyên tắc cơ bản nhất trong việc xử lí nền giáo dục thời chiến, tổ chức lại các đoàn thể học sinh, tái đào tạo giáo viên, tái tổ chức lại Bộ giáo dục…Trong thời gian chờ sách giáo khoa mới xuất bản, Bộ giáo dục Nhật chỉ đạo các trường loại bỏ khỏi sách giáo khoa hiện hành những nội dung ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt và đưa vào sử dụng đảm bảo cho kì học mới bắt đầu từ tháng 9 được tiến hành bình thường. Môn Tu Thân vốn là môn học đóng vai trò  trụ cột  giáo dục cho học sinh lòng trung thành với thiên hoàng và chủ nghĩa quân phiệt bị đình chỉ vĩnh viễn.

 

Ngày 3 tháng 11 năm 1946, hiến pháp mới ra đời thay thế cho bản Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban hành dưới thời Minh Trị[1]. Bản hiến pháp này đã tạo cơ sở pháp lí cho sự ra đời của các bộ luật về giáo dục  trong năm 1947 như: Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học, Luật về cơ cấu tổ chức Bộ giáo dục…làm nền tảng cho cuộc cải cách toàn diện  xây dựng nền giáo mới.

Tháng 3 năm 1947, Bộ giáo dục Nhật Bản ban hành  Bản hướng dẫn học tập[2] đánh dấu cuộc cải cách giáo dục trên quy mô toàn quốc bắt đầu đi vào quỹ đạo. Cùng với việc ban hành Bản hướng dẫn học tập, Bộ giáo dục Nhật Bản cho thực hiện chế độ kiểm định sách giáo khoa[3] áp dụng trên phạm vi toàn quốc.

Đóng vai trò trung tâm của cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến với triết lí giáo dục nên người công dân có khả năng xây dựng và bảo vệ xã hội hòa bình và dân chủ là môn học hoàn toàn mới có tên “Nghiên cứu xã hội” (Social Studies – thường được gọi tắt là Xã hội). Đây là môn học tích hợp nội dung của ba môn học vốn đã từng tồn tại trong nền giáo dục Nhật Bản trước đó: Lịch sử, Địa lí, Công dân. Triết lí giáo dục mới được thể hiện tập trung ở bản chất và mục đích của môn học này khi nó nhắm tới việc “giáo dục cho học sinh có thái độ, năng lực, tri thức cần thiết nhằm xây dựng nên một xã hội tốt đẹp hơn xã hội hiện tại[4].

Môn Xã hội ra đời đã tạo ra sự tồn tại đồng thời ba hình thái giáo dục lịch sử: “thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng” trong trường phổ thông Nhật Bản sau năm 1945.

 

2. “Thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng”  nhìn từ “Bản hướng dẫn học tập”.

Khi bàn về hình thái hay nói cách khác là các kiểu giáo dục lịch sử các học giả Nhật Bản đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Vào thập niên 70 của thế kỉ XX, Hirata Kazo, người chuyên tâm nghiên cứu giáo dục lịch sử đã chỉ ra 5 kiểu giáo dục lịch sử căn cứ trên mục đích[5]:

(1) Giáo dục lịch sử mang tính lý giải, giáo dưỡng, giáo dục: trong kiểu giáo dục lịch sử này thông qua quá trình lý giải các sự kiện, hiện tượng lịch sử, học sinh sẽ được làm phong phú thêm vốn văn hóa, đồng thời ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng lịch sử đó cũng được coi trọng. Người ta cũng coi đây là kiểu giáo dục lịch sử “ghi nhớ-thuộc lòng” vốn được kế tục từ nền giáo dục Nhật Bản thời trước chiến tranh.

(2) Giáo dục lịch sử mang tính khoa học, giáo dục, giá trị

Các nhà giáo dục đứng trên quan điểm lịch sử duy vật của chủ nghĩa Mác hình thành cho học sinh  nhận thức lịch sử và năng lực hành động thực tiễn. Xoay quanh loại hình giáo dục lịch sử này tồn tại rất nhiều tranh luận.

(3) Giáo dục lịch sử mang tính kinh nghiệm xã hội, đời sống

Giáo dục lịch sử kiểu này dựa trên cơ sở là các vấn đề gần gũi của thời đại mà học sinh đã trải qua, tìm kiếm bối cảnh lịch sử của các hiện tượng xã hội đó. Trong giáo dục môn Xã hội sau chiến tranh, loại hình này đã rất thịnh hành trong giai đoạn 10 năm đầu.

(4) Giáo dục lịch sử  mang tính khoa học, phân tích, quy luật

 Kiểu giáo dục lịch sử này dựa trên triết học phân tích – lý luận. Nó chú trọng sự thuyết minh, giải thích một cách khoa học và loại trừ khỏi giáo dục lịch sử quan niệm về giá trị, tình cảm, chỉ giáo dục quy luật chung của lịch sử.

(5) Giáo dục lịch sử mang tính lý luận về sự hình thành con người nhắm tới sự phát triển “trí-tình-ý”

Giáo dục lịch sử kiểu này chú trọng phát triển năng lực tư duy về nguyên nhân – kết quả theo thời gian, hướng tới giáo dục toàn diện con người. Đây là phương châm cơ bản mà chính phủ, Bộ giáo dục Nhật  Bản đã giương cao với tư cách là mục đích giáo dục lịch sử thời hậu chiến.

Cách phân loại của Hirata Kazo có tính khái quát cao nhưng nó quá thiên về lý luận vì vậy trên thực tế nó không được dùng phổ biến. Cách phân loại của nhà giáo dục lịch sử Usui Yoshikazu được tiếp nhận rộng rãi hơn. Trên cơ sở phân tích cấu trúc nội dung của “Bản hướng dẫn học tập” năm 1989 của Bộ giáo dục Nhật Bản, ông đã chỉ ra sự tồn tại của ba hình thái giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản là: “thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng[6].

Usui cho rằng, “thông sử” vốn “trình bày la liệt” các sự kiện, hiện tượng theo thứ tự thời gian được phân chia làm lịch sử thế giới và lịch sử Nhật Bản. “Lịch sử  theo chuyên đề” là hình thái ở đó người giáo viên bằng việc thiết lập các  chủ đề  nhất định có thể phân chia nhỏ hơn thành “lịch sử phụ nữ”, “lịch sử trường học”, “lịch sử địa phương”… Hình thái thứ ba là “lịch sử lội ngược dòng”. Hình thái này cũng có thể được coi như nằm trong “lịch sử theo chuyên đề”. “Lịch sử lội ngược dòng” lấy điểm xuất phát là các chủ đề (vấn đề) hiện tại và giáo viên cùng học sinh sẽ tiến hành lội ngược dòng thời gian để phân tích, lý giải nó. Đây là một bộ phận quan trọng cấu thành việc học tập lịch sử đa chiều, đa diện trong môn Xã hội.

Giáo dục lịch sử với 3 hình thái này tương phản với giáo dục lịch sử thời trước chiến tranh chủ yếu là thông sử. Đây có thể coi là một đặc trưng của giáo dục lịch sử thời hậu chiến và Usui gọi nó là “Giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội[7]

Sự xác lập các hình thái giáo dục lịch sử trên là cả một  quá trình gắn với sự ra đời, phát triển của môn Xã hội. Trong bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” lần đầu tiên được công bố ngay khi môn Xã hội ra đời năm 1947, sự hiện diện ba  hình thái giáo dục lịch sử này được thể hiện như sau:

Ở tiểu học, môn “Xã hội đại cương” được thiết lập bao gồm “thông sử” và “lịch sử lội ngược dòng”.

Ở cấp THCS, thiết lập “Xã hội đại cương” với “thông sử” và “lịch sử lội ngược dòng” đồng thời “Quốc sử” cũng được đưa vào chương trình học tập.

Ở cấp THPT, thiết lập “Xã hội đại cương” với “thông sử” và “lịch sử lội ngược dòng”. “Thông sử” gồm hai bộ phận là “Lịch sử phương Đông” và “Lịch sử phương Tây”.

Cụ thể, trong khoảng 10 năm đầu sau năm 1945, ở cấp tiểu học giáo dục lịch sử trong “Xã hội đại cương”  có cấu trúc như sau:[8]

Lớp 4: “Đời sống của chúng ta trong quá khứ và hiện tại – sự phát triển của quê hương, sự phát triển của  làng và phố, giao thông trong quá khứ và hiện tại”.

Lớp 5: “Sự phát triển của công nghiệp và cuộc sống hiện đại – từ thủ công nghiệp tới sản xuất cơ giới, sự phát triển của thương nghiệp và đời sống tiêu dùng

Lớp 6:  “Nhật Bản trong lòng thế giới – Sự phát triển của các cơ quan truyền thông và cuộc sống hiện đại, cuộc sống của chúng ta và chính trị”.

Ở cấp THCS, giáo dục lịch sử nhắm tới: “Nhìn nhận xã hội Nhật Bản một cách tổng quát, hiểu được sự phát triển của xã hội qua xã hội nguyên thủy, xã hội cổ đại, xã hội phong kiến và sự khác nhau về bản chất của từng xã hội đó”.[9]

Ở cấp THPT, giáo dục lịch sử có hai bộ phận là lịch sử thế giới và lịch sử Nhật Bản. Trong đó giáo dục lịch sử Nhật Bản tập trung vào “lý giải một cách hợp lý, khoa học sự phát triển của lịch sử Nhật Bản, giáo dục năng lực làm rõ quan niệm về từng thời đại”. Trong khi giáo dục lịch sử thế giới chú trọng việc “đứng trên quan điểm rộng rãi mang tính thế giới, giáo  dục tinh thần xây dựng hợp tác quốc tế,  giáo dục tình yêu nhân loại và nỗ lực không ngừng vì hòa bình thế giới”.

Ở Nhật Bản cứ khoảng 10 năm “Bản hướng dẫn học tập” lại được sửa đổi một lần và mỗi lần sửa đổi nội dung chương trình lại có những điều chỉnh quan trọng. Nhìn vào bản “Hướng dẫn học tập” mới nhất hiện nay (Ban hành tháng 3 năm 2008) ta thấy cả ba hình thái giáo dục lịch sử vẫn tồn tại và tiếp tục phát huy vai trò.

Theo Bản hướng dẫn học tập này thì mục tiêu của giáo dục lịch sử cấp tiểu học là: “làm cho học sinh lý giải được cuộc sống xã hội, giáo dục cho học sinh sự hiểu biết và tình yêu đối với lãnh thổ và lịch sử nước ta, giáo dục nền tảng phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng quốc gia – xã hội dân chủ, hòa bình và sống trong cộng đồng quốc tế[10].  Ở cấp học này giáo dục lịch sử gồm hai bộ phận: lịch sử địa phương (lớp 3, 4) và lịch sử dân tộc (lớp 6). Lịch sử lớp 3, 4 lấy tiêu điểm là các công cụ của con người trong quá khứ, các vĩ nhân của địa phương và các di sản lịch sử. Hình thức học tập theo kiểu “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng” thường được áp dụng rộng rãi.

Ở cấp THCS, giáo dục lịch sử đặt ra mục tiêu: “Đứng trên tầm nhìn rộng lớn, nâng cao mối quan tâm đối với xã hội, khảo sát đa diện, đa góc độ dựa trên nhiều nguồn tư liệu, làm sâu sắc sự hiểu biết và tình yêu đối với lịch sử và lãnh thổ của đất nước chúng ta, giáo dục văn hóa cơ bản với tư cách là công dân, giáo dục nền tảng các phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng quốc gia – xã hội dân chủ, hòa bình và sinh sống trong cộng đồng quốc tế[11]. Lịch sử ở cấp học này là một phân môn nằm trong môn Xã hội và được học chủ yếu ở năm thứ nhất và năm thứ hai (tương đương với lớp 7, lớp 8 ở Việt Nam).

Ở cấp THPT, môn học Lịch sử được chia ra làm lịch sử thế giới và lịch sử Nhật Bản. Cả ba hình thái giáo dục lịch sử nói trên đều được vận dụng.

3. “Thông sử”, “Lịch sử theo chuyên đề” và “Lịch sử lội ngược dòng” nhìn từ “thực tiễn giáo dục” trong trường phổ thông Nhật Bản.

Trong cuộc cải cách giáo dục diễn ra sau năm 1945 ở Nhật Bản, chế độ “sách giáo khoa quốc định [12] bị bãi bỏ thay vào đó là chế độ “sách giáo khoa kiểm định”. Việc thực hiện chế độ “sách giáo khoa kiểm định” đã có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra “thực tiễn giáo dục” phong phú của giáo viên. “Thực tiễn giáo dục” ở đây được hiểu theo nghĩa không phải đơn thuần chỉ là giáo án hay nội dung bài giảng của giáo viên mà là toàn bộ những hoạt động dạy-học diễn ra  trên lớp, những tài liệu, dụng cụ họ sử dụng trong giờ học, những lời phát biểu, các câu hỏi đưa ra và  phản hồi của học sinh trong và sau bài giảng. Tập hợp các giờ học diễn ra trên thực tế đó được tổng hợp ghi chép lại nhờ vào “hồ sơ giờ học[13] và được công bố trên các tạp chí khoa học, được lưu lại phục vụ công tác nghiên cứu. Những “thực tế giáo dục” đó ở Nhật Bản thường mang tên người giáo viên thực hiện ví dụ như “thực tiễn giáo dục của Kato Kimiaki”, “thực tiễn giáo dục của Yasui Toshio”…

Cơ chế thực hiện một chương trình khung của Bộ giáo dục đi kèm với chế độ “sách giáo khoa kiểm định” đã tạo ra cơ sở quan trọng thừa nhận và khuyến khích sự năng động, sáng tạo của các giáo viên lịch sử. Bản hướng dẫn giảng dạy chỉ nêu những gợi mở cơ bản nhất về mục tiêu, nội dung và phương pháp chỉ đạo thực hiện bài học. Phần việc còn lại là của người giáo viên. Quyền quyết định cuối cùng “dạy cái gì và dạy như thế nào” là thuộc về người giáo viên. Ví dụ như trong “Bản hướng dẫn học tập” mới nhất ban hành năm 2008, phần mục tiêu của môn Xã hội cấp tiểu học chỉ ghi khái quát: “làm cho học sinh lý giải được cuộc sống xã hội, giáo dục cho học sinh sự hiểu biết và tình yêu đối với lãnh thổ và lịch sử nước ta, giáo dục nền tảng phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng quốc gia -xã hội dân chủ, hòa bình và sống trong cộng đồng quốc tế”[14]. Ở từng năm học cũng đều có mục tiêu cụ thể và gợi ý về nội dung. Ví dụ như đối với lớp 6, lớp cuối cùng của bậc tiểu học, Bản hướng dẫn học tập có đưa ra ba gợi ý về nội dung như sau[15]:

(1) Về các sự kiện, hiện tượng quan trọng trong lịch sử nước ta: tiến  hành điều tra thông tin, sử dụng có hiệu quả  các tư liệu, di tích, di sản văn hóa hướng trọng tâm vào các di sản văn hóa tiêu biểu, hoạt động của các nhân vật lịch sử có liên quan đến các sự kiện, hiện tượng quan trọng.

(2) Về hoạt động chính trị của nước ta: điều tra, sử dụng tài liệu để tìm kiếm thông tin các việc dưới đây, làm cho học sinh suy nghĩ về  việc chính trị gắn với chủ quyền quốc dân đang nỗ lực ổn định và nâng cao đời sống của quốc dân, chính trị dân chủ của nước ta hiện tại là dựa trên tư duy cơ bản của Hiến pháp Nhật Bản.

– Đời sống của quốc dân phản ánh hoạt động của các đoàn thể tự trị địa phương và động thái chính trị quốc gia.

– Hiến pháp Nhật Bản quy định nền tảng của cuộc sống quốc dân, quốc gia, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, vị trí của thiên hoàng, lý tưởng của quốc gia…

(3) Về vai trò của Nhật Bản trên thế giới: tiến hành điều tra các việc dưới đây, sử dụng mô hình quả địa cầu, bản đồ, tài liệu để tìm thông tin, làm cho học sinh suy nghĩ về việc để cùng chung sống với người nước ngoài thì việc hiểu biết lẫn nhau về phong tục, văn hóa khác biệt là quan trọng, suy nghĩ về tầm quan trọng của hòa bình thế giới và vai trò quan trọng của nước ta trên thế giới.

– Đời sống của người dân ở các phương diện kinh tế, văn hóa… của nước ta.

– Việc hợp tác quốc tế, giao lưu quốc tế của nước ta cùng động thái của Liên hợp quốc trong việc thực hiện hòa bình quốc tế.

Cơ chế thông thoáng nói trên đã tạo điều kiện cho các giáo viên lịch sử sáng tạo. Mỗi người giáo viên lịch sử khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở mình đã tạo ra một thực tiễn giáo dục mang bản sắc riêng, ứng dụng những lý luận giáo dục khác nhau. Ở đây xin được dẫn ra thực tiễn giáo dục của nhà giáo dục lịch sử Kato Kimiaki để minh họa.

Kato Kimiaki sinh năm 1950, tốt nghiệp cao học trường Đại học Waseda năm 1976 và từ đó đến nay ông liên tục giảng dạy lịch sử Nhật Bản tại các trường trung học phổ thông ở tỉnh Chiba, Nhật Bản[16]. Từ năm 1983, ông đã thực hiện một loạt các giờ học nhằm hướng tới giờ học ở đó học sinh học tập sôi nổi và tự mình hình thành năng lực của bản thân để trở thành người làm chủ xã hội. Các giờ học của Kato là sự vận dụng linh hoạt ba hình thái giáo dục lịch sử kể trên đặc biệt là “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng”.Thực tiễn giáo dục này được ông đặt tên là “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán”.Theo Kato thì “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” là một loạt giờ học ở đó học sinh THPT suy ngẫm về lịch sử trong tư cách là chủ thể, thông qua quá trình thảo luận, trao đổi ý kiến, giao lưu, phê phán lẫn nhau mà phát triển nhận thức lịch sử của bản thân, hình thành và nâng cao năng lực nhận thức lịch sử một cách khoa học (tính thực chứng, tính lô-gíc, tính chủ thể)[17]. Đây không phải là giờ học giống như thông thường ở đó giáo viên giảng giải, thuyết minh các khái niệm, sự kiện thông sử một chiều mà trước hết giáo viên sẽ sử dụng các sự thực lịch sử làm cho những tri thức lịch sử thông thường hay quan niệm lịch sử mà học sinh đang có dao động hoặc bị phủ định khiến cho học sinh đặt ra câu hỏi “tại sao lại thế?”, “thật sự thì điều đó là thế nào?”.Tiếp nhận vấn đề đặt ra, từng học sinh sẽ tiến hành các hoạt động điều tra thông tin, nghiên cứu tư liệu, huy động tri thức sẵn có để tạo ra câu trả lời của chính mình. Tiếp đó, kết quả này sẽ được mài sắc qua việc tranh luận trước lớp với trung tâm là việc phê phán lẫn nhau và nhờ đó nhận thức lịch sử của bản thân trở nên tổng hợp hơn, khoa học hơn.

Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” thường được tiến hành với cấu trúc ba bước: “Giáo viên đề xướng vấn đề”, “Học sinh thiết lập giả thuyết và tiến hành thảo luận”, “hướng dẫn học sinh học tập sau thảo luận”. Trong cấu trúc ba bước nói trên, theo Kato, bước thứ nhất “giáo viên đề xướng vấn đề” đóng vai trò quyết định sự thành bại của giờ học. Kato tán thành quan điểm “giáo dục lịch sử theo kiểu nghiên cứu xã hội” vì thế thực tiễn giáo dục của ông chủ yếu diễn ra dưới dạng “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng”. Các “Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán” của Kato được bắt đầu bằng đề xướng vấn đề. Ở đó, giáo viên đưa ra các vấn đề như: “Tại sao chó lại được chôn ở ụ vỏ sò?”, “Tại sao Masakado thất bại?[18]… Những giờ học theo kiểu “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng” của Kato hướng đến mục đích làm trưởng thành nhận thức lịch sử của học sinh hơn là truyền đạt các tri thức lịch sử đơn thuần. Kato cho rằng: “Mục đích của giáo dục lịch sử là làm trưởng thành nhận thức lịch sử của học sinh với tư cách là chủ thể[19]. Xuất phát từ mục đích đó ông cho rằng những giờ học lịch sử “mẫu mực” là “giờ học phải lấy điểm xuất phát là sự phục hồi tính chủ thể của học sinh tức là học sinh tự mình tạo ra nhận thức lịch sử của bản thân và cần phải đặt trọng tâm vào việc nâng cao năng lực nhận thức đó. Để làm được điều đó thì lớp học không phải chỉ là nơi truyền đạt cho học sinh duy nhất các sự thực đã được xác định mà nó phải trở thành nơi kích thích lòng mong muốn khám phá tri thức, phải là nơi đặt ra các vấn đề táo bạo khiến cho học sinh phải suy nghĩ một cách tự do về lịch sử”.[20]

Thực tiễn giáo dục của Kato đã thu hút sự chú ý của dư luận và có ảnh hưởng lớn tới các giáo viên lịch sử ở trường phổ thông. Trong thực tiễn của Kato, người giáo viên bằng cách sử dụng “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng” đã coi trọng và phát huy tính chủ thể của học sinh.  Những giờ học như thế đã giúp cho học sinh cảm nhận được sự thú vị, hấp dẫn trong học tập lịch sử tránh cảm giác nhàm chán khi phải ghi nhớ hàng loạt những sự kiện đơn thuần.

4. Kết luận

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã tiến hành cải cách giáo dục toàn diện và môn Xã hội tích hợp Địa lí, Lịch sử và Công dân được coi là hạt nhân của cuộc cải cách. Mục tiêu xây dựng xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người theo tinh thần của bản Hiến pháp Nhật Bản[21] đã đặt ra những yêu cầu mới cho nền giáo dục. Triết lí giáo dục nên những người công dân có đầy đủ tri thức, phẩm chất, năng lực để xây dựng và bảo vệ xã hội hòa bình, dân chủ, tôn trọng con người đã chi phối xuyên suốt quá trình thực thi cải cách giáo dục. Môn Xã hội đã đảm nhận vai trò quan trọng trong việc hình thành nên những người công dân này. Giáo dục lịch sử trong môn Xã hội ở trường phổ thông đã có những thay đổi cơ bản và toàn diện với cơ chế một chương trình khung của bộ giáo dục đi kèm với chế độ sách giáo khoa kiểm định. Đây là những cơ sở quan trọng để giáo dục lịch sử chuyển từ việc chú trọng truyền đạt hệ thống tri thức lịch sử sang bồi dưỡng nhận thức lịch sử phong phú, đa chiều của học sinh. Ba hình thái giáo dục lịch sử là “thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề”, “lịch sử lội ngược dòng” đã song hành tồn tại và phát huy hiệu quả của mình. Ở Việt Nam trong chương trình giáo dục lịch sử ở trường phổ thông hiện hành xét  về tổng thể hình thái giáo dục “thông sử” vẫn là chủ yếu. Ưu điểm của hình thái này là giúp học sinh có được một hệ thống tri thức lịch sử  theo trình tự thời gian tuy nhiên việc thực hiện đơn điệu một hình thái này sẽ làm cho việc học lịch sử trở nên nặng nề, không hấp dẫn. Học sinh không có cơ hội đi sâu tìm hiểu những vấn đề, chủ đề lịch sử mình yêu thích, quan tâm hay những vấn đề mà xã hội đương đại đang đặt ra và cần phải được cần lý giải dưới góc độ lịch sử. Việc đa dạng hóa các hình thái giáo dục lịch sử trong trường phổ thông theo hướng bổ sung “lịch sử theo chuyên đề” và “lịch sử lội ngược dòng” theo tôi là một hướng đi góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử trong bối cảnh hiện nay.
8/2012

Nguyễn Quốc Vương

 

 

 

Tài liệu tham khảo.

1. Kaigo Tomiaki (chủ biên), Kyoiku kaikaku-sengo Nihon no kyoiku kaikaku 1 (Cải cách giáo dục- Cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến tập 1), Tokyo daigaku Shuppankai, 1975.

2. Kato Kimiaki, Wakuwaku ronso! Kangaeru Nihonshi jugyo (Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán), Chirekisha, 1991.

3. Kato Kimiaki, Kangaeru Nihonshi jugyo 2 (Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán 2), Chirekisha, 1995.

4. Kato Kimiaki, Kangaeru Nihonshi jugyo 3 (Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán), Chirekisha, 1997.

5. Kato Kimiaki, Nihonshi toron jugyo no susume kata (Phương pháp tiến hành giờ học thảo luận lịch sử Nhật Bản), Nihon Shoseiki, 2000.



[1] Bản hiến pháp được công bố vào năm 1889

[2] Văn bản do Bộ giáo dục biên soạn trong đó đưa ra những gợi ý về nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy-học tập cho tất cả các môn học trong trường phổ thông.

[3] Các nhà xuất bản tư nhân được quyền tổ chức biên soạn sách giáo khoa sau đó đệ trình lên Hội đồng thẩm định của Bộ giáo dục. Những cuốn sách được Hội đồng thẩm định xét duyệt và chấp nhận sẽ được xuất bản và trở thành sách giáo khoa. Quyền lựa chọn sách giáo khoa thuộc về hiệu trưởng các trường phổ thông và Ủy ban giáo dục ở địa phương.

[4] Xin tham khảo bài viết “Sự phản tỉnh đối với giáo dục lịch sử trước chiến tranh và giáo dục lịch sử trong môn Xã hội” của tác giả Usui Yoshikazu trong cuốn “Tân giáo dục lịch sử tập 6”, Hiệp hội các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản biên soạn, Nhà xuất bản Otsuki Shoten, 1994, tr.26.

[6] Usui Yoshikazu, “Sự phản tỉnh đối với giáo dục lịch sử trước chiến tranh và giáo dục lịch sử trong môn Xã hội” , “Tân giáo dục lịch sử tập 6”, Hiệp hội các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản biên soạn, Nhà xuất bản Otsuki Shoten, 1994, tr9-tr41.

[7] Usui, “Sự phản tỉnh đối với giáo dục lịch sử trước chiến tranh và giáo dục lịch sử trong môn Xã hội “Tân giáo dục lịch sử lịch sử tập 6”, sđd, tr.10.

 

[8] Usui, Sđd, trang 25.

[9] Usui, Sđd,  tr. 26.

[10] Bộ giáo dục Nhật Bản, Bản hướng dẫn học tập, 2008, tr. 34.

[11] Bộ giáo dục Nhật Bản, Bản hướng dẫn học tập, 2008, tr.17.

[12] Cả nước sử dụng một bộ sách giáo khoa duy nhất do Bộ giáo dục biên soạn và xuất bản.

[13] Hồ sơ giờ học là những ghi chép toàn diện về giờ học đã thực hiện của giáo viên phục vụ cho công tác nghiên cứu. Trong hồ sơ giờ học có ghi đầy đủ và khách quan về giáo án, tài liệu, đồ dùng giảng dạy đã sử dụng, diễn biến giờ học, hoạt động của thầy-trò, ý kiến của học sinh và đặc biệt là cảm tưởng, các ý kiến tranh luận của học sinh.

[14] Bộ giáo dục Nhật Bản, Bản hướng dẫn học tập, 2008, tr. 34.

[15] Bộ giáo dục Nhật Bản, Bản hướng dẫn học tập dành cho tiểu học, tr.39-40.

[16] Ở Nhật Bản trong trường trung học phổ thông giáo viên lịch sử sẽ chuyên trách giảng dạy lịch sử Nhật Bản hoặc lịch sử thế giới thay vì dạy cả hai phân môn như ở nhiều nước khác.

[17] Kato Kimiaki, Nihonshi toron jugyo no susume kata (phương pháp tiến hành giờ học thảo luận lịch sử Nhật Bản), Nihon Shoseki, 1995, tr.1.

[18] Nhân vật lịch sử Nhật Bản sống vào thời Heian (thế kỉ 8-thế kỉ 12).

[19] Kato Kimiaki, “Toron suru jugyo o tsukuru-seito ni rekishi ninshiki no shutaisei no noryoku o” (Thiết kế giờ học thảo luận-giáo dục tính chủ thể và năng lực nhận thức lịch sử cho học sinh) trong Atarashi rekishi kyoiku 7 (Tân giáo dục lịch sử tập 7), Otsuki Shoten, 1994, tr.209.

[20] Kato Kimiaki, “Dobutsu o tegakari ni rekishi no jugyo o tsukuru-inu o daizai ni shita kangaeru Nihonshi jygyo” (Xây dựng giờ học lịch sử với đầu mối là các động vật-Chó được chọn làm chủ đề), Tạp chí Giáo dục lịch sử-địa lí số 573, tháng 12 năm 2009.

[21] Có hiệu lực từ năm 1947


Cũ hơn Mới hơn