Thuyết môi trường quyết định và thuyết môi trường có khả năng

Thuyết môi trường quyết định

Thuyết môi trường quyết định chỉ việc mô thức cuộc sống con người bị quyết định bởi môi trường tự nhiên như khí hậu, địa hình, thực vật-tức là đối nghịch với thuyết môi trường khả năng.

Thuyết môi trường quyết định đã từng được bàn đến ở Hy Lạp cổ đại. Hippokrates đã suy ngẫm về sự biến đổi khí hậu và các mùa với tư cách là nguyên nhân tạo nên ảnh hưởng tới thể chất, khí chất của con người ở các khu vực. Ở châu Á việc cư dân có tính khí hiền hòa là do khí hậu ôn hòa và do thủy lợi tốt và đất đai rộng rãi nên gia súc được nuôi nhiều. Cư dân do đó mà có đủ dinh dưỡng nên béo. Và dưới môi trường tự nhiên như vậy cư dân ở đây thiếu đi lòng dũng cảm, sự nhẫn nại, tính chăm chỉ. Tính cách tuy ôn hòa nhưng lười biếng và thiếu tính chiến đấu nên hành động trở nên chậm chạp vì vậy mà dễ sinh ra chế độ chuyên chế và chế độ nô lệ. Trái lại ở châu Âu thì khí hậu thay đổi liên tục, thiếu nước, đất đai cằn cỗi mùa đông thì khốn khổ bởi mưa bão. Ở vùng đất như thế đã sinh ra con người khỏe mạnh, ngôn ngữ rõ ràng, tính cách thì mạnh mẽ, trong chiến đấu thì dũng mãnh. Hy Lạp nằm ở giữa châu Á và châu Âu nên có sở trường của cả hai bên nên cư dân giàu có về trí tuệ, có chí tiến thủ và chăm chỉ. Vì vậy ở những vùng đất giống như Hy Lạp không thể sinh ra chế độ chuyên chế.

Aristoteles cũng có tư duy giống như Hippokrates khi cho rằng sự phồn thịnh của quốc gia thuộc vùng đất bản thân đang sống là do tính ưu việt của môi trường tự nhiên mà chủ yếu là khí hậu quyết định. Bên cạnh đó nhà địa lý học của Roma cổ đại là Strabon cũng cho rằng sự ưu việt của người Ý và sự hưng thịnh của Roma là do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Italia quyết định. Và như vậy vào thời cổ đại thuyết môi trường quyết định đã trở thành nguyên lý của chủ nghĩa lấy dân tộc mình làm trung tâm.

Khaldun, nhà địa lý học Ả-rập cổ đại đã khám phá ra rằng đặc trưng của dân du mục sống trong môi trường sa mạc là có tinh thần đoàn kết mạnh mẽ và luôn cố gắng trái lại dân cư ở thành phố Oasis lại có đặc trưng là no đủ, an phận thủ thường và trụy lạc, thiếu đoàn kết. Khaldun đã thuyết giải về tính ưu việt của xã hội du mục và triển khai lý luận cho rằng môi trường là quyết định trong chủ nghĩa lấy dân tộc mình làm trung tâm. Tuy nhiên ông cho rằng sự khác biệt của các dân tộc không phải là thứ phổ biến mà nó di động và biến đổi. Ông cho rằng sự thích ứng với môi trường làm sinh ra sự khác biệt. Ở đây có thể thấy học thuyết môi trường quyết định đã vừa tiếp nhận ảnh hưởng của các thuyết thời cổ đại vừa có màu sắc mới.

Học thuyết môi trường quyết định còn đạt tới tiêu chuẩn khoa học ở nhà khai sáng người Pháp –Montesquieu. Trong tác phẩm “Tinh thần luật pháp” (1948) ông đã đưa ra bằng chứng từ các tư liệu trên khắp thế giới chứng minh rằng môi trường tự nhiên có liên quan lớn tới nguyên lý luật pháp cần được chế định. Tư tưởng của ông đã được tiếp tục phát triển bởi các học giả như Ritter (Đức), Ratzel…

Cả Ritter và Ratzel đều lấy chủ đề là mối quan hệ giữa lịch sử loài người và tự nhiên và trọng tâm nghiên cứu là xem xét xem tự nhiên đã có ảnh hưởng như thế nào tới thân thể, tình hình xã hội, trạng thái tinh thần của con người. Trong tác phẩm “Địa lý học nhân loại” (1882, 1891), ông đã thuyết minh rằng cuộc sống của con người và lịch sử của dân tộc bắt nguồn từ mối quan hệ  bị chế định bởi môi trường như sự di động của dân tộc, truyền thống…. Vì vậy Ratzel được coi là người xác lập học thuyết môi trường quyết định. Học thuyết môi trường quyết định do các học giả địa lý phát triển cũng được ủng hộ ở Mĩ và Semple, người tiếp nhận ảnh hưởng của Ratzel đã cho rằng “con người là sản phẩm của mặt đất”. Bên cạnh đó, Hungtington trong tác phẩm “Khí hậu và văn minh” (1915) đã nhấn mạnh ảnh hưởng của khí hậu đối với lịch sử con người và xã hội.

 

Thuyết môi trường khả năng

Đại diện của thuyết môi trường quyết định là Ratzel coi trọng sự di động của dân tộc và tính chủ thể của nó và tư duy này đã có ảnh hưởng tới giới địa lý học của Pháp và Vidal de la Blache trong tác phẩm “Nguyên lý địa lý học nhân văn” (1922) đã đưa ra tư duy có tên “thuyết môi trường khả năng”. Vidal đã sử dụng phương pháp sinh vật học trong nghiên cứu địa lý học để tư duy rằng tập đoàn xã hội của con người được lựa chọn từ môi trường tự nhiên với tư cách là tính khả năng và để ứng phó với môi trường mà các mô thức sinh hoạt của từng khu vực ra đời. Tóm lại, ông cho rằng môi trường là thể khả năng được chuẩn bị cho hoạt động của con  người và coi trọng nhân tố xã hội-lịch sử.

Về sau, thuyết môi trường khả năng đã lan rộng ra Mĩ và khắp thế giới và đặc điểm chung của những người theo thuyết này là nhấn mạnh tầm quan trọng của lịch sử và truyền thống. Họ không cho rằng môi trường tự nhiên là nguyên nhân của mối quan hệ nhân quả mà cho rằng môi trường chỉ dừng lại ở mức độ chế ước đặc tính văn hóa. Ngay cả các học giả theo thuyết môi trường quyết định cho dù ít ỏi cũng có người thừa nhận tác dụng tương hỗ của phía con người và không có nghĩa là họ bỏ qua hoàn toàn tác động từ phía con người. Từ ý nghĩa này có thể thấy cả thuyết môi trường quyết định và thuyết môi trường khả năng đều là một dạng thức của học thuyết về môi trường và có thể nói nếu như suy nghĩ theo Ratzel và Balache thì Balache đã chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố lịch sử và bổ sung sự thiếu sót của Ratzel.

Đặc biệt vào thập niên 70 trở đi cùng với vấn đề môi trường toàn cầu, sự khan hiếm tài nguyên, một bộ phận của môi trường trở nên được chú ý. Các nước là nơi sản xuất dầu mỏ, quặng sắt đã tăng cường sức ảnh hưởng của mình đối với những quốc gia phải nhập khẩu sản phẩm  này. Một khi con người không thể tạo ra vật chất từ số không thì chuyện những tài nguyên cần thiết cho xã hội hiện đại có ảnh hưởng xã hội là đương nhiên. Thêm nữa, sự ô nhiễm môi trường do ảnh hưởng từ hoạt động của con  người đã tác động đến chính cuộc sống con người. Khi nhìn từ quan điểm toàn cầu như vậy cũng có thể chúng ta sẽ lại đặt ra câu hỏi đối với trào lưu coi thuyết môi trường quyết định như là điều cấm kị và nghiêng về thuyết môi trường khả năng.
Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môi Xã hội”, Gyosei, 2000