Team Teaching


Định  nghĩa và kĩ năng

 

Team teaching (từ đây sẽ viết tắt là TT) là phương pháp giáo viên tổ chức thành đội, chỉ đạo học sinh dưới sự hợp tác và liên kết. Ở đó tổ chức đội ngũ giáo viên với trung tâm là môt số giáo viên cùng cấu trúc  tập đoàn  học tập có tính mềm dẻo tương ứng mục đích học tập trở thành trụ cột. Đội giáo viên thông thường được tổ chức bởi 2 giáo viên trở lên nhưng những năm gần đây có cả sự tham gia của những người ở bên ngoài. Tập đoàn học tập được tạo thành một cách mềm dẻo tương ứng với yêu cầu và mục đích của cá nhân, nhóm hay toàn thể khối lớp. Sự kết hợp đó sẽ tạo ra rất nhiều hình thái như: (1) TT trong nội bộ lớp, (2) TT trong khối lớp, (3) TT giữa các môn giáo khoa khác nhau, (4) TT giữa các khối lớp khác nhau.

Cách thức phân công vai trò của đội giáo viên  được phân ra thành trường hợp ở đó giáo viên chính (main teacher) tiến hành giờ hành giờ học còn giáo viên phụ (sub-teacher) tiến hành chỉ đạo cá nhân và trường hợp phân công vai trò tùy theo vẫn đề học tập với các course hoặc mối quan tâm, hứng thú của học sinh.

TT có các lợi thế sau.

(1) Nhờ sự tham gia của nhiều giáo viên mà việc chỉ đạo chi tiết đối với từng học sinh ứng với sự chênh lệch của từng người (tốc độ học tập, mức độ học tập, hứng thú, quan tâm) có thể tiến hành.

(2) Nhờ việc phát huy tính chuyên môn của từng giáo viên và bổ túc lẫn nhau mà cải thiện được nội dung và phương pháp giờ học, nâng cao chất lượng giờ học.

(3) Thông qua con mắt của nhiều giáo viên, sự đánh giá học tập, lý giải ở học sinh sẽ trở nên đa chiều, đa diện.

(4) Học sinh có điều kiện trải nghiệm học tập trong tập đoàn học tập với nhiều giáo viên, tiếp nhận giờ học từ nhiều giáo viên.

(5) Trong quá trình xây dựng giờ học, tiến hành thực tiến và đánh giá sẽ tạo ra mối quan hệ cùng học hỏi giữa các giáo viên trong đội.

  

Trường học mở và sự mở rộng khái niệm “team”

Ở Nhật Bản TT được giới thiệu và tiến hành trong thực tiễn bắt đầu từ nửa đầu thập niên 60. Về sau  nó vẫn được tiếp tục và những năm gần đây TT được khuyến khích mạnh mẽ với tư cách nhưa là một sự cải thiện phương pháp chỉ đạo ứng với cá nhân. Bộ giáo dục vào năm 1993 đã tiến hành gia tăng số giáo viên thuộc TT nhằm “triển khai giáo dục tương ứng với cá nhân với sự công phu về phương pháp chỉ đạo”. Thêm nữa, tiếp nhận bản báo cáo  của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ướng lần thứ 15, bản Hướng dẫn học tập công bố năm 1998 cũng khuyến khích TT.

Điều đáng chú ý ở đây là mối quan tâm đến TT dâng cao xuất phát từ quan điểm xây dựng “trường học mở” và sự mở rộng của khái niệm “team”.Thông thường, TT có tiền đề là đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên trong bản Hướng dẫn học tập mới lại gợi ý rằng ngoài giáo viên các thành viên dân sự khác cũng có thể tham gia TT. Ví dụ như trong “Giải thích tổng thể về bản Hướng dẫn học tập” có viết “trong thời gian “học tập tổng hợp” “không chỉ giáo viên mà cũng có trường hợp tiến hành chỉ đạo dưới hình thức  TT với sự hợp tác của phụ huynh, nhà chuyên môn sống ở địa phương, cần phải tạo ra thể chế chỉ đạo bao gồm cả hình thức như thế”.

Sự du nhập của TT đã biến giáo dục có khả năng trở thành giáo dục trong mối quan hệ con người đa dạng, thêm nữa, nhờ vào sự mở rộng  khái niệm “team”, TT sẽ đảm nhận thêm chức năng cải biến, sáng tạo văn hóa trường học trong mối quan hệ con người đa dạng không chỉ bao gồm giáo viên mà còn có cả những người dân thường.

 Quan điểm sử dụng TT và vấn đề đặt ra trong môn Xã hội

 

Trong chỉ đạo học tập môn Xã hội, việc sử dụng TT từ các quan điểm sau sẽ có hiệu quả.

 

(1) Sử dụng nó với tư cách như là sự ứng phó  với chỉ đạo học tập tổng hợp, cheo chiều ngang, chỉ đạo học tập mang tính tích hợp các môn học về chủ đề nhất định. Ví dụ như học tập về môi trường sẽ có nội dung mở rộng ở nhiều môn giáo khoa như Khoa học, Thể dục, Gia đình với trung tâm là môn Xã hội. Ở trường tiểu học từ các lớp giữa trở lên việc chỉ đạo học tập tích hợp các môn trở nên dễ dàng hơn và có thể đưa vào TT. Thêm nữa trong bối cảnh đòi hỏi học tập tổng hợp, học tập theo chiều ngang, việc tiến hành TT đối với các môn học khác nhau nhằm phát huy tính chuyên môn ở trường trung học cơ sở và trung  học phổ thông cũng được trông đợi.

(2) Sử dụng nó từ quan điểm đặc trưng cách học của môn Xã hội.

– Trường hợp điều tra dã ngoại: việc học tập môn Xã hội dựa trên hai trụ cột là “suy luận và điều tra”. Việc học từ việc quan sát, nghe, tiếp xúc, cảm nhận hiện tượng xã hội là phổ biến và ở đó có thể  sử dụng TT với sự tham gia của người dân địa phương. Bên cạnh đó khi tiến hành điền dã, điều tra thực địa, TT có thể tiến hành theo nhóm hay hoạt động cá nhân tùy theo nội dung và phương pháp. TT cũng hữu ích cho việc nắm bắt tình hình học tập và đảm bảo an toàn.

– Trương hợp thu thập tư liệu, tài liệu: trong “Điều tra” có cả hoạt động thu thập thông tin, tài liệu ở thư viện, bảo tàng, phòng tư liệu. Trong hoạt động học tập của bản thân học sinh, năng lực thu thập, tuyển chọn thông tin sẽ được đặt ra và việc chỉ đạo học tập có thể được tiến hành với sự tham gia của nhân viên bảo tàng, nhân viên thư viện…

Ngoài ra, khi thực hiện TT cần phải lưu ý mấy điểm sau.

(1) Cần phải có mối quan tâm và cái nhìn toàn thể. Để vận dụng hiệu quả và phát huy chức năng của TT, từng giáo viên không được đóng kín trong lớp học, khối lớp, môn học mà mình phụ trách mà phải có mối quan tâm và cái nhìn tổng thể đối với chương trình và sự điều hành của tổ chức và việc tham gia vào thể chế điều hành của giáo viên cũng rất quan trọng. Đặc biệt, ở trường THCS và THPT nơi có chế độ giáo viên chủ nhiệm rất cần có sự liên kết giữa các môn học khác nhau.

(2) Cần phải có  kế hoạch trước khi đưa vào TT. Để tạo ra hiệu quả thì việc xem xét, nghiên cứu trước mục tiêu, phương pháp, địa diểm, thời gian sử dụng TT là cần thiết.

Thêm nữa, một khi tổ chức dạy nhóm với sự tham gia của các nhà chuyên môn, người dân mở rộng thì đội ngũ giáo viên cũng phải đảm bảo.

– lực lượng giáo viên với tư cách như là người cộng tác lập kế hoạch và trao đổi về TT. Cần phải trao đổi trước về những vấn đề như TT sẽ được dùng trong những tình huống nào của giờ học, dưới hình thức nào, có vai trò như thế nào.

– Lực lượng phát huy điểm mạnh của người dân, nhà chuyên môn trong giờ học. Ví dụ như việc sử dụng từ ngữ thích hợp với học sinh. Việc học sinh lắng nghe giáo viên trong giờ học và đưa ra câu hỏi có vai trò rất quan trọng.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)