Tái trải nghiệm

Nhận thức mang tính tinh thần của con người= lịch sử

Paul Hirst trong luận văn có tên “Tự do giáo dục và hình thức của tri thức” đã thử tiến hành phân tích về hình thức của tri thức trong mối liên quan với các chủ đề quyết định nội dung giáo dục. Về sau, sau nhiều lần chỉnh sửa hình thức của tri thức đã được xác định bởi  tâm lý học hình thức và số học, khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn, lịch sử, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, triết học, đạo đức…

Tuy nhiên ở đây sẽ khu biệt giữa khoa học nhân văn và lịch sử. Khoa học nhân văn nói tới ở đây là khoa học xã hội nhằm vào các hiện tượng xã hội và hiện tượng tâm lý con người với phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên. Mặt khác, lịch sử được coi là hình thức của tri thức độc đáo nhằm mục đích nhận thức và lý giải của tinh thần con người.

Phương pháp nhận thức lịch sử

Triết học lịch sử coi trọng tính đặc trưng và tính tự lập của nhận thức lịch sử  đã thử nghiệm xem sự lý giải tinh thần của con người có khả năng như thế nào. Đó là “đồng cảm” hay “sự di động tình cảm” do Smith và Simmel đề xướng , “tái trải nghiệm”, “lý giải” của Weber.

Những đề xuất đó đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa phương pháp của khoa học tự nhiên và phương pháp lịch sử. Tức là, khác với nhận thức của khoa học tự nhiên vốn nhắm tới các quy luật tổng quát và sự phát hiện về lý luận, nhận thức lịch sử  là sự lý giải tính đặc trưng của sự kiện chỉ diễn ra một lần và mang tính chất đơn lẻ của quá khứ. Thêm nữa, họ cũng cho rằng các phương pháp như quan sát, thực nghiệm, phân loại cũng không thể khám phá bản chất sự thật lịch sử chỉ khi nào tái cấu trúc ý đồ, mục đích bên trong hành vi của con người tạo nên sự thật lịch sử đó thì khi ấy mới có thể có được sự lý giải về sự thật.

Quan điểm như vậy đã nhận được sự tán thành của những người cảm nhận được giới hạn của việc nghiên cứu lịch sử hay xã hội bằng phương pháp của khoa học tự nhiên. Ngay cả trong giáo dục lịch sử phương pháp luận về “lý giải”  đã được chú ý từ rất sớm xuất phát từ tầm quan trọng trong ý nghĩa giáo dục hình thành con người. Tức là, nhận thức lịch sử do tồn tại dựa vào trải nghiệm và năng lực tư duy của chủ thể nên sự phong phú của trải nghiệm và tư duy sẽ làm nhận thức lịch sử trở nên sâu sắc và ngược lại nhận thức lịch sử cũng sẽ làm cho tư duy và trải nghiệm của chủ thể thêm phong phú. Vì vậy, việc nhận thức lịch sử có quan hệ mật thiết với nhận thức bản thân. Do đó, việc học tập lịch sử là việc người học tự giác về bản thân mình, đặt vị trí của bản thân mình trong thế giới lịch sử, mở rộng trải nghiệm và tư duy của bản thân, biết về bản thân trong mối liên quan toàn thể của quá khứ-hiện tại và tương lai.

Vì thế, quá trình nhận thức lịch sử của sử gia và quá trình nhận thức lịch sử của người học trong giáo dục lịch sử không  phải là hai thứ khác biệt. Thêm nữa, quá trình nhận thức lịch sử cũng là quá trình hình thành con  người. Do đó, trong giáo dục lịch sử sự thống nhất của mục đích, nội dung, phương pháp là điều mong đợi.

Tuy nhiên, phương pháp “lý giải” chỉ dừng lại ở nhận thức trực cảm hay nhận thức chủ quan mang tính phương pháp luận và nó bị phê phán là thông qua nó chưa thể đạt được nhận thức khoa học. Tức là với tư cách là phương pháp nhận thức lịch sử những thứ như “đứng trên lập trường của đối phương”, “trở thành đối phương” chưa vượt thoát khỏi cái khung đơn giản. Kết quả là trong cả các thực tiễn giờ học môn Xã hội của Nhật Bản thì “lý luận đồng cảm” từng một thời thịnh hành nhưng nó chưa thể định hình thành phương pháp học tập lịch sử.

 

Tính khả năng mới của tái trải nghiệm

Nhà triết học lịch sử người Anh, Collingwood, R.G  đã xác lập hệ thống triết học lịch sử lấy trung tâm là lý luận “tái trải nghiệm”  nhằm giải quyết vấn đề phương pháp nhận thức lịch sử. Nếu như kết hợp tổng thể khái niệm của Collingwood với các khái niệm siêu việt khác như “lịch sử tư duy”, “lịch sử hiện tại”, “quá khứ đã sống”, “lịch sử học với tư cách là một khoa học” và “tái trải nghiệm” sẽ tạo nên cơ cấu “nguyên lý nhận thức lịch sử mang tính tái trải nghiệm”. Nếu như định thức hóa “nguyên lý học tập lịch sử mang tính tái trải nghiệm” dựa trên nó, chúng ta sẽ có kết quả sau. Học tập lịch sử tái trải nghiệm được xúc tiến tuân theo quá trình nhận thức lịch sử với 7 giai đoạn : (1) Hình thành giả định, (2) nảy sinh vấn đề, (3) điều tra, khám phá dự bị, (4) Làm rõ vấn đề, (5) nắm được mặt bên ngoài của hành vi lịch sử, (6) nhận thức mặt bên trong hành vi lịch sử, (7) đánh giá về quá trình tìm kiếm và thiết lập vấn đề mới. Vấn đề ở đây là “nhận thức bên trong hành vi lịch sử” gọi là nhận thức cố hữu của lịch sử sẽ trở nên có khả năng như thế nào? Trước hết, là việc lần ngược trở lại sự xác lập từng bước “nguyên lý học tập lịch sử trải nghiệm”. Tiếp theo đưa ra “5 câu hỏi” và dựa vào  căn cứ  đó để tự mình trả lời.

– Người có hành vi lịch sử đó đã có mối quan tâm, động cơ như thế nào?

– Người có hành vi lịch sử nằm trong bối cảnh như thế  nào? Làm thế nào để tiếp cận được bối cảnh đó.

– Trong bối cảnh đó có những sự lựa chọn nào?

– Hành vi được lựa chọn có phải là sự lựa chọn tốt nhất không?

– Mục đích của hành vi lịch sử được lựa chọn là gì?

Việc học tập về hành  động tư duy của người có hành vi lịch sử nhờ phương pháp nhận thức lịch sử tái trải nghiệm mà trở nên có thể và có ý nghĩa lý luận như sau.

Người học thông qua học tập lịch sử trải nghiệm mà đảm bảo hoạt động tìm kiếm câu trả lời, cấu tạo lại  thế giới lịch sử  bên trong quan niệm của bản thân, nó không chỉ là quá trình tư duy của người có hành vi lịch sử mà  còn có thể cung cấp cơ hội phê phán, đánh giá chính bản thân mình về hoạt động học tập của bản thân. Cũng giống như vậy, học tập lịch sử bằng tái trải nghiệm  cùng với việc biến nhận thức tinh thần của con người trở thành thứ có thể đồng thời làm cho ý nghĩa lý luận học tập bằng “lý giải” được công nhận. Từ giờ về sau, cần phải  nghiên cứu tích cực với tư cách phương pháp luận mới của học tập lịch sử.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)